Tuyển chọn các baì soạn mẫu Phân tích bài thơ “Phản chiêu hồn” mới nhất

Văn mẫu:Phân tích bài thơ “Phản chiêu hồn” được tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu lớp 9 hay dành cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết môn ngữ văn 10 sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo chi tiết và tải về tại đây nhé.

Phân tích tác phẩm Phản chiêu hồn- số 1

Bài thơ “Phản chiêu hồn” là một bài thơ có tứ độc đáo. Sự lưu truyền của bài thơ mấy trăm năm qua đã khẳng định giá trị tư tưởng và nghệ thuật của nó. Bài thơ giàu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo cao cả.

Khuất Nguyên là nhà thơ yêu nước vĩ đại của Trung Quốc thế kỷ IV trước Công nguyên. Thời đại Khuất Nguyên sống được gọi là thời Chiến Quốc, khi mười hai nước lớn thời Xuân Thu đã hợp thành bảy nước lớn hơn tranh giành quyền binh, đánh lẫn nhau để rồi đến năm 221 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng thôn tính tất cả, thống nhất Trung Quốc lập ra nhà Tần. Nước Sở, Tổ quốc của Khuất Nguyên từng là xứ sở hùng mạnh nhưng lúc đó bắt đầu suy vong. Sở Hoài Nguyên lúc đầu trọng dụng Khuất Nguyên do tài năng và dòng dõi của ông, sau khi bọn gian thần gièm pha, vì những cải cách chính trị của ông đề ra ngày càng mâu thuẫn với quyền lợi của bọn chúng. Khuất Nguyên bị Sở Hoài Nguyên ruồng bỏ, thậm chí bắt ông đi đày xuống phương Nam. Suốt những năm phiêu bạt, Khuất Nguyên vẫn một lòng trung thành với lý tưởng của mình, hướng về nhân dân, đất nước. Năm 287 trước công nguyên, Sính Đô là kinh thành nước Sở bị quân Tần đánh chiếm và tàn phá, nước Sở trước nguy cơ bị diệt vọng, Khuất Nguyên tuyệt vọng, ông nhảy xuống sông Mịch La tự vẫn. Tống Ngọc, một danh sĩ thời Chiến Quốc, học trò của Khuất Nguyên thương thầy mà gọi hồn về, đó là quan điểm tôn sư trọng đạo. Nguyễn Du viết bài Phản Chiêu hồn không phải chống lại Tống Ngọc thương thầy gọi hồn về. Nguyễn Du cũng xuất phát từ lòng thương vô hạn đối với Khuất Nguyên nhưng lại ở khía cạnh khác.

Khuất Nguyên để lại nhiều tác phẩm thơ ca bất hủ như Ly Tao, Thiên vấn, Cửu chương, cửu ca… Đó là những tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật và tư tưởng lớn, thể hiện tinh thần yêu nước và tâm hồn cao đẹp của Khuất Nguyên, trở thành mẫu mực của văn học qua nhiều thời đại về sau.

Nguyễn Du đồng cảm với Khuất Nguyên vì hai ông đều có những hoàn cảnh bất đắc chí. Sự thối nát của xã hội thời Khuất Nguyên có khác gì sự mục ruỗng của chế độ phong kiến cuối thế kỷ XVIII thời Nguyễn Du sống. Đây là sự đồng cảm tâm hồn của hai nhà thơ lớn cách nhau hai nghìn năm. Có thể nói chỉ có thiên tài Nguyễn Du mới viết được bài thơ sâu sắc cả giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo như bài “Phản chiêu hồn”.

Theo Nguyễn Du cái xã hội hiện thời đã trở nên xa lạ, dù là một mảnh hồn cũng không một chốn dung thân. Theo Nguyễn Du thì Khuất Nguyên cao khiết quá, trong sáng quá đến nỗi không có người tri kỷ, đồng hành. Bài Phản Chiêu Hồn đề cập đến một số vấn đề lớn của xã hội với mong muốn hồn Khuất Nguyên không nên trở về. Vì trở về nơi không xứng đáng với tấm lòng trong sạch của Khuất Nguyên.

Hồn ơi! Hồn ơi! Sao không về?

Đông,Tây,Nam, Bắc không có nơi nào nương tựa đâu!

Lên trời, xuống đất đều không được

Về đất Yên đất Dĩnh mà làm gì?

Thành quách vẫn như cũ, nhưng nhân dân đã khác rồi,

Bụi bay mù mịt bẩn cả quần áo.

Nguyễn Du đã miêu tả lại cảnh tượng hiện nay nơi đất nước Khuất Nguyên từng sống, thật bi đát và tang thương. Trước hết là bọn cầm quyền sống xa hoa, cậy quyền, ỷ thế, ra đường thì vênh vang xe ngựa, về nhà thì vỗ ngực đứng ngồi bàn tán tự coi mình là bậc cao nhân, tài đức thời thịnh như Nghiêu Thuấn. Nhưng lột cái vỏ bề ngoài của chúng đi thì bên trong là nọc độc, nanh vuốt, cắn xé người ngọt xớt…

Họ đi ra ngựa ngựa xe xe, họ ở nhà vênh vênh váo váo

Đứng ngồi bàn tán tựa như ông Cao, ông Quỳ.

Hồn không thấy mấy trăm châu ở Hồ Nam đó sao?

Chỉ có những người gầy gò, không ai béo tốt.

Những loại người này không phải chỉ có số lượng ít, chúng ở khắp nơi khắp chốn. Tiếp đến đối lập với chúng là những dân đen mà Khuất Nguyên yêu mến, bảo vệ. Họ cũng khác xưa ở sự nghèo khổ suốt miền Hồ Nam toàn những người gầy gò, chẳng có ai béo tốt. Họ đang sống trong cảnh bị thống trị đã mất niềm tin và ngột ngạt, nếu Khuất Nguyên có trở về thì họ cũng cho ông không hiểu gì cả.

Một xã hội đen tối như thế, chỗ nào cũng thấy Thượng Quan và ở đâu trên mặt đất cũng là sông Mịch La. Nếu Khuất Nguyên trở về có thể coi là lỗi thời. Vì sau thời Tam Hoàng không còn tồn tại cách sống trung nghĩa! Nếu hổ báo trên rừng không ăn thịt thì cá dưới nước cũng rỉa xác đến chết.

Với những hình ảnh miêu tả chân thực Nguyễn Du đã làm hiện hình một xã hội Trung Quốc đen tối, ngột ngạt, thối nát. Bọn thống trị thì hiểm độc, nhân dân thì đói khổ, người sống trung nghĩa thì bế tắc. Phản Chiêu hồn chính là bài thơ trùm đắp cái buồng uất âm ỉ thành nộ khí gây nên sấm chớp bão bùng của sự phản kháng cao độ, phủ nhận cuộc đời đang sống một cách không thương tiếc.

Nhà thơ đã nhắc nhở hồn Khuất Nguyên tới hai từ Thượng Quan và Mịch La, vốn là hai danh từ riêng chỉ con người và một địa điểm cụ thể rất cá biệt. Nhưng đối với Khuất Nguyên và người cùng thời thì Thượng Quan là một quyền thần xu nịnh, gian ác nổi tiếng. Nó có mặt ở mọi xó xỉnh cuộc đời. Còn Mịch La là nơi đã chôn vùi một cách oan nghiệt tài năng của một con người trung nghĩa. Đó là dòng sông mang đầy uất hận… Nhưng cả hai cái danh từ cá biệt này đã trở thành phổ biến thì nhan nhản trong cuộc đời, trùm lên hết thảy mọi chốn mọi nơi:

“Đời sau ai cũng là Thượng Quan

Mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La”

Ông đã khẳng định với hồn Khuất Nguyên rằng, trong xã hội tràn ngập mọi nơi những Thượng Quan và Mịch La thì bi kịch người trí thức như Khuất Nguyên là không thể tránh khỏi, là mang ý nghĩa phổ biến.

“Cá rồng không ăn, hùm sói cũng ăn”

Bi kịch đã dành sẽ là phổ biến, nhưng còn tình trạng bế tắc về lý tưởng như Khuất Nguyên cũng là thường tình, cho nên Nguyễn Du thương người mà kêu lên những lời băn khoăn, da diết:

“Hồn ai! Hồn ai! Hồn làm thế nào?”

Như một câu hỏi đặt ra trước vận mệnh một con người còn sống, không thể trả lời!

Từ số phận và hoàn cảnh của Khuất Nguyên, với bốn câu thơ kết thúc, Nguyễn Du đã khái quát nâng lên thành những số phận, cảnh ngộ phổ biến, bao quát cả không gian và thời gian. Do vậy ý nghĩa phê phán sự xấu xa độc ác trong xã hội phong kiến ở thời đại Nguyễn Du và ở Trung Quốc và Việt Nam đều có ý nghĩa sâu sắc.

Nhà văn Lỗ Tấn sau này, đã nhiều lần gọi xã hội Trung Quốc là xã hội ăn thịt người. Nhưng trong Phản Chiêu hồn có hiện lên bằng những hình ảnh cụ thể gây ấn tượng rất mạnh. Phản Chiêu hồn là bài thơ Nguyễn Du viết về Khuất Nguyên với những tên đất, tên người của một thời quá khứ. Bằng những chuyện nước người, nhưng nỗi đau bi phẫn, căm giận thì không phải lấy ra từ sách vở hoặc qua suy ngẫm mà bắt nguồn từ lòng nhân ái, từ sự yêu thương sâu sắc đối với những con người trung nghĩa phải sống trong cái xã hội bản chất là ăn thịt người của nó.

Bài Thơ phản văn chiêu hồn như một nỗi niềm tâm trạng sâu kín của nhà thơ. Ông không chỉ xót thương cho Khuất Nguyên mà xót thương cho chính mình và những vị quan thanh liêm nhưng sống trong xã hội thối nát, bế tắc đến cùng đường.

 

Phân tích tác phẩm Phản chiêu hồn- số 2

Trong tập thơ Bắc hành tập lục của Nguyễn Du có nhiều bài thơ đặc sắc được ông sáng tác trên đường đi sứ sang Trung Quốc. Đặc biệt trong tác phẩm có những bài thơ ông viết về Khuất Nguyên mọt người hiền tài ớ thời nước sả xa xăm của Trung Quốc vì nghĩa khí, yêu nước, thương dân mà phải hủỵ mình trên sông Mịch La. Trong những bài thơ bộc lộ cảm xúc của ông vế Khuất Nguyên thì Phản chiêu hồn là bài thơ tiêu biểu nhất.

Trước hết ta cần hiểu về đầu đề tác phẩm Phản chiêu hồn nghĩa là “Chống bài chiêu hồn”. Bài Chiêu hồn vốn là bài thơ của Tống Ngọc, người sống cùng thời với Khuất Nguyên thời cổ đại trước công nguyên). Tống Ngọc thương Khuất Nguyên hồn phách sắp tiêu tan bèn làm bài Chiếu hồn để gọi hồn Khuất Nguyên về cho hồn được sống lâu thêm. Nguyễn Du làm bài Phản chiêu hồn là để phản bác lại ý ấy, khuyên hồn không nén trớ lại cõi trần đang đầy rẫy quan lại gian ác. Như vậy ta thấy cả Nguyễn Du và Tống Ngọc đều muốn phục và thương tiếc Khuất Nguyên, nhưng một người thương muốn gọi hồn về để sống lâu hơn, một người thương nên khuyên hồn dừng trở vế vì xã hội quá xấu xa, nhiều kẻ gian ác, không nên luyến tiếc làm gì. Chống lại việc gọi hồn Khuất Nguyên của Tống Ngọc, Nguyễn Du ngầm muốn tố cáo xã hội lúc bấy giờ.

Trước hết bài thơ mang ý nghĩa tố cáo hiện thực thật sâu sắc. Xã hội nước Sở như đang hiện ra trước mắt ta. Đó là một đất nước mà bọn quan lại thì chỉ biết xu nịnh để được hưởng lợi, còn vua chúa thì nhu nhược chỉ biết nghe lời đàm tấu, không biết trọng kẻ hiền tài. Đất nước ấy không có chỗ đứng cho người trung nghĩa như Khuất Nguyên:

Đông, Tây, Nam, Bắc không có nơi nào nương tựa
Cả lên trời xuống đất điều không được,
Về đất yên đất vĩnh mà làm gì.
Khắp phương trời không chỗ tựa nương
Lên trời xuống đất hết đường
Mà thành Yên Dĩnh chớ mường để chân

Vì yêu nước thương dân, muốn cải tiến đất nước để làm cho dân giàu nước mạnh mà Khuất Nguyên lại bị cách chức, bị đày ải đến nồi ức lòng phải tự tử trên sông Mịch La. Cái chét ấy đã làm cho bao người thương xót. Nguyễn Du cũng cảm phục con người ấy, nhưng ông lại không muốn chiêu hồn Khuất Nguyên như Tống Ngọc. Bởi ông thấy rất rõ là người đã đổi khác “Thành quách đô thị nhân dân phi”. Cái xã hội thời ấy quá sâu xa, không còn ai biết đen điều trung nghĩa biết lo chuyện ích nước lợi dân.

Bọn thống trị chỉ biết lo cho mình, chỉ biết thu vén cho cuộc sống riêng tư. Họ đi ra ngựa ngựa xe xe, họ ở nhà vênh vênh váo váo, đừng ngồi bàn tán tựa như ông Cao, ông Quỳ “đối với chuyện nước nhà bọn chúng thực hiện bằng những lời khoác lác, không ai chuyên tâm phụng sự”. Những cái thâm độc nhất của những kẻ ấy là “không để lộ vuốt nanh và nộc độc” mà lại “cắn xé” người thật ghê gớm.

Họ ngoài mặt không thò nanh vuốt
Cấu xé người nhai nuốt ngọt ngon.

Lời thơ mang ý nghĩa tố cáo cao giúp ta thấy rõ bàn chất xấu xa bỉ ổi của bọn quan lại. Nhưng kẻ cai trị dân, làm nhiệm vụ “lo cho dân” mà lại để dân khốn đốn, gầy còm xơ xác. Hình ảnh những người dân ở Hồ Nam thời ấy được nhà thơ miêu tả rõ:

Hồn không thấy mây trăm châu ờ Hố Nam đó sao
Chỉ có những người gầy gò, không ai béo tốt.

Rõ ràng ở đây không còn ai nghĩ đên tình người. Tập đoàn phong kiến thống trị chỉ biết thực hiện uy quyền vơ vét, đàn áp nhân dân, không ai lo cho dân cả. Chính vì vậy những con người như Khuất Nguyên không thế nào sống cùng họ được và Nguyễn Du thấy rõ ý nguyện, con đường mà Khuất Nguyên đã vạch ra chỉ phù hợp ở thời Tam Hoàng thôi, có chăng là ở chuyện thần thoại, cổ tích còn bây giờ thì không ai màng tới nữa. Nếu bàn đến đường lối ấy chỉ làm cho người ta mỉa mai mà thôi. Đó là một hiện thực đau lòng. Vì vậy mà Nguyễn Du khuyên hồn Khuất Nguyên hãy trừ về cõi “Thái hư” ông còn nhìn thấy một viễn cảnh không mấy gì tốt đẹp. Xã hội này rồi mọi người sẽ đều là Thượng Quan, người hiền tài rồi sẽ như Khuất Nguyên “dòng chảy Mịch La ở khắp nơi”. Kết thúc bài thơ là lời tố cáo hiện thực đau thương, cả một màn trời u ám, Hồn Khuất Nguyên mà về sẽ chẳng biết nương tựa vào đâu.

Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan
Đại địa xứ xứ giai Mịch La,
Ngư dòng bát thực, sai hổ thục,
Hồn hề! Hồn hề! Nại hồn hà?

Câu thơ đối nhau làm nỗi bật ý muốn trình bày. Nó bổ sung cho nhau giúp ta hiểu rõ ý nhà thơ muốn nói. Mức độ tố cáo được thể hiện qua ngòi bút của tác giả. Rõ ràng Tố Như không chỉ nói đất nước sở và đời Khuất Nguyên, mà nhà thơ từ chuyện Khuất Nguyên đời trước lại muốn nói đến đời Sau – “hậu thế” – và cải đời sau này, cải xấu còn cao hơn “nhân nhân giai Thương Quan”. Ở trên cao nếu ai cũng là Thượng Quan, thì mặt đất “địa địa” đâu đâu cũng là sông Mịch La. Như vậy những người tốt như Khuất Nguyên không thể tồn tại. Họ không bị nạn này cũng sẽ gặp nạn khác “Cá sâu không ăn thì hùm sói cũng ăn”. Nhưng hình ảnh ấy mang giá trị tố cáo ngày càng cao, kết thúc bài câu hội được đặt ra càng làm xoáy sâu vào lòng người – “Hôn hé! Hồn hề! Nại hồn hà” Nó buộc mọi người phải cúi đầu suy nghĩ mà buồn, mà thương, mà đau mà uất hận cho cái xã hội mục ruỗng của chế độ phong kiến không phải thời Khuất Nguyên nữa mà là thời đại của Nguyễn Du. Bút pháp hiện thực sắc cạnh của tác giả đã biến lời kết thúc “Phản chiêu hồn” thanh bản cáo trạng danh tháp tố cảo xã hội đương thời.

Bài thơ viết về một đề tài lịch sử. Bi kịch của một nhà thơ yêu nước đã xảy ra hơn hai ngàn năm trước, mà câu thơ của Nguyễn Du vẫn tràn đầy cảm xúc. Điều đó chứng tỏ những điều Nguyễn Du viết trong bài thơ không phải là chuyện lịch sử mà là vấn đề của xa hội lúc ông đang sống, ở Trung Quốc và cả ở Việt Nam. Đây là một thời đại mà những bất công thối nát, bọn quan lại xu nịnh lộng quyền, bóc lột nhân dân… đang tràn ngập khắp nơi ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Những điều này đã làm cho trái tim nhân đạo của Nguyễn Du quặn đau. Tình cảm thương dân yêu nước như trào qua ngòn bút- Do vậy chống lại Chiêu hồn của Tống Ngọc, Nguyễn Du không những tố cáo xã hội Trung Quốc mà qua đó ông còn muốn phê phán, phơi bày lên một sự thực xấu xa của xã hội Việt Nam ta lúc bấy giờ. Là một vị quan đứng triều nhà Nguyễn phải có cái nhìn tiến bộ và lòng nhân đạo cao cả, Nguyễn Du mới thấy được những cái xấu xa thối nát của bọn quan lại trong triều, người tốt thì ít mà kẻ xấu thí nhiều, đang lộng hành khắp nơi. Điều này sẽ đưa đến thảm hoạ cho đất nước.

Tóm lại, với lối thơ chiêu hồn kết hợp bút pháp hiện thực độc đáo, Nguyễn Du đã bày tỏ sự căm giận của mình trong Phản chiều hồn. Đó là sự tích luỹ của cái trầm trầm, buồn uất, âm ỉ thành cài “nộ khi xung thiên, từ lòng xót thương”, yêu mến trân trọng một con người, một tài năng lớn của một thời đã xa, Nguyễn Du bày tỏ sự phản đối quyết liệt, sự phủ phận cao độ của mình đối với cuộc đời đang sống. Chính lòng căm phẫn, tinh thần phản kháng và lòng yêu thương con người ấy đã dồn vào tác phẩm văn chương vĩ đại. Nguyên Du đã để lại cho dân tộc những vần thơ “động đất trời” truyền mãi đời mai sau.

 

Phân tích tác phẩm Phản chiêu hồn- số 3

“Thanh Hiên thi tập”, “Nam trùng tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục” là ba tập thơ chữ Hán của thi hào dân tộc Nguyễn Du. Bao trùm lên hàng trăm bài thơ là một không gian bao la mênh mông, với bao nhiêu chuyện người, chuyện đời trong mấy nghìn năm lịch sử của Việt Nam và Trung Hoa với một tấm lòng, một cái nhìn nhân hậu, sâu sắc, đúng là “Biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như” như Tố Hữu đã viết.

   Bài thơ “Phản chiêu hồn” rút trong “Thanh Hiên thi tập” mang tính độc đáo như một bài bút chiến sắc bén, chứa chan tinh thần nhân đạo. Thi phẩm này được viết theo thể cổ phong, thất ngôn trường thiên, gồm có 20 câu. Bốn câu đầu nói với “hồn” đừng về nữa vì không còn đường về. Tám câu tiếp theo, nhà thơ nói với “hồn” về một thế giới đau thương: Nhân dân lầm than, cái ác ngự trị. Tám câu cuối khuyên “hồn” phải “sớm liệu chầu trời”, nếu trở về nước Sở lần nữa vẫn không thoát khỏi cái chết thảm khốc.

   “Hồn” được nói đến trong bài thơ là Khuất Nguyên, quan đại thần nước Sở, sống vào khoảng cuối thế kỉ thứ 4 đầu thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên. Ông để xướng nhiều cải cách tiến bộ nhằm phục hưng nước Sở, nhưng đã bị bọn gian thần gièm pha. Sở Tương Vương đã cách chức và đày ông ra đất Giang Nam. Ông đã nhảy xuống sống Mịch La tự tử. Sau khi Khuất Nguyên chết, Tống Ngọc thương tiếc làm bài “Chiêu hồn” gọi hồn Khuất Nguyên trở về nước Sở. Thi hào Nguyễn Du đã viết 5 bài thơ về Khuất Nguyên “mà bài nào cũng thấm thía” (Hoài Thanh). Tài trí tuyệt vời, tấm lòng thanh cao, tình cảm éo le của Khuất Nguyên đã được Nguyễn Du cảm nhận, chia sẻ với tất cả niềm kính phục và đồng điệu sâu sắc.

   Phần đầu bài thơ là một tiếng gọi hồn ai oán. Vừa ai oán vừa van xin. Câu cảm thán cũng là câu hỏi tu từ cất lên như tiếng khóc. Tống Ngọc gọi hồn Khuất Nguyên về làm gì nữa vì khắp 4 phương và 2 phía “lên trời xuống đất” không còn nơi nào cho hồn “nương tựa cả”. Hai chữ “hồn hề!” trong bài thơ chữ Hán điệp lại hai lần như liếng kêu xót thuơng não nùng:

"Hồn hỡi hồn sao không về chứ? 
Khắp phương trời không chỗ tựa nượng. 
Lên trời xuống đất hết đường
Mà thành Yên Dĩnh chớ mường để chân?"

   Thành Yên, thành Dĩnh đều thuộc nước Sở, nay là tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc. Thành Dĩnh là kinh đô nước Sở. Hồn đã tuyệt lộ, đã hết đường về. Ngay cả cố quốc, cố đô của Khuất Nguyên cũng chẳng còn đất cho hồn dung thân!

   Phần thứ hai, tám câu tiếp theo có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc. Nhà thơ nói với hồn những nguyên cớ thảm thương, ghê tởm đang diễn ra trên nước Sở.

   Thành quách vẫn như xưa. Bụi bay mù trời. “Trần ai” (bụi) là hình ảnh tượng trưng cho một thời loạn lạc, nhân dân đau khổ lầm than:

"Thành quách thế, nhân dân khác hản,
Bụi bay, trông nhơ bẩn ảo người."

   Hình ảnh bọn nịnh thần được đặc tả bằng những nét rất điển hình lột trần bộ mặt ghê tởm của chúng. Sống xa hoa trên xương máuy nhàn dân nước Sở: “ngựa ngựa xe xe”. Cơ hội, kiêu ngạo “vênh vênh váo váo”. Vô cùng tàn ác, tham lam nhưng đạo đức giả. Chúng chẳng khác nào lũ thú dữ ghê tởm:

"Vênh vang xe cộ lâu đài,
Đứng ngồi bàn tấn sánh vai Cao, Quỳ 
Họ ngoài mặt không thò nanh vuốt 
Cấu xé người nhai nuốt ngọt ngon"

   Cao, Quỳ là Cao Dao và Quỳ là hai vị quan giỏi thời Nghiêu, Thuấn xa xưa. Sự lên mặt, hợm hĩnh của bọn nịnh thần bị vạch trần qua một tỉ dụ: “Đứng ngồi bàn tán sánh vai Cao, Quỳ”. Chúng trở thành một loại người-thú rất đáng sợ “vuốt nanh, sừng và nọc độc” nhưng lại gian ngoan, xảo quyệt, lúc nào cũng giấu kín, “không để lộ” mọi thủ đoạn, hành động dã man: cắn xé thịt người, ngọt xớt như đường. Cấu trúc câu thơ bằng nghệ thuật tương phản để tố cáo bộ mặt xấu xa; thủ đoạn thâm độc, hành động tàn bạo của bọn quan lại, bọn quý tộc nước Sở đang trở thành kè thù của nhân dân. “Hồn” vốn thanh cao, trong sạch… làm sao có thể về nước Sở để cùng “sống” với bọn người-thú ấy được. Câu thơ với bao chi tiết hiện thực, với bao hình ảnh dữ dội, biểu thị cái yêu, cái ghét của Nguyễn Du mãnh liệt, chân thành, sâu sắc. Nội dung tố cáo hiện thực được miêu tả một cách hình tượng, hàm súc và gợi cảm. Cả một đất nước đau thương, cả một vùng quê rộng lớn xơ xác. Nhân dân bị áp bức và bị bóc lột đến tận xương tủy:

"Hồ Nam kia mấy trăm chòm 
Gầy còm xơ xác không còn thịt da!" 

   Hình ảnh bọn vua chúa thống trị, bọn nịnh thần và hình ảnh nhân dân được đặt trong thế đối lập đã làm nổi bật sự bất công, vô nhân đạo của một xã hội điêu linh suy tàn mà “hồn không chỗ tựa nương” nữa! Chống lại việc chiêu hồn, chống bài “Chiêu hồn” là do nguyên cớ như vậy.

   Tám câu cuối bài, giọng thơ đi vào chiều sâu tâm tình, khuyên nhủ. Có yêu thương quý mến mới có cách nói đồng tâm, đồng điệu như thế. Sau thời Tam Hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế(?) – xã hội lí tưởng, tốt đẹp ấy đâu còn, nếu hồn cứ khăng khăng trở về là “không còn hợp thời nữa” tất sẽ bị người “mỉa mai” chê cười và xa lánh. Hai tiếng “Hồn ơi!” một lần nữa lại được điệp lại, tiếng kêu vang càng trở nên tha thiết, cảm động: “Hồn ơi! Hồn ơi! Nếu theo đường đó thì sau Tam Hoàng, không còn hợp thời nữa…”

   Bọn Thượng Quan, Ngân Thượng không chỉ có vài ba người mà hầu như là tất cả. Trên mặt đất không chỉ có một con sông Mịch La mà tất cả mọi dòng sông đều là nơi trẫm mình của những con người đức hạnh, tài ba đang bị xô đẩy vào vòng bi kịch đau đớn. Có nỗi đau nào lớn hơn, quằn quại hơn khi thi hào Nguyễn Du viết:

"Đời sau họ Thượng Quan hết thảy 
Khắp nơi nơi dòng chày Mịch La". 

   Đâu chỉ có bọn nịnh thần Thượng Quan mà khắp mọi nơi trên nhân gian đầy rẫy cái ác và cạm bẫy giết người. Kết thúc bài thơ là một câu hỏi tu từ đầy ám ảnh. Tính chiến đấu và phê phán càng trở nên mạnh mẽ, sâu sắc:

"Cá không rĩa, hùm cũng tha 
Hồn ơi! Hồn hỡi! Biết là làm sao?"

   Câu thơ dịch khá hay, lột tả được hồn thơ nhưng chưa thật đầy đủ nghĩa so với nguyên tốc: “Ngư Long bất thực, sài hổ thực””Ngư Long” là cá, rồng, “sài hổ” là hùm, sói- hình ảnh tượng trưng cho cái ác, cho mọi thế lực dã man trên cõi đời! Nhận xét về bài thơ này, thi sĩ Xuân Diệu viết: Cái buổi chiều thu tê tái trong thơ chữ Hán đây, bỗng nhiên có sấm chớp mưa gió bão bùng, có bài “Phản chiêu hồn”, căm giận trên đầu tóc dựng”. Hầu như bài thơ nào viết về Khuất Nguyên, thi hào Nguyễn Du cũng đều chỉ ra “cái nọc độc” gây ra mọi đau khổ cho nhân dân:

"Hồn, nếu thật về, không chỗ ở, 
Rắn rồng quỷ quái khắp nhân gian" 
      (Tháng năm xem đua thuyền)

   Nhà văn Hoài Thanh nói lên cảm nhận mấy câu kết trong bài “Phản chiêu hồn “ở đây cũng như ở “Truyện Kiều “vẫn một cái nhìn rất bi đát và đầy phẫn uất đối với cuộc đởi. Nhưng ở đây cũng như ở “Truyện Kiều”, Nguyễn Du chưa nhìn rõ nguồn gốc sâu xa của mọi điều ngang trái”. – (Nguyễn Du, một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn)

   Phải chăng hạn chế ấy là hạn chế mang tính lịch sử và thời đại? Và người đọc mãi mãi muôn lần kính yêu Nguyễn Du.

   “Phản chiên hồn” viết về một nhân vật lịch sử, một đề tài lịch sử: Bi kịch của một nhà thơ yêu nước đã xảy ra hơn hai nghìn năm trước, thế mà kì lạ thay, câu thơ của Nguyễn Du vẫn tràn đầy xúc cảm. Không chỉ đất Yên đất Dĩnh, vùng Hồ Bắc, Hồ Nam nước Sở của Khuất Nguyên mà khắp đông, tây, nam, bắc “lên trời xuống đất” hồn “chớ mường để chân”. Không chỉ có một vài tên Thượng Quan tham lam tàn bạo và nham hiểm đó đây, những kẻ “cấu xé người nhai nuốt ngọt ngon”, mà còn đầy thú dữ, cá, rồng, hùm, sói…, không chỉ nhân dân ở mấy trăm chòm vùng Hồ Nam “gày còm xơ xác không còn thịt da” mà hàng triệu người đps đây đang quằn quại trong lầm than đau khổ! Điều đó chúng tỏ những điều Nguyễn Du viết trong bài thơ không phải chỉ là chuyện lịch sử mà còn là vấn đề của xã hội lúc ông đang sống, ở Trung Quốc và cả ở Việt Nam “những điều trông thấy mà đau đớn lòng..”

   Giá trị tố cáo hiện thực gắn liền với tinh thần nhân đạo bao la là cốt cách, là vẻ đẹp bài thơ “Phản chiêu hồn”. Nhà thơ gọi “hồn” nói với “hồn” không phải lý lẽ nhạt nhẽo và xơ cứng, trái lại bằng những chi tiết hiện thực, những hình ảnh mang ý nghĩa điển hình, vì thế tiếng gọi hồn mới trở nên thấm thía, xúc động. Các câu cảm thán, câu hỏi tu từ đan cài vào nhau, cùng xuất hiện ba lần trong bài thơ đã thể hiện niềm xót thương mênh mỏng, sự căm giận bốc lửa của một trái tim nhân đạo lớn.

   Đọc các bài thơ chữ Hán: “Quỷ Môn Quan”, “Sở kiến hành”, “Phản chiêu hồn”…, rồi đọc “Truyện Kiều”, “Văn chiêu hồn”, ta càng thêm kính yêu nhà thơ thiên tài của đất nước.

 

Phân tích tác phẩm Phản chiêu hồn- số 4

Bài thơ “Phản chiêu hồn” được rút trong tập thơ chữ Hán “Thanh Hiên thi tập” của Nguyễn Du. Bài thơ mang tính độc đáo như một bài chiến bút sắc bén, chứa chan tinh thần nhân đạo, tác phẩm này được viết theo thể cổ phong, thất ngôn trường thiên.

“Hồn” được nhắc đến trong bài thơ chính là Khuất Nguyên – quan đại thần nước Sở (cuối thế kỉ 4 đầu thế kỉ 3 TCN). Ông là người đề xướng lên nhiều cải cách tiến bộ nhằm phục hưng nước Sở nhưng đã bị bọn gian thần gièm pha. Ông bị cách chức và đày ra đất Giang Nam, ông đã tự tử ở sông Mịch La. Tống Ngọc là người vì thương tiếc cái chết của Khuất Nguyên mà làm bài “Chiêu Hồn” gọi Khuất Nguyên trở về nước Sở. Tác giả Nguyễn Du cũng đã cảm nhận được tài trí tuyệt vời, tấm lòng thanh cao và tình cảm éo le của Khuất Nguyên. Tác giả đã chia sẻ với tất cả niềm cảm phục và đồng điệu sâu sắc. Phần đầu bài thơ là tiếng gọi hồn vừa ai oán vừa van xin, cất lên như tiếng khóc:

“Hồn hỡi hồn sao không về chứ?…

Mà thành Yên Dĩnh chớ mường để chân?”

Thành Yên, thành Dĩnh đều thuộc nước Sở, nhưng hồn đã tuyệt lộ, đã hết đường về, dù cho cố quốc cố đô của Khuất Nguyên còn đó những cũng chẳng còn đất cho hồn dung thân. Tiếp theo, nhà thơ nói với hồn những nguyên cớ thảm thương, ghê tởm đang diễn ra trên nước Sở, có giá trị tố cáo hiện thực một cách sâu sắc:

“Thành quách thế, nhân dân khác hản,

Bụi bay, trông nhơ bẩn ảo người”.

Thành quách vẫn như xưa, nhưng hiển hiện lên là thời loạn lạc và nhân dân sống trong đau khổ, lầm than. Hình ảnh bọn ninh thần sống xa hoa trên xương máu của nhân dân, với vẻ kiêu ngạo, “vênh vênh, váo váo”. Chúng là một lũ tàn ác, tham lam và đạo đức giả, chẳng khác nào thú dữ ghê tởm.

“Vênh vang xe cộ lâu đài,…

Cấu xé người nhai nuốt ngọt ngon”.

Đoạn thơ đã vạch trần bộ mặt hợm hĩnh của bọn nịnh thần “Đứng ngồi bàn tán sánh vai Cao, Quỳ”. Chúng không khác gì loài thú đáng sợ “vuốt nah, sừng và nọc độc”, rất gian xảo, không để lộ mọi thủ đoạn và hành động dã man. Với nghệ thuậ tương phản đã tố cáo bộ mặt xấu xa, thâm độc và tàn bạo của bọn quan lại quý tộc nước Sở đang trở thành kẻ thù của nhân dân. Tác giả muốn nhấn mạnh rằng “hồn” vốn thanh cao và trong sạch như vậy, làm sao có thể về nước Sở để sống trong cảnh người – thú ấy được. Tám câu thơ cuối bài là những lời thơ tâm tình, khuyên nhủ, nếu “hồn” cứ khăng khăng trở về thì sẽ “không còn hợp thời nữa”, tất sẽ bị người đời chê cười, mỉa mai và xa lánh.

Có thể thấy, tác phẩm “Phản chiêu hồn” mang giá trị tố cáo hiện thực và gắn liền với tinh thần nhân đạo bao la. Nhà thơ đã gọi “hồn” và nói với “hồn” không phải những lí lẽ nhạt nhẽo mà là những hiện thực, điển hình, khiến cho tiếng gọi hồn trở nên thấm thía, xúc động. Bên cạnh đó, các câu cảm thán và câu hỏi tu từ sắp xếp đan cài vào nhau cùng xuất hiện ba lần trong bài thơ đã thể hiện sự căm giận bốc lửa của một trái tim nhân đạo lớn.

Nguồn: Tổng Hợp