Top bài văn mẫu Phân tích bài thơ “Hữu cảm” văn học 9 hay, ngắn gọn

Văn mẫu:Phân tích bài thơ “Hữu cảm”được tổng hợp và sưu tầm gồm các bài  văn mẫu lớp 9 hay dành cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết môn ngữ văn 10 sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

Phân tích tác phẩm Hữu Cảm- mẫu số 1

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là một trong những vị danh nhân của dân tộc, từng đỗ trạng nguyên, có rất nhiều công trạng với vua với dân với nước, nhưng trước cuộc đời đen bạc ông đã khước từ mọi vinh hoa phú quý rút lui về sống một cuộc đời ẩn dật, giản dị tại quê nhà. Bất lực trước các sự hèn hạ của chế độ xã hội mục nát, ông đã lui về ở ẩn nhưng lòng ông vẫn nặng trĩu nỗi lo nước thương đời thương dân. Bài thơ Hữu cảm bộc lộ tâm trạng đó của nhà thơ.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là học rộng hiểu nhiều, tâm hồn thanh cao, nhưng sống trong giai đoạn lịch sử có nhiều biến động loạn li, các tập đoàn phong kiến vì tranh giành quyền vị đã chém giết lẫn nhau, chiến tranh đã xảy ra liên miên. Mở đầu bài thơ, tác giả viết:

“Giặc giã tung hoành lấn đế kinh”

Thời điểm đó đang xảy ra chiến tranh giữa các nước làm cho vua chúa lo lắng vì quyền lợi ngôi báu bị đe dọa, uy hiếp; các bề tôi, những kẻ phục vụ vì vua chúa, quyền lợi của họ gắn liền với vua chúa nên họ cũng đều lo sợ. Trước tình cảnh ấy, nhà thơ tỏ thái độ thông cảm với nỗi lo của chúa, với nỗi nhục của tôi (chúa lo tôi nhục đáng thương tình xiết bao – lời dịch nghĩa).

Nếu xảy ra chiến tranh tai họa ghê gớm sẽ giáng xuống đầu những kẻ dân đen. Họ phải gánh chịu nhiều đau khổ nhất: tan cửa, nát nhà, mất chồng mất con vì chiến tranh. Trong các cuộc xâu xé vì quyền lợi của các tập đoàn phong kiến, họ biến thành những con vật hi sinh đáng thương. Vì vậy họ mong chờ những vị cứu tinh đến giải thoát cho họ ra khỏi cơn binh lửa chiến tranh, lòng khát khao cháy bỏng đó của dân chúng biết bao ngày tháng đã kết lại thành nỗi uất ức trong lòng:

“Mong mưa, dân chúng lòng dân vọng

Trừ bạo, tưng bừng đạo nghĩa binh”

(Chờ người đến cứu sống lòng mong đợi của dân chúng đến từ lâu. Thương dân đánh kẻ có tội, ai dấy quân như trận mưa gặp thời).

Thấu hiểu nỗi lòng mong mỏi của nhân dân, có những người tài giỏi đứng lên dẹp trừ gian ác,là kẻ thương dân đánh kẻ có tội? Chính lúc này nếu có ai đó vì thương dân đứng lên dấy quân để trừng trị kẻ bạo tặc dẹp yên cơn loạn lại thì bốn bể dân chúng sẽ quay về:

“Bốn bể vui theo người đạo đức”

Nếu có người đó xuất hiện, thì đó là vị cứu tinh của dân tộc, dân chúng sẽ reo vui mà mãi mãi nhớ ơn vị cứu tinh đã đem lại cho họ cảnh yên vui thái bình:

“Khắp nơi lại thấy cảnh thanh bình.”

Sinh ra đúng thời loạn lạc, là người có tài và chí lớn, nhưng một mình ông không thể thay đổi được thế thời, yêu nước thương dân nhưng không thể cứu giúp được dân. Tuy đã từng làm quan đại thần dưới thời Trịnh Mạc… nhưng ông lại là con người thấu hiểu nỗi khổ đau của nhân dân, đồng cảm với họ, đứng về phía họ, bênh vực họ.

Cuộc chiến tranh không thể diễn ra liên miên, rồi cũng kết thúc có kẻ thắng, người bại, nhà thơ đã rút ra một kết luận: “ Xưa nay nhân giả là vô địch”. Một nhà nho nên rất coi trọng chữ nhân, vì thế ông khẳng định kẻ nào vì nhân ái biết thương dân kẻ ấy sẽ chiến thắng:

“Nhân giả là vô địch”

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Bỉnh Khiêm làm ta nhớ lại lời người anh hùng Nguyễn Trãi trong Bình ngô đại cáo đã khẳng khái tuyên bố:

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo”

Ông đã đặt một câu hỏi, nhưng cũng là một câu trả lời cho những kẻ gây ra chiến tranh, gây ra sự hung tàn, chết chóc cho dân cho nước.

“Lo phải khư khư thích chiến tranh?”

Câu thơ ngắn gọn tưởng chừng chỉ như câu hỏi bình thường, nhưng là lời phê phán lên án những kẻ thích gây ra cảnh binh đao chỉ vì quyền lợi ích kỉ của cá nhân mình. Nhà thơ đứng trên lập trường nhân dân. Xuất phát từ lòng nhân đạo mà lên án chiến tranh. Phê phán chiến tranh phi nghĩa, một biểu hiện của tư tưởng tiến bộ. Có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ rất sớm nếu không nói đầu tiên – bằng sáng tác của mình đã lên án chiến tranh bảo vệ quyền lợi của người dân.

Bài Hữu cảm đã ra đời cách chúng ta rất xa, nhưng hôm nay đọc lại lòng ta vẫn xúc động về tấm lòng của nhà thơ đối với nhân dân được thể hiện qua từng câu thơ. Nguyễn Bỉnh Khiêm thật xứng đáng cây đại thu che rợp bóng văn học trong mấy thế kỉ, người đầu tiên giám đứng lên phê phán chiến tranh phi nghĩ, mở đầu cho hàng loạt những sáng tác về đề tài chiến tranh về sau.

 

Phân tích tác phẩm Hữu Cảm- mẫu số 2

Ra đời sau Nguyễn Trãi hơn một trăm năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kế thừa được những truyển thống văn học tốt đẹp của nhà yêu nước vĩ đại ấy, mặt khác lại phản ánh tâm trạng của cả một tầng lớp trí thức dân tộc phải sống trong buổi suy vi, loạn lạc của chế độ phong kiến.Sống gần suốt thế kỉ thứ XVI (1491-1585), đỗ trạng nguyên, học vấn uyên thâm, đức trọng, tài cao, có uy vọng lớn đối với cả một thởi đại. Quán Trung Tân, Am Bạch Ván, “Bạch Vân Quốc ngữ thỉ tập “ và“Bạch Vân Am thi tập” … là những di sản tinh thần vô cùng cao đẹp của Trạng Trình để lại cho đất nước, quê hương. Ông được nhân dân thời bấy giờ coi như ông thầy của cả một thời đại và tôn là TuyếtGiang phu tử.Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lại trên dưới nghìn bài vừa bằng chữ Hán, vừa bằng chữ Nôm. Thơ ông hàm chứa tinh yêu nước thương dân, thâm trầm tính triết lí. giàu giá trị tố cáo hiện thực lên án chiến tranh phi nghĩa và thói đời đen bạc.“Hữu cảm” (Có cảm xúc) là bài thơ chữ Hán trong tập “Bạch Vân Am thi tập”. Bài thơ xuất hiện trong lúc các phe phái phong kiến (Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn), đánh giết lẫn nhau để tranh giành quyền vị, gâyra bao cảnh đau thương chết chóc cho dân lành! “Hữu cảm” đã thể hiện một niềm ưu ái sâu nặng với đời và dân tộc.Hai câu đầu giọng thơ đầy căm giận lên án lũ “nghịch tặc” đã hoành hành ngang ngược, xâm phạm vàocả kinh đô. Chiến tranh bùng nổ, nội chiến bùng nổ, đất nước bị rơi vào thảm họa, nhân dân ta tan tác điêu linh. Trước biến cố ấy nhà vua và triều đình trải qua thử thách năng nề: “Chúa lo, thần nhục” là bi kịch của một triều đại phong kiến. Nhà thơ chia sẻ với họ, ông thốt lên: “Vua tôi lo lắng xiết bao tình!”Bốn câu thơ trong phần thực và luận, Nguyễn Bỉnh Khiêm phê phán gay gắt chiến tranh phong kiến và biểu lộ tấm lòng thương yêu nhân dân. Ông đã đứng trên lập trường nhân dân, vì sự sống và hạnh phúc của nhân dân mà lên án các tập đoàn phong kiến đã đánh nhau, giành giật nhau quyền vị. Bài thơ đã phản ánh một xã hội loạn lạc và niềm ưu ái sâu nặng của Trạng TrìnhHai câu 3, 4 nối lên niềm mong đợi của dân trong cảnh loạn lạc. Họ cầu mong người đến cứu sống. Từ câu cổ ngữ, một văn liệu: “Hề ngã hậu, hậu lai kỳ tô”, ông rút ngắn lại thành hai chữ “hê tô”, để biểu đạt ý nguyện dân lành thời loạn lạc: “Chờ vua ta đến, vua ta đến sẽ cứu sống ta”. Nỗi chờ đợi của nhân dân không phải là ngày một ngày hai mà đã uất kết từ lâu lắm rồi. Nội chiến diễn ra triền miên trong nhiều thập kỷ của thế kỉ XVI. “Điếu phạt” nghĩa là dấy quân trừng phạt kẻ có tội. Đó là hành động chính nghĩa được nhân dân ta hưởng ứng, ca ngợi. Hành động “Điếu phạt” ấy tựa như trận mưa gặp thời. “Trận mưa gặp thời” làm cho cỏ cây tươi tốt, lòng người nở hoa, thời tiết mát mẻ. Dấy quân đánh kẻ có tội để cứu vãn “đế kinh”, để vãn hồi hoà bình. Nguyên Bỉnh Khiêm đã vận dụng văn liệu cổ Trung Hoa để nói lên ý nguyện nhân dân buôi loạn lạc một cách hàm súc:“Hề tô cửu uất thương sinh vọng Điếu phạt thùy hưng thời vũ binh “(Mong mưa, chan chứa lòng dân vọng Trừ bạo, tưng bừng đạo nghĩa binh) Hai câu 5, 6 nói về lòng dán, tình dân. Cả một vùng rộng lớn, bốn biển, trời cao. Khắp cả nước, đông đảo nhân dân theo về, hướng về người đã cứu vót họ, mang lại hạnh phúc hoà bình cho họ. “Nhật trùngminh” (trời lại sáng) là một hình ảnh mang nghĩa tượng trưng cho cảnh đất nước thanh hình. Câu thơ chữ Hán cũng như câu thơ dịch vang lên một giọng điêu rộn rịp, vui tươi:“Bốn bể vui theo người đạo đức,Khắp nơi lại thấy cảnh thanh bình”Điểu đó cho ta thấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất thương dân, thấu hiểu nỗi đau thương của nhân dân trong nội chiến bao nhiêu lại đổng cảm với lòng khát khao được sổng yên vui, hạnh phúc trong hoà bình của họ bấy nhiêu! Có không ít bài thơ của Trạng Trình cho thấy ông đứng về phía nhân dân để lên án chiến tranh phi nghĩa. Cả đất nước là bãi chiến trường:“Khắp nơi chợ nào cũng máu chảy thành sông, xương chất như núi.”(“Ngụ ý” – thơ chữ Hán) Niềm thương xót nhân dân điêu linh gắn liền với thái độ căm ghét những kẻ tham tàn, dã man đã gây ranội chiến: “Rất đáng ghét việc can qua đầy dẫy trước mắt,Nhân dân trốn chạy muốn tìm nơi an toàn. Khốn đốn trôi giạt, bồng bế nhau đi, thương thay không nơi yên thân”(“Hữu cảm” – thơ chữ Hán)Trở lại hai câu kết của bài thơ “Có cảm xúc”. Cái yêu cái ghét của nhà thơ được thể hiện trực tiếp. Ông ca ngợi và khẳng định: Nhân giả – người có nhân nghĩa, biết thương yêu nhân dân là vô địch. Câu thơ như một châm ngôn, như một chân lí được đúc kết: “Cổ lai, nhân giả tri vô địch!” Người có nhân là người chiến thắng vì được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Câu thơ cuối bài như một lời trách móc, ám chỉ bọn vua chúa thời bấy giờ: “Việc gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh!” Đằng sau câu thơ là tất cả thái độ căm ghét và khinh bỉ bọn người tranh giành quyền lực gây ra cảnh chém giết, núi xương sông máu, coi thường tính mạng và tài sản của nhân dân.“Hữu cảm” là một bài thơ trữ tình có tính nhân dân sâu sắc. Qaa bài thơ này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cập tới một vấn đề mới, chưa hề có trong nền văn học nước nhà trước đó: ấy là sự phê phán gay gắt chiến tranh, đổng thời cũng biểu hiện một tình cảm truyền thống: tấm lòng yêu thứơng nhân dân. Một mặt, ông lên án bọn “nghịch tặc” tham lam, độc ác chỉ “khư khư thích chiến tranh”, mặt khác ông đề cao nhân giả”, ca ngợi họ mang lại yên vui cho nhân dân. Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ rõ: hòa bình hạnh phúc là khát vọng của nhân dân. Ai được nhân dân đội ơn sâu, được nhân dân theo về, ủng hộ, người ấy là “nhân giả vô địch”.Một giọng thơ nghiêm trang, một lối sử dụng ngôn ngữ trang trọng, văn liệu cổ được vận dụng để viết nên những câu thơ hàm súc, mang tư tường, tình cảm sâu sắc. Bài thơ đã phản ánh một xã hội loạn lạc và niềm ưu ái sâu nặng của Trạng Trình đố

Phân tích tác phẩm Hữu Cảm- mẫu số 3

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là một người học rộng tài cao đã từng đỗ trạng nguyên, nhưng trước cuộc đời đen bạc ông chối từ mọi vinh hoà phú quí rút lui về cuộc đời ẩn dật. Tuý quay lưng với xã hội nhưng lòng ông vẫn nặng trĩu một nỗi lo nước thương đời, thương dân. Bài thơ “Hữu cảm” bộc lộ tâm trạng đó của nhà thơ.

Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong giai đoạn lịch sử có nhiều biến động loạn li, các tập đoàn phong kiến vì tranh giành quyền vị đã chém giết lẫn nhau, chiến tranh xẩy ra liên miên. Mở đầu bài thơ, tác giả viết:

“Giặc giã tùng hoành lấn đế kinh”

Những cuộc chiến tranh giữa các phe phái phong kiến không còn lẻ loi nữa mà

đã có qui mô lớn, lan rộng đến kinh đô nơi thường được bỗ phòng cẩn mật. Cuộc

chiến tranhthật khủng khiếp làm cho mọi người đều lo sợ:

“Vua tồi lo lắng xiết hao tình”

Chiến tranh làm cho vua chúa lo lắng vì quyền lợi ngôi báu bị đe dọa, uy hiếp, các bể tôi, những kẻ phục vụ vì vua chúa, quyền lợi của họ gắn liền với vua chúa nên họ cũng đều lo sợ. Trước tình cảnh ấy, nhà thơ tỏ thái độ thông cảm với nỗi lo của chúa, nỗi nhục cùa tôi (chúa lo tôi nhục đáng thương tình xiết bao – lời xỉ Ịch nghĩa).

Nhưng chiến tranh bao giờ cũng là tai họa ghê gớm giáng xuống dầu những kẻ dân đen. Họ phải gánh chịu nhiều đau khổ nhất: tan cửa, nát nhà, mất chồng, mất con vì chiến tranh. Trong các cuộc xâu xé vì quyền lợi của các tậpđoàn phong kiến, họ biến thành những vật hi sinh đáng thương. Vì vậy họ mong chờnhững vị cứu tinh đến giải thoát cho họ ra khỏi cơn binh lửa chiến tranh. Lòng khát khao cháy bỏng đó của dán chúng biết bao ngày tháng đã kết lại thành nỗi uất ức chứa trọng lòng:

“Mong mưa, dán chúng lòng dân vọng,

Trừbạo, tưng bừng đạo nghĩa hình.”

(Chờ người đến cứu sống lòng mong đợi của dân chúng đến từ lâu. Thương dân đánh kẻ có tội, ai dấy quân như trận mưa gặp thời).

Ai là kè “thương dân đánh kẻ có tội”? Chính lúc này nếu có ni đó vì thương dân đứng lên dấy quân để trừng trị kẻ bạo tặc dẹp yên cơn loạn lạcthì bốn bể dân chúng sẽ qui về:

“Bôn hể vui theo người đạo đức.”

Dân chúng sẽ reo vui và mãi mãi nhớ ơn vị cứu tinh đã đem lại cho họ cảnh sống yên vui thái bình:* — •’

“Khắp nơi lại thấy cảnh thanh hình”

Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy đã từng làm quan đại thần dưới thời nhà Mạc… nhưng ông lại là con người  thâu hiểu nỗi khổ đau của nhân dán, đông cảm -vói họ, đứng về phía họ, bênh vực họ.Mọi cuộc chiến tranh rồi cũng kết thúc có kẻ thắng, người bại, nhà thơ đã rút ra một kết luận:

“Xưa nay nhân giả là vô địch” /

Một nhà nho nên rất coi trọng chữ nhân, vì thế ỏng khẳng định kẻ nào vì nhân ái biết thương dân, kẻ ấy sẽ chiến thắng . “Nhân giả là vô địch”. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Bỉnh Khiêm làm ta nhớ lại người anh hùng Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” đã khảng khái tuyên bố:

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhản để thay cường bạo.”

Để kết thúc bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt một câu hỏi:

“Lọ phải khư khư thích’chiến tranh?” ” –

Câu hối thay lời phê phán lên án những kẻ thích gây ra cảnh binh đao chỉ vì quyền lợi ích kỉ? Nhà thơ đứng trên lập trường nhân dân. Xuất phát từ lòng nhân đạo mà lên án chiến tranh.

Phê phán chiến tranh phi nghĩa, một biểu hiện của tư tường tiến bổ Có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ rất sớm nếu không nói đầu tiên – bằng sáng tác của mình đã lên án chiến tranh bảo vệ quyền lợi cùa người dân.

Ngày nay đọc lại bài “Hữu cảm”, lòng ta vẫn xúc động về tấmlòng cùa ông đối với nhân dân. Nguyễn Bỉnh Khiêm thật xứng đáng “cây đại thụ” cherợp bóng văn học  trong mấy thế kỉ.

 

Phân tích tác phẩm Hữu Cảm- mẫu số 4

Có mốt số câu thơ lưu truyền trong dán gian tiên đoán trước một số sự việc, đó là “sấm Trạng Trình”. Trạng Trình chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm – người rất được các vua chúa nể trọng và nhân dân tôn kính. Ông là người thông thái, uyên bác. Mặc dù sống ẩn dật nhưng ông hết sức quan tâm đến vận mệnh đất nước. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nhà thơ đầu tiên ở nước ta đã mạnh dạn lên án chiến tranh  thể hiện khát vọng cuộc sống hòa bình. “Hữu cảm” là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng tiến bộ ấy của ông.

Ngay câu mở đầu, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gợi lên không khí chiến tranh:

“Nghịch tặc xương cuồng phạm đê kinh”

(Giặc giã hoành hành ngang ngược phạm cả vào kinh đô)

Ở giữa kinh đô mà giặc giã đã hoành hành ngang ngược, có nghĩa là cả nước cũng đang rơi vào tình trạng bất ổn. Nguyễn Trãi từng nói “Việc nhân nghĩa cốt ỏ yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Nếu cứ để giặc giã hoành hành thì dân tình hết sức khốn đốn. Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ biết nỗi “lo” của vua, hiểu nỗi “nhục” của quan mà còn cảm hết nỗi đau khổ của dân. về điểm này Nguyễn Bỉnh Khiêm rất gần với tư tưởng “an dân” của Nguyễn Trãi. Hơn ai hết Nguyễn Bỉnh Khiêm thấu rõ niềm mong ước của dân. Nhân dân chờ đợi ước ao có đội quân vì dân mà trừng phạt kẻ có tội. Tác giả so sánh những ai dấy quân trừng phạt kẻ có tội như trận mưa gặp thời:

“Điếu phạt thuỳ hưng thời vũ binh.”

Đội quân đó sẽ được nhân dân hết lòng ủng hộ. Đôi quân đó sẽ được nhân dân ghi nhớ công ơn suốt đời: “Tứ hải y quy dân đới cựu” có nghĩa là: Bốn biển bình yên như cũ nhân dân sẽ nhớ mãi công ơn. nguyễn Bỉnh Khiêm thấu hiểu khát vọng hòa bình của nhân dân. Họ muốn “an cư để “lạc nghiệp”. Khát vọng hòa bình của họ hết sức chính đáng. Bởi vì nước có “giặc giã hoành hành” nhân dân là người gánh chịu hậu quả nặng nề nhất. Cuộc sống của họ luôn luôn bị đe dọa, họ phải sống trong tâm trạng nơm nớp lo âu, tính mạng của họ “nghìn cân treo sợi tóc”. Nhà thơ hết sức thông cảm với nỗi uất hận của họ. Ông lên án những kẻ gây ra thảm họa binh đao. Mà vào thời ông sống, nạn binh đao xảy ra liên miên vì các tập đoàn phong kiến xâu xé nhau, tranh giành quyền lợi.

Nguyễn Bỉnh Khiêm kết thúc bài thơ bằng hai câu buộc mọi người phải suy nghĩ : “Cố lai nhân già tri vô địch Hà tất khu ‘khu sự chiến tranh”

Có nghĩa là: Từ xưa đến nay, người có nhân không ai địch nổi. Việc gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh? “Người có nhân” tức những người có tấm lòng nhân đạo, là những người biết thương dân, quan tâm đến cuộc sống, quyền lợi của dân, là những người mang lại cuộc sống yên ổn cho dân. Những người đó không một kẻ thù nào có thể địch nổi. Sách xưa nói “nhân giả vô địch”. Người có nhân sẽ được dân ủng hộ nên sẽ là người chiến thắng. Từ đó tác giả phê phán những kẻ ưa dùng vũ lực, những kẻ thích gây chiến để mưu cầu quyền lợi ích kỉ của mình: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” Tác giả lên tiếng hỏi: “Hà tất phải khư khư theo đuổi chiến tranh?” Câu hỏi ấy chính là lời lên án chiến tranh, là tiếng nói phản chiến mang ý nghĩa thời sự nóng hổi. Đó cũng là lời cảnh tỉnh cho những kẻ lợi dụng chiến tranh để thực hiện mưu đổ đen tối của mình. Nguyên Bỉnh Khiêm lên án chiên tranh phong kiên trên lập trường, quan điểm  hết sức đúng đắn. Đó là lập trường nhân dân, đó là tư tưởng vì dân. Ở đây tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giống tư tưởng của Nguyên Trãi: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thaycường bạo”.

“Hữu cảm” rõ ràng là một bài thơ rất có giá trị. Thông qua “Hữu cảm” chúng ta vừa hiểu được phần nào hiện thực nước ta trong thời kì chế độ phong kiến mục nát, đang như cỗ xe lao xuống dốc, hiểu được phần nào cuộc sống bất ổn của nhân dân vì những cuộc chiến tranh cắn xé nhau giữa các tập đoàn phong kiến. Đồng thời cũng qua “Hữu cảm” tác giả cũng đã thể hiện được khát vọng hòa bình của nhân dân ta. “Hữu cảm” vì thế là một trong những tác phẩm văn học đầu tiên ở nước ta thẳng thắn nói lên tiếng nói lên án chiến tranh phong kiên. Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của “Hữu cảm” chính là ở chỗ đó.

 

Phân tích tác phẩm Hữu Cảm- mẫu số 5

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), hiệu là Bạch Vân cư sĩ, còn được gọi là Trạng Trình, là nhà văn hóa lớn, nhà thơ lớn, nhà tiên tri vĩ đại của dân tộc ta. Thơ ông thiênvề triết lí, hướng đến những,vâh để lớn của thời đại như phê phán sự thối nát, tham nhũng của bọn quan lại đương thời, phê phán chiến tranh phong kiến, lo lắng đến đời sốngTrừ bạokhốn khổ của nhân dân… Bài thơ “Hữu cảm” là bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tập “Bạch Vân am thi tập”. Bài thơ đã thể hiện nỗi niềm ưu ái cùa nhà thơ đối với đất nước, với vua tôi, với dân. Xuất phát từ lòng thương dân. ông đã phê phán gay gắt chiến tranh phong kiến:

“Giặc giã tung hoành lấn đế kinh,

Vua tôi lo lắng xiết hao tình,

Mong mưa, chan chứa lòng dán vọng,

Trừ hạo, tưng hừng đạo nghĩa hình.

Bôn hể vui theo người đạo đức,

Khắp noi lạt thấy cảnh thanh hình.

Xưa nay nhân giả là vô địch,

Lọ phải khư khư thích chiến tranh.”

Nguyễn Bình Khiêm vừa là nhà thơ vừa là triết gia, nên thơ ông cảm xúc được tiết chế tôi đa: Ngay đầu để bài thơ là “Hữu cảm” (Có cảm xúc) ta đã thấy lí tính trong cảm xúc cua thi nhân. Song bằng lối thể hiện chừng mực, ta cũng thấy được tấm lòng cùa ông đối vói non nước, với vua tôi:

“Giặc giã tung hoành lấn đế kinh,

Vua tôi lo lắng xiết hao tình,”

Hình ảnh “giặc giã tung hoành” đưa lên đầu bài thơ cho thấy một xã hội loạn lạc và thái độ bát bình cùa nhà thơ đối với chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến bấy giờ. “Giặc giã” không phải tung hoành nơi biên cương hay rừng rú mà đã hoành hành ngang ngược phạm vào cả kinh đô là nơi thiêng liêng của một nước. Nhà thơ tỏ lòng thông cảm với vua tôi trong cảnh loạn lạc: “Vua tôi lo lắng xiết bao tình.” “Vua tôi lo lắng” là dịch thoát, trong nguyên văn chữ Hán là “Chủ ưu thần nhục” (Chúa lo, tôi nhục) cònthểhiện rõ cảnh đáng thương của vua tôi. Hai câu để đã để lộ niềm ưu ái cùa nhà thư đối với xã tắc, với vua tôi trong cảnh chiến tranh loạn lạc.

Chuyền sang hai câu thực, tác giả diễn tả lòng mong ước của người dân trong cảnh chiến tranh loạn lạc đó:

“Mong mưa, chan chứa lòng dân vọng,

Trừ bạo, tưng hừng đạo nghĩa hình.”

Câu thơ “Mong mưa…” trong nguyên bản, tác giả rút gọn câu cổ ngữ “Hề ngã hậu, hậu lai kì tô” (Chờ vua đến, vua ta đến sớm sẽ cứu sống ta). Dịch giả đã dùng một hình ảnh ẩn dụ “mong mưa” diễn tả lòng mong đợi, khao khát hành động dẹp giặc cứu dân của vua. Người dân mong ước đội quân “điếu phạt” (thương dân mà trừng trị kẻ có tội) đến “trừ bạo”. Lòng thương dân của nhà thơ thật là cảm động.

Hai câu luận tiếp theo như là hình ảnh của một giấc mơ trong cơn loạn lạc, giấc mơ của tấm lòng thương dân sâu sắc:

“Bốn bể vui theo người đạo đức,

Khắp nơi lại thấy cảnh thanh bình.”

Hai câu luận này, Ngô Lập Chí dịch thoát hai câu nguyên văn chữ Hán:

“Tứ hải y quy dân đới cựu,

cửu thiên chiêu yết nhật trùng minh.”

(Bốn biển theo vé, nhân dân đội ơn đã lâu,

Trời cao nêu tò, vầng nhật lại sáng như xưa.)

Cuộc sống li loạn kéo dài so sự tranh giành của các tập đoàn phong kiến đã khiến người dân thèm khát một ngày thanh bình. Nhà thơ đã hiểu thấu lòng dân, nên đã diễn đạt bằng một hình tượng thơ thật đẹp. Hình ảnh “nhật” (mặt trời) là biểu tượng cho những ngày thanh bình, khói lửa chiến tranh đã tan, trời cao sáng rực vầng mặt ười thật là thiêng liêng.

Hai câu kết cô đọng triết lí sâu sắc:

“Xưa nay nhân giả là vô địch,

Lọ phải khư khư thích chiên tranh.”

Người xưa cũng đã từng nói “nhân già vô dịch”. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dựa vào câu cổ ngữ đó mà nêu lên triết lí vế lòng nhân và phản kháng chiến tranh. Tác giả đồng tình vói người xưa và khắc sâu thêm sức manh tuyệt đối của nhân giả. Xuất phát từ lòng thương dân sâu sắc, tác giả phê phán gay gắt chiến tranh phong kiến. Đây là một nét mới chưa từng có trong văn học trước đó của nhà tư tưởng, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Bài thơ “Hữu cảm” (Có cảm xúc) cùa Nguyễn Bỉnh Khiêm được viết theo thể thơ Đường luật (thất ngôn bát cú – luật trắc vần bằng). Tinh cảm chân thành, sâu sắc, trí tuệ sáng suốt, triết lí đầy sức thuyết phục. Tấm lòng ưu ái sâu nặng của nhà thơ đối với dân và nước sáng vằng vặc trong từng chữ thơ.

 

Nguồn: Tổng Hợp