Tuyển chọn bài soạn mẫu phân tích tác phẩm “Cáo bệnh, bảo mọi người” hay

Mãn Giác Thiền Sư là một cao tăng đức cao, đạo trọng và cũng là một vị thiền sư có tâm hồn và tài hoa của một nhà thi sĩ. “Cáo bệnh bảo mọi người” vốn là một bài thi kệ, một thể loại kinh kệ của Phật giáo, được sáng tác bằng chữ Hán (Cáo tật thị chúng). Bài thơ đã được Thiền Sư đọc cho đệ tử nghe khi ông lâm bệnh. Qua bài thơ người đọc có thể hiểu được một triết lí sâu sắc của Thiền môn, một quan niệm nhân sinh tích cực của tác giả.

Bài soạn “Cáo bệnh, bảo mọi người” số 1

Thời gian với lộ trình vô tận mà sự đổi thay là một thuộc tính bất di bất dịch, sự triển chuyển là cơ sở để có sự phát sinh và cả hoại diệt, sự tăng trưởng sinh sôi cũng đồng thời tàn tạ mỏi mòn. Quy luật là như thế và nền tảng của sự sống cũng như vậy. Bài thơ không còn dừng lại ở dấu ấn xưa nay của thi ca là ca ngợi miêu tả thuần túy một vẻ đẹp hay một cảm xúc bay bổng, đôi cánh cảm nhận mang màu sắc trí tuệ đã nâng lên những giá trị mang tính muôn thuở, một thế giới quan và hơn thế nữa nhân sinh quan sống động.

Xuân đi trăm hoa rụng. Một mệnh đề tưởng bình thường, chẳng có gì cao sâu, nhưng mấy ai cảm nhận và chấp nhận được.Ta vẫn đau lòng khi ai đó mất đi, vẫn hụt hẫng vì một sớm chia lìa hay một chiều tang tóc, ta biết sự đến đi là tất nhiên nhưng vẫn mong cho”thời gian dừng lại” hay “tuổi thơ quay về. Ta vô tình tự mâu thuẫn chí ít là với những hiểu biết cơ bản nhất của chính mình. Ở điểm này, câu thơ đã có giá trị cảnh tỉnh sâu sắc.

Xuân đến trăm hoa nở. Đây chính là sự tất nhiên mang tính vĩnh hằng. Vốn dĩ xưa nay con người chỉ muốn và mãi muốn thụ hưởng và chấp nhận những gì quy luật mang lại, hợp với chí hướng của mình, do đó mà có tâm lý vui khi xuân về hoa nở, buồn khi đông đến hoang liêu. Đâu biết rằng đông chính là nền tảng để một ngày xuân bừng dậy tinh khôi hào nhoáng. Không có đêm, làm gì có ngày, không có đông làm gì có mùa xuân, hiểu cả về mặt sự đối chiếu làm nổi bật và tính triết lý nền tảng.

Những nỗi đau càng chồng chất nỗi đau khi bên cạnh sự khắc khoải của thịt da, ta lại bồi đắp thêm sự xót xa tiếc nuối hay sợ hãi triền miên, thì tất yếu sự khổ đau càng gấp bội và đáng thương cho ai vẫn mong mỏi một điều không thật đó là trẻ mãi không già, sống hoài không chết,…

Vậy nên hoa nở và hoa rụng chẳng qua là một vòng quay, sự tuần hoàn tất yếu mà với cái nhìn biện chứng, tự nó không mâu thuẫn mà là hai mặt hữu cơ và bổ sung nhau. Và từ sự tổng quan rộng lớn, Thiền sư đã đưa về mảng thời sự tính, đó là thân phận con người, điều mà bất cứ ai cũng phải đối mặt:

Trước mắt sự qua mãi

Trên đầu già đến rồi.

Quy luật của trời đất vốn mang tính lạnh lùng và công bằng đến tuyệt đối. Khổng Lão Trang có quan điểm:

Thiên trường địa cửu hữu thời tận….

Thiên địa bất nhân…

Bất nhân ở đây chính là không thiên vị, nhân nhượng bất cứ ai, bất cứ điều gì. Đó là quy luật tự nhiên. Rồi một ngày có kẻ sĩ kiêm nhà hiền triết đất Trung Nguyên tiễn đưa bạn đời quá cố về miền vĩnh hằng với khúc Cổ bồn phiêu nhiên vô tư lự!

Bóng câu qua cửa sổ, giấc mộng kê vàng, đời người giấc mộng,… là những ý tứ người ta vẫn thường chỉ về sự đổi thay. Nhưng chẳng có gì nhanh, chẳng có gì chậm, mức độ vẫn bấy nhiêu, chẳng qua do con người áp đặt lên chúng bằng một thứ người ta quen gọi là thời gian tâm lý, do tiếc nuối sự đã qua, do mong mỏi kéo dài những gì tâm đắc:

Ngoài ba mươi tuổi duyên còn hết

Một ván cờ thua ngả bóng chiều

(Vũ Hoàng Chương)

Việc vẫn trôi qua đều đều, người cũng tuần tự già đi. Già bởi đã trải qua thời trai trẻ, và trẻ rồi cũng sẽ già, vết thời gian in đậm trên thân xác mỗi sinh linh, ta không thể chuyển dời, duy tâm ta thì có thể. Ta hiểu được cuộc đời, sống chung với sanh, già, bệnh, chết vô tư như một dòng triển chuyển tất nhiên, ta cứ lạc quan khi tuổi già gõ cửa, có thể làm được quá đi chứ!

Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành mai.

Con người chỉ nắm bắt hiện tượng đang diễn ra, và rồi cố chấp vào những ảnh hóa đó bằng tâm cứng đọng phi biện chứng. Sự cố chấp này chi phối cả thế giới tư duy và màu sắc cảm nhận của chủ thể. Khi Thiền sư nói “đừng bảo…” cũng có nghĩa, Ngài chỉ ra sự phiến diện của tư duy què quặt cố hữu của con người. Đó là những rối rắm nội tại phát sinh từ sự thiếu chân xác trong kiến quan hạn hẹp để rồi bao hệ lụy cũng từ đó phát sinh theo mô thức phản ứng dây chuyền trong thế giới hạt nhân phóng xạ.

Có thể nói câu thơ như một hình thức KHAI (mở), mang lại cái nhìn mới chân xác và thiết thực hơn cho các đối tượng. Đêm qua sân trước một nhành mai. Hãy thoát ly sự cố chấp đi, anh sẽ nhìn rõ hơn sự màu nhiệm của cuộc sống. Cành mai hôm nào, nay đã không còn và anh sẽ bảo chẳng có mai. Thiền sư không nói về cành mai cụ thể trong một thời điểm cụ thể đó, Ngài đang nói về cành mai “bất diệt”, cành mai bản thể (bản chất, nền tảng). Đây có thể gọi là phần “thị” (chỉ rõ) so với phần “khai” ở trên.

Về phương diện biện chứng học, chẳng có gì biến mất, chẳng có gì tự nhiên xuất hiện, chỉ có sự biến đổi từ dạng này sang dạng khác. Tôi tuy không phải là cha tôi nhưng cha tôi vẫn hiện hữu trong tôi mặc dầu ông ấy đã mất từ lâu, dị mà đồng, đồng mà dị. Biết rõ sự đổi thay là hiện tượng, sự miên viễn là vĩnh hằng, quy luật là việc của trời đất, tâm lý và thế giới tâm lý là của riêng ta. Sống chung với quy luật của trời đất là biết chấp nhận nó, hòa mình cùng nó trên lộ trình biến diệt vô thường mà ta không thể nào cưỡng lại được .

Một Thiền sư nhận định “Đối trước cái chết, điều khôn ngoan duy nhất mà con người có thể làm được là vui lòng chấp nhận nó”. Nhưng để đạt đến cấp độ tâm lý ấy thì thật sự phải có sự chuyển hướng tâm thức thuần thục theo chiều hướng trí tuệ. Một trong những tiêu chí của Thiền học là thâm nhập được vào thế giới vô thời trong thời gian và vô không trong không gian. Có thể hiểu nôm na là tâm không còn bị chi phối do cố chấp vào những giới hạn thường tình của thời gian và không gian, hai tiêu chuẩn để xác định sự tồn tại của một sự vật, hiện tượng.

Sự an nhiên tự tại trước cái chết (thị tịch) của Thiền sư biểu hiện cao độ, thay vì Ngài là nhân tố đáng thương hại, lại chính là nhân tố chủ động trấn an những đệ tử, những người vẫn đang khỏe mạnh trẻ trung. Đối diện sự ra đi, Ngài vẫn dõng dạc trong những Pháp kệ được Đường thi hóa, vừa mang giá trị nghệ thuật văn học, lại hàm dung triết lý sâu xa.

Cả một đời phụng sự Đạo Pháp, trải bao bài thuyết pháp độ sinh, nay, ngay cả trong giờ khắc còn lại ít ỏi trên cõi đời và đang đối diện cái mà con người kinh khiếp nhất (cái chết), Thiền Sư vẫn tự tại biến đó thành bài Pháp cuối cùng của đời mình và đã trở thành bài thơ bất hủ trên thi đàn dân tộc xưa và nay.

 

Bài soạn “Cáo bệnh, bảo mọi người” số 2

Ngược dòng thời gian, lật lại những trang sử hào hùng của dân tộc vào thời đại Lý Trần, một thời đại vàng son của tổ quốc, cũng là giai đoạn hưng thịnh nhất của đạo Phật.

Vào thời đại Lý Trần, Phật giáo được xem như là quốc giáo, từ vua quan đến dân chúng đều tu học theo giáo pháp của chư Phật, có được nhiều vị thiền sư chứng ngộ uyên thâm giữ gìn và truyền thừa giáo pháp của chư Phật. Thông thường, trước khi lìa bỏ xác thân, xa rời cõi đời huyễn mộng, chư vị thiền sư đều để lại cho đời một bài thi kệ, đấy là lời sách tấn cuối cùng, lời di huấn cuối cùng của quý Ngài đối với chúng đệ tử và cũng là thể hiện sự chứng đạt chân lý của tự thân.

Lời kệ nào cũng cao thâm, vi diệu, câu kệ nào cũng chuyển tải chân lý cuộc đời. Nhưng không hiểu tại sao, đã gấp sách lại rồi mà hình ảnh “đêm qua sân trước một cành mai” trong bài “Cáo tật thị chúng” của Ngài Mãn Giác cứ hiện ra trong tâm trí con khiến con ưu tư mãi. Nay con xin Ngài cho con được mạo muội tỏ bày suy nghĩ của một kẻ “mông học” về bài kệ “Cáo tật thị chúng” của Ngài.

Vừa đọc qua câu kệ:

“Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai”.

(Xuân qua trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa cười).

Người đọc đã bắt gặp nơi đây một sự khác thường. Bởi chúng ta thường nhắc đến sự tươi đẹp, huy hoàng trước khi nhắc đến sự tan tác, chia lìa. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì ai cũng ưa thích, ham muốn cái đẹp, trân quí sự hoàn mỹ chứ không ai muốn nhắc đến sự rủi ro, sự không hoàn thiện,… Ở đây, Ngài Mãn Giác đã đảo lộn qui luật đó. Ngài đã nói đến sự “lạc” (rụng) trước khi nhắc đến sự “khai” (nở).

Hai câu kệ đã diễn tả một sự thật của tự nhiên: Xuân qua thì muôn hoa tan tác, rụng rời; xuân đến thì muôn hoa khoe sắc nở thắm. Sự thật này đã trở thành một quy luật chung của vũ trụ và đi vào trong sâu thẳm cõi lòng của mỗi người. Ngài Mãn Giác đã diễn tả một cách trái ngược như thế phải chăng Ngài muốn nhắn nhủ với mọi người rằng: Nếu đã có xuân đến thì phải có xuân qua, đấy là qui luật vận hành của vũ trụ.

Con người phải sống làm sao để có thể giữ được lòng mình bình thản trước sự thịnh suy của cuộc đời khi chúng đến với mình. Trở lại với hiện thực của cuộc sống, Ngài nhận thấy:

“Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai”.

(Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi).

Sự đời cứ thế trôi qua trước mắt người, ngày lại qua đêm, đêm lại nối ngày. Biết bao nhiêu cuộc đổi thay, bao nhiêu lần bãi bể hoá thành nương dâu. Đa số mọi người đều bị cuốn vào dòng chảy của cuộc đời, mãi chạy theo sự xoay vần của ngoại cảnh, bị ngoại cảnh chi phối. Chúng làm hoa cả mắt, loạn cả tâm, đến nỗi quên mất chính mình. Trong cuộc đời có mấy ai làm chủ được bản thân, nhìn vào sự biến chuyển đang diễn ra trên tấm thân của mình trong từng phút, từng giây.

Cho nên Ngài đã đánh thức: “Lão tùng đầu thượng lai”– Trên đầu già đền rồi. Hãy nhìn lại trên đầu của mình, tóc đã điểm bạc, tuổi già đã đến rồi đó, phải chấm dứt ngay những cuộc rong ruổi theo cảnh phù du bên ngoài, trở về lo cho tự thân của mình, nuôi dưỡng thân tâm của mình bằng chất liệu từ bi và công phu tu tập thiền định, rèn luyện cho mình một nếp sống đạo đức, thấm đượm tình người.

Không nên đợi đến tuổi già mới học đạo, mới tu dưỡng tâm tánh, bởi lúc về già thì thân thể suy nhược, tinh thần sút kém, trí óc không còn như lúc mạnh khoẻ trước đây nữa. Và “không thể có một tinh thần mạnh mẽ trong một thân thể suy nhược”. Lúc về già, dù có cố gắng đến bao nhiêu thì cũng khó lòng đạt được mục đích, vì đến lúc đó thì “lực bất tòng tâm”. Hơn nữa, cổ đức cũng đã từng dạy rằng:

“Mạc đãi lão lai phương học đạo

Cô phần đa thị thiếu niên thân”.

(Chớ đợi tuổi già mới học đạo

Mồ hoang lắm kẻ tuổi thanh xuân).

Thế nên, với tâm từ bi vô lượng, Ngài Mãn Giác đã hiến dâng trọn đời mình cho hạnh phúc, an lạc của chúng sanh. Ngay những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, Ngài vẫn tha thiết khuyên bảo, khích lệ mọi người dũng mãnh, tinh tiến trên con đường tìm về bến giác, trở về quê hương tươi đẹp ngàn đời. Bốn câu đầu của bài kệ, Ngài diễn tả theo phương diện tục đế, Ngài vận dụng ngôn ngữ và ý niệm của đời thường nên tương đối dễ hiểu, dễ cảm thụ và ai cũng có thể chấp nhận được, nhưng đến câu:

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.

(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành mai).

Thì rất nhiều người cảm thấy sửng sốt, bỡ ngỡ. Sửng sốt và bỡ ngỡ cũng phải, tại vì họ đang tiếp cận với một quan điểm rất khác thường: Mùa xuân đã qua mà vẫn còn hoa mai nở. Với sự nhận thức bình thường thì không thể nào chấp nhận và không thể nào hiểu được thâm ý của hai câu kệ trên. Nhưng với những người hiểu đạo, biết chút ít về đạo Phật, về ngôn ngữ nhà thiền thì khi đọc qua hai câu kệ trên, họ cảm nhận được phần nào ý nghĩa của nó.

Ở đây, Thiền sư đã dùng ngôn ngữ để chuyển tải một vấn đề vượt ra ngoài phạm trù ngôn ngữ và ý niệm, đấy là trạng thái, là cảnh giới của những người đã giác ngộ, đã nếm được hương vị giải thoát và đang sống trong sự tràn ngập niềm hạnh phúc vô biên, là sự vĩnh hằng bất diệt, vượt ra ngoài ý niệm về thời gian và không gian. Ngài Mãn Giác đang sống trong trạng thái ấy nên đối với Ngài, lúc nào cũng cảm thấy “mùa xuân” đang hiện hữu, lúc nào cũng thấy “nhất chi mai” ở trước sân.

Cành mai trong văn cảnh này không còn là cành mai “bằng xương bằng thịt” nữa mà đã là cành mai tinh thần. Đây là trạng thái chung của những người đã chứng ngộ, là một sự thật, nhưng chỉ những ai đã vào được cảnh giới đó mới cảm nhận một cách tinh tường về sự thật vi diệu này. Hai câu kệ ấy còn cho mọi người nhận ra được trong muôn vạn sự đổi thay, dịch chuyển của vạn hữu còn có cái không bị chi phối bởi qui luật thành – trụ – hoại – không, trong sự vô thường vẫn có cái thường hằng, bất biến, đấy là “bản lai diện mục” trong mỗi chúng sanh.

Qua hai câu kệ cuối cùng trong bài kệ “Cáo Tật Thị Chúng”, thiền sư Mãn Giác còn khuyên bảo chúng đệ tử và tất cả mọi người rằng: Đừng lo sợ trước cảnh “hoa tàn lá rụng”, chỉ sợ là tự thân mỗi người chưa đủ sức tỉnh giác để kiểm soát thân, tâm của mình mà thôi. Hãy sống làm sao để mọi cử chỉ, hành động, lời nói của mình đều có thể đem lại hạnh phúc, an vui cho người khác, sống làm sao để mỗi bước đi là một bước tiến gần đến bến bờ giải thoát. Hãy tinh tấn lên, mọi người đều sẽ có ngày sống với mùa xuân trường cửu của cõi lòng.

Điểm lại toàn bộ lời thi kệ, chúng ta thấy rằng, đây là sự đúc kết những tinh hoa của đạo giải thoát, là quá trình thực tu thực chứng của thiền sư Mãn Giác. Tuy Ngài chưa đạt được sự giác ngộ viên mãn như chư Phật, nhưng Ngài đã bước những bước chân thần kỳ, đã đạt được trạng thái tâm linh ít người đạt được. Bài kệ của Ngài khiến cho nhiều người phải ưu tư, muốn giải tỏa nỗi ưu tư này thì không còn con đường nào khác hơn là sự thể nghiệm của tự thân.

Vì thế mà bài kệ của Ngài trở thành ngọn đuốc soi đường cho mọi người trở về với nếp sống chân thiện mỹ, trở về với chân lý của lẽ sống ngàn đời. Bài kệ còn thúc đẩy mọi người đi tìm hạnh phúc chân thường cho cuộc sống. Có thể khẳng định rằng, thiền sư Mãn Giác, cũng như bài thi kệ của Ngài sẽ sống mãi, tồn tại mãi trong lòng những con người yêu chân lý và đi tìm chân lý.

 

Bài soạn “Cáo bệnh, bảo mọi người” số 3

Một Thiền sư nhận định “Đối trước cái chết, điều khôn ngoan duy nhất mà con người có thể làm được là vui lòng chấp nhận nó.” Nhưng để đạt đến cấp độ tâm lý ấy thì thật sự phải có sự chuyển hướng tâm thức thuần thục theo chiều hướng trí tuệ.

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai

Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Nghĩa:

Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa nở .

Việc trước mắt qua mãi

Trên đầu già đến rồi.

Đừng bảo Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành mai.

(Mãn Giác Thiền Sư )

Thời gian với lộ trình vô tận mà sự đổi thay là một thuộc tính bất di bất dịch, sự triển chuyển là cơ sở để có sự phát sinh và cả hoại diệt, sự tăng trưởng sinh sôi cũng đồng thời tàn tạ mỏi mòn. Quy luật là như thế và nền tảng của sự sống cũng như vậy. Bài thơ không còn dừng lại ở dấu ấn xưa nay của thi ca là ca ngợi miêu tả thuần túy một vẻ đẹp hay một cảm xúc bay bổng, đôi cánh cảm nhận mang màu sắc trí tuệ đã nâng lên những giá trị mang tính muôn thuở, một thế giới quan và hơn thế nữa_nhân sinh quan sống động.Xuân đi trăm hoa rụng.

Một mệnh đề tưởng bình thường, chẳng có gì cao sâu, nhưng mấy ai cảm nhận và chấp nhận được.Ta vẫn đau lòng khi ai đó mất đi, vẫn hụt hẫng vì một sớm chia lìa hay một chiều tang tóc, ta biết sự đến đi là tất nhiên nhưng vẫn mong cho”thời gian dừng lại” hay “tuổi thơ quay về. Ta vô tình tự mâu thuẫn chí ít là với những hiểu biết cơ bản nhất của chính mình. Ở điểm này, câu thơ đã có giá trị cảnh tỉnh sâu sắc.

Xuân đến trăm hoa nở.Đây chính là sự tất nhiên mang tính vĩnh hằng. Vốn dĩ xưa nay con người chỉ muốn và mãi muốn thụ hưởng và chấp nhận những gì quy luật mang lại, hợp với chí hướng của mình, do đó mà có tâm lý vui khi Xuân về hoa nở, buồn khi Đông đến hoang liêu. Đâu biết rằng Đông chính là nền tảng để một ngày Xuân bừng dậy tinh khôi hào nhoáng.

Không có đêm, làm gì có ngày, không có Đông làm gì có mùa Xuân, hiểu cả về mặt sự đối chiếu làm nổi bật và tính triết lý nền tảng .Những nỗi đau càng chồng chất nỗi đau khi bên cạnh sự khắc khoải của thịt da, ta lại bồi đắp thêm sự xót xa tiếc nuối hay sợ hãi triền miên, thì tất yếu sự khổ đau càng gấp bội và đáng thương cho ai vẫn mong mỏi một điều không thật có là trẻ mãi không già, sống hoài không chết ,…

Vậy nên hoa nở và hoa rụng chẳng qua là một vòng quay, sự tuần hoàn tất yếu mà với cái nhìn biện chứng, tự nó không mâu thuẫn mà là hai mặt hữu cơ và bổ sung nhau .Và từ sự tổng quan rộng lớn, Thiền sư đã đưa về mảng thời sự tính, đó là thân phận con người , điều mà bất cứ ai cũng phải đối mặt:Trước mắt sự qua mãi Trên đầu già đến rồi.Quy luật của trời đất vốn mang tính lạnh lùng và công bằng đến tuyệt đối .Khổng Lão Trang có quan điểm:Thiên trường địa cửu hữu thời tận….Thiên địa bất nhân…Bất nhân ở đây chính là không thiên vị, nhân nhượng bất cứ ai, bất cứ điều gì.Đó là quy luật tự nhiên.

Rồi một ngày có kẻ sĩ kiêm nhà hiền triết đất. Trung nguyên tiễn đưa bạn đời quá cố về miền vĩnh hằng với khúc. Cổ bồn phiêu nhiên vô tư lự! Bóng câu qua cửa sổ, giấc mộng kê vàng, đời người giấc mộng,… là những ý tứ người ta vẫn thường chỉ về sự đổi thay. Nhưng chẳng có gì nhanh, chẳng có gì chậm, mức độ vẫn bấy nhiêu, chẳng qua do con người áp đặt lên chúng bằng một thứ người ta quen gọi là thời gian tâm lý, do tiếc nuôí sự đã qua, do mong mỏi kéo dài những gì tâm đắc :

Ngoài ba mươi tuổi duyên còn hết

Một ván cờ thua ngả bóng chiều

(Vũ Hoàng Chương)

Việc vẫn trôi qua đều đều, người cũng tuần tự già đi . Già bởi đã trải qua thời trai trẻ, và trẻ rồi cũng sẽ già, vết thời gian in đậm trên thân xác mỗi sinh linh, ta không thể chuyển dời, duy tâm ta thì có thể . Ta hiểu được cuộc đời, sống chung với sanh, già, bệnh, chết vô tư như một dòng triển chuyển tất nhiên, ta cứ lạc quan khi tuổi già gõ cửa, có thể làm được quá đi chứ!

Đừng bảo Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành mai.

Con người chỉ nắm bắt hiện tượng đang diễn ra , và rồi cố chấp vào những ảnh hóa đó bằng tâm cứng đọng phi biện chứng .Sự cố chấp này chi phối cả thế giới tư duy và màu sắc cảm nhận của chủ thể .Khi Thiền sư nói “đừng bảo…”cũng có nghĩa, Ngài chỉ ra sự phiến diện của tư duy què quặt cố hữu của con người. Đó là những rối rắm nội tại phát sinh từ sự thiếu chân xác trong kiến quan hạn hẹp để rồi bao hệ lụy cũng từ đó phát sinh theo mô thức phản ứng dây chuyền trong thế giới hạt nhân phóng xạ .

Có thể nói câu thơ như một hình thức KHAI ( mở), mang lại cái nhìn mới chân xác và thiết thực hơn cho các đối tượng.Đêm qua sân trước một nhành mai. Hãy thoát ly sự cố chấp đi, anh sẽ nhìn rõ hơn sự mầu nhiệm của cuộc sống. Cành mai hôm nào, nay đã không còn và anh sẽ bảo chẳng có mai. Thiền sư không nói về cành mai cụ thể trong một thời điểm cụ thể đó, Ngài đang nói về cành mai BẤT DIỆT, cành mai bản thể (bản chất, nền tảng ).

Đây có thể gọi là phần THỊ( chỉ rõ)so với phần KHAI ở trên.Về phương diện biện chứng học, chẳng có gì biến mất, chẳng có gì tự nhiên xuất hiện, chỉ có sự biến đổi từ dạng này sang dạng khác. Tôi tuy không phải là cha tôi nhưng cha tôi vẫn hiện hữu trong tôi mặc dầu ông ấy đã mất từ lâu, dị mà đồng, đồng mà dị. Biết rõ sự đổi thay là hiện tượng ,sự miên viễn là vĩnh hằng, quy luật là việc của trời đất, tâm lý và thế giới tâm lý là của riêng ta.

Sống chung với quy luật của trời đất là biết chấp nhận nó, hòa mình cùng nó trên lộ trình biến diệt vô thường mà ta không thể nào cưỡng lại được .Một Thiền sư nhận định” Đối trước cái chết, điều khôn ngoan duy nhất mà con người có thể làm được là vui lòng chấp nhận nó “Nhưng để đạt đến cấp độ tâm lý ấy thì thật sự phải có sự chuyển hướng tâm thức thuần thục theo chiều hướng trí tuệ.

Một trong những tiêu chí của Thiền học là thâm nhập được vào thế giới vô thời trong thời gian và vô không trong không gian. Có thể hiểu nôm na là tâm không còn bị chi phối do cố chấp vào những giới hạn thường tình của thời gian và không gian, hai tiêu chuẩn để xác định sự tồn tại của một sự vật, hiện tượng. Sự an nhiên tự tại trước cái chết (thị tịch)của Thiền Sư biểu hiện cao độ, thay vì Ngài là nhân tố đáng thương hại, lại chính là nhân tố chủ động trấn an những đệ tử, những người vẫn đang khỏe mạnh trẻ trung.

Đối diện sự ra đi, Ngài vẫn dõng dạc trong những Pháp kệ được Đường thi hóa, vừa mang giá trị nghệ thuật văn học, lại hàm dung triết lý sâu xa. Cả một đời phụng sự Đạo Pháp, trải bao bài thuyết pháp độ sinh, nay, ngay cả trong giờ khắc còn lại ít ỏi trên cõi đời và đang đối diện cái mà con người kinh khiếp nhất (cai chết ),Thiền Sư vẫn tự tại biến đó thành bài Pháp cuối cùng của đời mình và đã trở thành bài thơ bất hủ trên thi đàn dân tộc xưa và nay .

Xin cảm ơn Thiền Sư đã để lại cho chúng ta một hình ảnh phi phàm về khí phách LÝ- TRẦN đã một thời oanh liệt của cha ông .

 

Bài soạn “Cáo bệnh, bảo mọi người” số 4

Mãn Giác thiền sư (1052 – 1096) tên thật là Lí Trường, sống vào thời vua Lí Nhân Tông. Năm 25 tuổi ông mới xuất gia và trở thành một thiền sư được ngưỡng vọng. Vua Lí thường xuyên hỏi ông về việc nước. Năm 1096, ông cáo bệnh và làm bài thơ này để báo cho mọi người biết. Cũng năm đó, ông qua đời. Bài thơ Cáo tật thị chúng thể hiện những suy ngẫm của nhà sư về cuộc đời.

Bài thơ chia làm hai phần : Phần thứ nhất nói về quy luật sinh tử của tự nhiên, phần thứ hai thể hiện tâm sự lạc quan của tác giả. Bài thơ mang vẻ đẹp trong sáng nhưng chứa đựng chất triết lí sâu sắc của thơ thiền : vừa thể hiện tình yêu, niềm tin vào cuộc sống của con người, vừa là sự ngộ giải chân lí Phật giáo của một vị chân tu trước lúc “nhập diệt”.Con người không thể thoát khỏi quy luật “sinh, lão, bệnh, tử” của tự nhiên.

Phàm đã là con người ai cũng phải trải qua những giai đoạn đó. Nhà sư Mãn Giác đã một lần nữa khẳng định quy luật tự nhiên ấy qua Cáo tật thị chúng. Tinh thần nhập thế của Phật giáo cũng được thể hiện rõ ở bài thơ này. Tâm sự của một nhà sư cũng là tâm trạng chung của tất cả mọi người trước sự xoay vần “đà định sẵn” của tự nhiên.Mượn hình ảnh hoa nở hoa tàn để nói đến quy luật của thiên nhiên, bài thơ kệ được bắt đầu bằng hai câu thơ:

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Miêu tả sự tuần hoàn của tự nhiên nhưng bằng một cách nói hơi trái tự nhiên. Thông thường có hoa nở mới có hoa tàn nhưng ở đây nhà thơ lại nói đến hình ảnh hoa tàn trước rồi mới nói chuyện hoa nở. Phải chăng tuổi già (nhà sư viết bài thơ vào năm cuối của cuộc đời) với những dự cảm của người sắp ra đi thường nghĩ đến chuyện mất mát trước. Tác giả của bài thơ là một nhà sư, và theo quan niệm của đạo Phật, cuộc đời là những vòng luân hồi nối tiếp nhau, không có sự kết thúc thật sự.

Điểm kết của vòng đời này là sự bắt đầu của một vòng đời khác. Hình ảnh “hoa” và “xuân” là hai điểm nhấn của câu thơ, vừa nhấn về ngữ điệu, vừa nhấn về hình ảnh. Cách sắp xếp các hình ảnh đối nhau càng làm tăng sự đối lập giữa sự mất đi và sinh ra của muôn hoa và vạn vật.Cách sắp xếp “hoa lạc” trước “hoa khai”, có lẽ là để thể hiện tính chất luân hồi. “Tàn” là sự bắt đầu của “nở”, vì thế tàn không có nghĩa là chấm hết. Điểm tích cực của tư tưởng luân hồi chính là ở đây, nó thổi vào cuộc sống của con người tinh thần lạc quan.

Tư tưởng Thiền học được thể hiện ở ngay cách sắp xếp hình ảnh thơ này. Sự trôi chảy của thời gian là tự nhiên và rất vô tình, theo dòng thời gian, con người cũng phải thay đổi. Từ quy luật biến đổi của thiên nhiên dẫn đến quy luật biến đổi của đời người:

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tòng đầu thượng lai.

Con người cũng như vạn vật, phải thay đổi theo quy luật của tự nhiên. Nhưng khác với vạn vật, con người nắm bắt được quy luật ấy và chủ động trước mọi sự. Song nếu cây cối có sự luân hồi thì con người lại không, dù theo triết lí của đạo Phật, con người cũng có kiếp luân hồi, có kiếp trước, kiếp sau. Hoa tàn, hoa nở là biểu tượng cho sự mất đi và hồi sinh của vạn vật thì mái tóc bạc biểu tượng cho tuổi già. Con người không thể thoát khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử và cũng không có kiếp luân hồi. Vì vậy con người thường nuối tiếc khi thời gian trôi đi:

Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất…

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.

(Xuân Diệu, Vội vàng)

Có tâm tư gì đó tương tự như vậy đằng sau hai câu thơ của Mãn Giác thiền sư. Song nỗi buồn man mác đó lập tức qua ngay khi hai câu thơ tiếp theo có sự xuất hiện đột ngột của nhành mai cuối xuân:

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Cành mai là điểm sáng, điểm tươi tắn nhất của bức tranh xuân tàn. Nó xuất hiện đột ngột như chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình. Cành mai ấy là cành mai của hiện thực và cũng là cành mai trong tâm tưởng, trong tinh thần của nhà thơ. Tưởng như mùa xuân đã qua và “hoa lạc tận” nhưng vẫn còn đó “nhất chi mai”. Mai, trong quan niệm của người xưa, là một loại trong bộ “Tứ quý” (tùng, cúc, trúc, mai), là biểu tượng cho sự thanh cao.

Không phải là hoa gì khác mà là một cành mai, biểu tượng cho mùa xuân, mùa của trăm hoa khoe sắc, của muôn cây đâm chồi nảy lộc. Rất có thể, sự xuất hiện đầy bất ngờ của một cành mai cuối xuân đã khơi nguồn cảm hứng để nhà thơ viết bài thơ kệ này, nhưng cũng có thể nhà thơ mượn một cành mai trong tưởng tượng để thể hiện tinh thần lạc quan, tin tưởng vào sự bất diệt của cái đẹp, của sự sống.

Theo tình huống nào thì cành mai vẫn là một biểu tượng đẹp cho tinh thần của con người, con người có ý chí kiên cường, vượt lên sự nghiệt ngã của quy luật tự nhiên.Hai câu thơ cuối đối lập với bốn câu đầu cả về hình thức và nội dung. Bốn câu thơ đầu khẳng định quy luật bất biến của cuộc sống – vạn vật có sinh có mất, và không gì cưỡng lại được, nhất là con người. Hai câu cuối lại khẳng định điều ngược lại – vẫn có một cành mai nở vào độ xuân tàn, hiện hữu hoàn toàn trái quy luật. Cành mai xuất hiện bất ngờ như sự khẳng định rằng không có gì là bất biến.

Và con người, với ý chí và nghị lực phi thường của mình, vẫn có thể vượt qua được quy luật. “Lão tòng đầu thượng lai” tưởng đã là điểm kết thúc của một đời người. Nhưng niềm lạc quan, ý chí và cả niềm tin tôn giáo đã giúp nhà sư thấy được “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”. Cáo tật thị chúng là một bài thơ thiền, và vậy tất nhiên có gửi gắm những quan niệm, triết lí Thiền học.

Mãn Giác thiền sư viết bài thơ này khi ông sắp qua đời, vì thế nó thể hiện sự ngộ giải chân lí Phật giáo. Nhà Phật vẫn tin rằng, con người có thể sẽ chiến thắng được quy luật sinh tử của tự nhiên nếu tu thành chính quả, nếu chiến thắng được những dục vọng cá nhân và giác ngộ. Là một bài thơ kệ, là tác phẩm ra đời vào thời kì mà văn học dân tộc chưa có được bề dày thành tựu nghệ thuật, song Cáo tật thị chúng đã thể hiện một tầm kết tinh nghệ thuật đáng tự hào. Bài thơ chỉ có sáu câu nhưng đã truyền tải được một nội dung triết lí sâu sắc.

Giá trị ấy của thi phẩm được làm nên bởi tài năng sử dụng, lựa chọn ngôn từ, hình ảnh và sự sắp xếp kết cấu gợi cảm của nhà thơ. Trước hết đó là nghệ thuật sử dụng và sắp xếp từ ngữ, mỗi từ ngữ đều chứa đựng khả năng biểu hiện ý tứ sâu sắc, “bách hoa lạc” (trăm hoa rụng), “bách hoa khai” (trăm hoa đua nở), chỉ một từ hoa nhưng là biểu tượng cho vạn vật, là biểu tượng cho mùa xuân đến, mùa xuân đi.

Nghệ thuật đối điệp cũng được phát huy cao độ để tạo nên tính hàm súc cho bài thơ. Mỗi cặp câu thơ là một cặp đối lập, nó biểu hiện cho quy luật sinh tử song tồn, cho sự trôi đi rất nhanh và vô tình của thời gian. Bốn câu đầu và hai câu sau là một cặp đối, một bên là quy luật nghiệt ngã tưởng như không gì chống lại nổi của tự nhiên, một bên là sự xuất hiện bất chấp quy luật “hoa lạc tận” của “nhất chi mai”. Mùa xuân của thiên nhiên đã trôi qua nhưng mùa xuân và sức sống trong mỗi con người vẫn hiên ngang và cứng cỏi.

Hai câu thơ bảy chữ kết thúc bài thơ tạo nên một thế đứng vững vàng. Đó là thế đứng của con người đã giác ngộ được chân lí của sự sống: quy luật của tự nhiên là quy luật của vạn vật trong trời đất, song với tinh thần lạc quan, ý chí sắt đá, con người có thể vượt lên trên quy luật nghiệt ngã ấy.

Sự phát triển thịnh trị của Phật giáo thời Lí cùng với tư tưởng “nhập thế” tích cực, đã sản sinh cho dân tộc ta những nhà sư tài ba, tâm huyết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước và đóng góp cho văn học dân tộc những tác phẩm có giá trị triết lí sâu sắc. Cáo tật thị chúng đã chứng tỏ sự khởi đầu đáng tự hào của văn học dân tộc.

 

Bài soạn “Cáo bệnh, bảo mọi người” số 5

Thiền sư Mãn Giác là người ham học, thông hiểu cả Nho giáo và Phật giáo nên đã được vua Lí Nhân Tông sủng ái, tuyển vào cung cho học tập từ nhỏ. Ông là một thiền sư nổi tiếng. Bài thơ ” Cáo tật thị chúng” của ông đã nói đến những triết lí rất sâu sắc.

Thời gian như một nỗi ám ảnh miên viễn với con người. Nhận thức được thời gian, con người lại càng hoảng sợ vì biết cuộc sống ngắn ngủi, mong manh. Vì thế, thi nhân Xuân Diệu mới có một khao khát đến tột cùng: “Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai/ Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.” (Giục giã) Con người luôn muốn níu giữ thời gian, trì hoãn cuộc sống. Thế nhưng với thiền sư Mãn Giác, hiểu được quy luật của tự nhiên là để an lạc chấp nhận, trân trọng từng giây phút được sống chứ không phải chạy đua với thời gian. Quan niệm ấy được thiền sư bộc bạch trong “Cáo tật thị chúng” (Có bệnh, bảo mọi người).

Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Đây vốn là một bài kệ, mang chức năng truyền bá, giải thích đạo Phật. Bài kệ mang ý tứ sâu xa, thường dùng cách nói ẩn dụ, kín đáo. Kệ thường được viết bằng văn vần, có giá trị văn chương. Bài “Cáo tật thị chúng” không biết được viết vào năm nào trong cuộc đời 44 tuổi của vị thiền sư, nhưng hẳn đang vào lúc đau yếu, đe dọa đến tính mạng. Bài thơ thể hiện một tâm hồn bình thản trước bệnh, tử, già, không hề buồn sợ, xót đau. Đó là tâm hồn đại giác.

Bốn câu thơ đầu nói lên quy luật sinh hóa của tự nhiên, của con người: hoa cũng giống như người luôn vận động, biến thiên. Sự sống là một vòng luân hồi. Mùa xuân qua hoa cỏ úa tàn, khi xuân đến hoa cỏ lại tươi tốt. Nhà thơ dùng hình ảnh hoa rụng, hoa nở để nói về tuần hoàn như vòng bánh xe không ngừng chuyển động: hoa rụng trước rồi đến hoa nở thì mới gợi lên được một vòng tuần hoàn. “Nếu nói hoa nở rồi hoa tàn thì chỉ nói được một kiếp trong vòng đời.” (Trần Đình Sử)

Tuy nhiên, đặt con người trong vòng tuần hoàn nở – rụng ấy gợi nên nhiều suy nghĩ. Hai câu thơ tiếp diễn tả quy luật của đời người, khác hẳn quy luật của tự nhiên. Thời gian trôi đi, con người thêm tuổi tác. Mái đầu bạc là hiện thân của tuổi già. Giữa con người với hoa có sự đối nghịch: trong khi “trăm hoa tươi” thì con người “trên đầu già tới rồi”. Sự đối nghịch ấy cho thấy sự vô thủy, vô chung của thời gian – “trước mặt việc đi mãi” – cuộc đời khoảnh khắc chỉ là ảo ảnh. Câu thơ nói lên quy luật sinh – lão – bệnh – tử theo quan niệm của đạo Phật.

Giọng điệu của bốn câu thơ đầu vừa ung dung, an nhiên lại vừa như thoáng chút nuối tiếc. An nhiên khi nhìn cuộc đời theo quy luật sinh – lão – bệnh – tử. Thoáng chút nuối tiếc khi cảm thấy sự trôi chảy của thời gian. Cảm nhận này không phải bắt nguồn từ cái nhìn hư vô của đạo Phật mà bắt nguồn từ ý thức về sự hiện hữu, sự tồn tại có thực của con người. Ý thức được sự tồn tại ấy, con người không thể nào sống vô nghĩa. Hai câu thơ cuối thể hiện quan niệm triết lí của Phật giáo về sức mạnh lớn lao, vượt lên lẽ hóa sinh thông thường.

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.”

Hai câu thơ cuối không phải đơn thuần báo hiệu xuân qua hè tới mà là biểu tượng cho quan niệm lớn lao hơn. Con người giác đạo trở về với bản thể vĩnh hằng, không sinh, không diệt như cành mai tươi bất chấp xuân tàn. Trong quan niệm người xưa, mai là loài hoa chịu được giá rét mùa đông. Giữa tuyết sương giá lạnh, mai vẫn nở hoa, báo hiệu mùa xuân đến. Hoa mai tượng trưng cho vẻ đẹp thanh tao, cao khiết vượt lên hoàn cảnh nghiệt ngã, phàm tục.

Qua hình tượng cành mai tươi bất chấp xuân tàn, tác giả mượn thiên nhiên để biểu tượng cho niềm tin về sự sống bất diệt. Hoa mai vượt lên cả sự sống, chết, thịnh, suy. Đó là quy luật của sự bất biến về tư tưởng, tình cảm, ý chí – sự bất biến trong tinh thần. “Cành mai” là biểu tượng nghệ thuật đẹp đẽ, vẻ đẹp của tinh thần lạc quan, kiên định trước những biến đổi của trời đất, thời cuộc.

“Cáo tật thị chúng” tuy được viết lúc thiền sư đang đau yếu nhưng vẫn toát lên cái nhìn bình thản trước cuộc đời, giọng điệu ung dung, tự tại. Quy luật cuộc đời là sinh – lão – bệnh – tử nhưng bài thơ lại chọn điểm khởi đầu là “xuân tàn” và điểm kết thúc là một cành mai tươi, đó là tinh thần lạc quan. “Lời thơ đến với độc giả như một biểu hiện của sự nhạy cảm đối với sức sống dồi dào luôn khắc phục hoàn cảnh để mà vươn lên, như là biểu hiện của niềm yêu mến cuộc sống trong những khía cạnh mĩ lệ mà tinh vi, tế nhị” (Đinh Gia Khánh).

Nhịp điệu bài thơ có nét đặc biệt : bốn câu đầu là thơ năm chữ, gọn gàng, hai trạng thái xúc cảm cân bằng với số chữ như nhau. Hai câu kết là thơ bảy chữ, vượt lên trên nỗi vui buồn sinh tử mà thanh thản, ung dung về miền cực lạc. Bài thơ viết lúc nhà thơ đang đau yếu nhưng đầy lạc quan, tích cực.

Bài thơ” Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền Sư đã truyền cho chúng ta một nghị lực, niềm tin, tinh thần lạc quan trong cuộc sống. Dòng đời vẫn luôn chảy trôi và biến đổi không ngừng, đó là một vòng tuần hoàn khép kín bất tận, còn đời người thì hữu hạn nhưng đó cũng là quy luật của cuộc sống. Quan trọng là ta phải sống hết mình và có ý nghĩa, luôn lạc quan. Đó cũng là triết lí sống mà tác giả gửi gắm cho độc giả- sống an nhiên.

Nguồn: Tổng Hợp