Top 5 bài viết hay nhất: Bài làm văn số 2:Nghị luận xã hội-Ngữ văn lớp 12

Tuyển chọn top 5 bài làm văn số 2 “Nghị luận xã hội’ văn học lớp 12 hay, ý nghĩa ngắn gọn mà xúc tích để các em tham khảo.

Xem thêm: Top 5 bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống-Ngữ văn 12

Bài viết số 1

Đè bài: Trình bày quan niệm của anh chị về vấn đề sống vô cảm

Bài văn mẫu:

  Beetoven đã từng nói rằng: “Trong cuộc sống không có cái gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem hạnh phúc cho người khác”. Đó quả là một lối sống đẹp, vị tha và sẵn sàng hi sinh cho người khác. Nhưng hiện nay có một thực trạng vô cùng đáng buồn đó là lối sống vô cảm, thờ ơ với niềm đau, nỗi buồn, với cái xấu. Đây quả thực là tình trạng đáng báo động và nó như một căn bệnh dịch lan tỏa ngày càng nhanh trong xã hội.

    Vô cảm tức là sự thờ ơ, dửng dưng, không có cảm xúc với bất cứ sự vật, hiện tượng và vấn đề xã hội xảy ra xung quanh. Họ thờ ơ, không quan tâm chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với những người quanh mình. Họ vô tâm trước lợi ích của cộng đồng và đôi khi thờ ơ với chính tình cảm, tương lai của chính mình. Sự vô cảm này cũng chính là biểu hiện của sự sa đọa về đạo đức, xuống cấp về nhân cách của con người. Đây là một lối sống tệ hại, đáng phê phán, lên án.

    Lối sống vô cảm ngày càng trở nên phổ biến ở trong xã hội. Nó diễn ra ở khắp mọi nơi, mọi không gian và thời gian. Lối sống này tập trung nhiều nhất ở tầng lớp thanh niên, thế hệ mần nong của tương lai đất nước. Những người sống vô cảm thường vô tâm trước cái xấu, cái ác đang hoành hành, diễn ra trước mắt họ. Nếu họ vô tình nhìn thấy một người bị móc túi nơi công cộng, họ sẵn sàng ngó lơ, mặc kệ người bị hại, mặc kệ cái ác tung hoành. Với họ an toàn vẫn là trên hết, hơn thế nữa, việc người kia bị mất mát về tài sản cũng chẳng hề can hệ đến họ, bởi vậy họ dửng dưng đi qua.

    Người sống vô cảm khi gặp những người có hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh thường làm ngơ, không quan tâm, đếm xỉa. Chắc hẳn hiện nay các bạn đã được xem rất nhiều video trên mạng xã hội, khi nhìn thấy người có ý định tự tử họ không cứu giúp khuyên ngăn mà lấy những chiếc điện thoại thông minh, ghi hình phát trực tiếp để “câu like” hay thấy những người bị tai nạn, họ cũng có những hành động tương tự. Quả thực, vô cùng đau lòng và xót xa khi tình trạng xuống cấp về đạo đức và lối sống lại nghiêm trọng đến như vậy.

    Không chỉ vậy, người sống vô cảm còn chỉ biết “nhận” của người khác chứ không biết “cho” đi. Họ chỉ luôn nghĩ về những lợi ích mà bản thân, họ không mảy may quan tâm đến lợi ích của cộng đồng. Lợi ích của bản thân là mục đích tối thượng mà họ hướng đến. Bởi vậy, đôi khi những người này bất chấp thủ đoạn, bằng mọi giá để đạt được nguyện vọng của chính mình.

    Ngoài ra, người vô cảm thường sống lạnh nhạt, thờ ơ với những người xung quanh: cha mẹ, bạn bè, hàng xóm. Họ luôn muốn thu mình vào vỏ ốc chật hẹp, lười giao tiếp. Niềm vui với họ là được ở một mình, làm việc một mình. Họ ngại chia sẻ, yêu thương, không muốn gắn bó với bất cứ ai.

    Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến lối sống vô cảm ngày càng trở nên phổ biến. Đầu tiên phải kể đến là sự phát triển của nền kinh tế thị trường, với tư tưởng thực dụng ngày càng ăn sâu, bám rễ vào tư tưởng của con người. Thương trường như chiến trường, con người ta phải cạnh tranh khốc liệt để sinh tồn bởi vậy họ bất chấp thủ đoạn để được thành công, không quan tâm đến nghĩa tình bạn bè, đồng nghiệp. Thứ hai, có thể kể đến là những hạn chế trong giáo dục. Hệ thống giáo dục dường như nặng nề, thiên về dạy kiến thức hơn là dạy về đạo đức. Đối với mỗi chúng ta, đầu tiên phải là một người tốt trước khi trở thành một người giỏi. Sự lệch lạc này cũng khiến cho căn bệnh vô cảm ngày càng trở nên nhiều hơn. Bên cạnh đó là sự chiều chuộng của bậc cha mẹ, phụ huynh chiều con quá mức. Đáp ứng mọi yêu cầu của con, có những hành xử thiếu đúng đắn khiến đứa trẻ nảy sinh tính ích kỉ, không biết quan tâm, sẻ chia với những người xung quanh. Và cuối cùng là do chính bản thân mỗi người, không có đầy đủ kĩ năng, kinh nghiệm sống, sống ích kỉ, kĩ năng ứng xử, giao tiếp kém. Sống vị kỉ thiếu tình yêu thương với những người xung quanh.

    Lối sống vô cảm đã để lại những hậu quả khôn lường với xã hội. Hãy thử tưởng tượng một xã hội chỉ toàn người vô cảm thì xã hội ấy sẽ ra sao khi cái xấu, cái ác sẽ lên ngôi và thống trị. Cuộc sống khi thiếu đi tình thương yêu các giá trị nhân văn tốt đẹp sẽ đảo lộn, bị triệt tiêu hoàn toàn. Đó quả là một viễn cảnh không ai muốn trở thành hiện thực song nếu căn bệnh này vẫn còn thì viễn cảnh kia trong tương lai sẽ trở thành sự thật.

    Nhưng không phải là không có cách để khắc phục tình trạng trên. Ngay từ bây giờ hãy tạo nên một môi trường sống đầy tình yêu thương, mọi người luôn quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau. Hệ thống giáo dục không chỉ hướng đến đào tạo những con người tài giỏi mà còn phải để học sinh trước hết là những công dân có đạo đức, nhân cách. Lên án, phê phán những kẻ sống thờ ơ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân.

    Đối với mỗi học sinh chúng ta cần ra sức tu dưỡng nhân cách và đạo đức để trở thành con người tốt của xã hội. Sống hòa đồng, yêu thương và san sẻ với những người xung quanh. Có một trái tim rộng mở biết đồng cảm với những nỗi đau, nỗi bất hạnh của mọi người.

    Sống vô cảm là lối sống sai trái, lệch lạc và ẩn chứa đầy nguy hiểm đối với xã hội. Bản thân mỗi người cần xây dựng lối sống lành mạnh, tích cực, sống hòa đồng và yêu thương những người xung quanh. Sống trong tình yêu thương và bằng tình yêu thương xã hội này sẽ ngày một trở nên tốt đẹp hơn.

Bài viết số 2

Đề bài: Nghị luận: “Vào đại học có phải con đường tiến thân duy nhất của giới trẻ hiện nay”

Bài văn mẫu 1:

   Những ngày cuối tháng sáu đầu tháng bảy không khí ở khắp các tỉnh thành trên cả nước lại nóng bỏng hơn bao giờ hết. Hàng triệu thí sinh bước vào kì thi Trung học phổ thông Quốc gia đầy cam go, căng thẳng. Đã từ lâu, in hằn trong nếp nghĩ của mọi người về việc bằng mọi giá phải vào được đại học, bởi đó là con đường lập thân, lập nghiệp duy nhất. Liệu thực sự có phải vào đại học mới là con đường duy nhất giúp chúng ta vươn đến thành công.

    Theo như định nghĩa, giáo dục đại học có nghĩa là “giáo dục thường được diễn ra ở các trường đại học, viện đại học, đại học, trường cao đẳng, học viện và viện công nghệ. Giáo dục đại học nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao đẳng, đại học và sau đại học và gồm cả một số cơ sở giáo dục bậc đại học hay cao đẳng như các trường huấn luyện nghề và trường kinh doanh có trao văn bằng, học thuật hay cấp chứng chỉ chuyên nghiệp.

    Hiện nay nhiều người quan niệm rằng vào đại học là con đường tiến thân duy nhất của giới trẻ. Nhận định này chỉ đúng ở một phần nào đó, không đúng hoàn toàn.

    Đại học là con đường, là mơ ước khát vọng đẹp đẽ mà bất cứ người trẻ nào cũng hướng đến. Đó là chân trời rộng mở, chân trời của tri thức, tự do và sự khám phá, trải nghiệm của bản thân. Vào đại học cũng là cách thức để chúng ta khẳng định bản thân và lập nghiệp. Chúng ta đang sống trong thời đại khoa học kĩ thuật, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ. Nền kinh tế tri thức làm chủ đạo, bởi vậy nếu con người không ngừng học tập sẽ trở nên thụt lùi, lạc hậu và không bắt kịp với xu thế chung của thời đại. Bên cạnh đó, nền kinh tế ngày càng có sự phân loại và chuyên môn hóa cao, nếu chúng ta chỉ có kiến thức của cấp bậc phổ thông không thôi sẽ là chưa đủ, mà cần phải có kiến thức chuyên sâu của bậc đại học để tham gia vào quá trình lao động sản xuất. Hơn nữa, tuổi trẻ là tuổi để dễ dàng tiếp thu các tri thức mới, tiến bộ của nhân loại, lại cộng thêm với sự truyền đạt của những người thầy hàng đầu sẽ giúp các bạn trẻ tiếp cận tri thức một cách dễ dàng hơn. Và cuối cùng, cuộc đời con người là cả một quá trình học hỏi không ngừng, đúng như Lê-nin đã từng nói : “Học, học nữa, học mãi”. Sau khi học phổ thông chúng ta tiếp tục học đại học sẽ tạo nên mạch liên tục cho việc tiếp thu tri thức.

    Vào đại học cũng là con đường ngắn nhất để các bạn có nền tảng vững chắc, được theo đuổi một công việc mình mơ ước, đáp ứng nhu cầu sống của bản thân. Bởi vậy, mỗi chúng ta khi bước chân vào cánh cổng đại học cần phải chuyên cần, tập trung năng lực để tiếp thu tri thức. Không nên ham chơi, mải mê, lãng phí thời gian, tuổi trẻ.

    Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng cần thấy rõ rằng, Đại học không phải là con đường tiến thân duy nhất đối với mỗi người. Tùy vào hoàn cảnh, năng lực của mỗi cá nhân mà chúng ta có những cách lập thân và lập nghiệp khác nhau. Nếu điều kiện gia đình bạn không cho phép học đại học, hãy trở thành một người thợ lành nghề, làm việc thật cần cù, chăm chỉ, khi ấy bạn sẽ trở thành người thành công. Trong cuộc sống của chúng ta có không ít người không vào đại học những vẫn trở thành tấm gương thành công để mọi người noi gương học tập. Có thể kể đến như Michael Dell, nhà sáng lập của tập đoàn Dell. Ông bỏ đại năm 19 tuổi và với số vốn ít ỏi ông đã mở công ty, phát triển công ty nhỏ bé của mình thành một tập đoàn hùng mạnh như hiện nay. Hay Henry Ford, ông chưa tốt nghiệp trung học, nhưng ông đã sáng lập nên một trong những tập đoàn sản xuất ô tô lớn nhất thế giới Ford.

    Quả thực vào đại học là con đường nhanh nhất, ngắn nhất để chúng ta đi đến cái đích của sự thành công. Nhưng chúng ta cũng cần hiểu rằng vào đại học không phải là con đường duy nhất. Chúng ta sẽ có rất nhiều con đường khác nhau, có thể xa hơn, vòng vèo, vất vả hơn nhưng nếu có ý chí và nghị lực, nhất định ai cũng sẽ vươn đến cái đích của sự thành công. Vào đại học chỉ là một bước đệm còn quan trọng nhất vẫn là ở bản thân, ở ý chí, nghị lực của mỗi con người.

Bài văn mẫu 2:

    “Vào đại học có phải con đường tiến thân duy nhất của tuổi trẻ ngày nay?”. Có lẽ đây là câu hỏi luôn nhức nhối của mỗi bạn học sinh, đặc biệt là các bạn cuối cấp. Giữa hai con đường chọn lựa, nên tiếp tục con đường học vấn vào đại học, hay kết thúc việc học, học nghề và ra đời tự nuôi sống bản thân.

    Như chúng ta biết rằng, việc học đối với mỗi người là vô cùng quan trọng. Mười hai năm học tập tại trường là cơ sở để các bạn có thể vững bước vào đời, hoặc tiếp tục học vấn. Mỗi người sẽ có những lựa chọn khác nhau, nhưng đâu mới là lựa chọn tốt nhất?

    Vào đại học là lựa chọn tốt nhất? Ai ai cũng hiểu rằng, khi học vấn bản thân được nâng cao, cũng đồng nghĩa với việc cơ hội việc làm, cơ hội tiến thân sẽ nhanh chóng hơn rất nhiều. Vào đại học bạn sẽ được trang bị rất nhiều kiến thức, kĩ năng làm nền tảng để sau này sử dụng vào việc làm nghề. Bởi đại học không chỉ đơn thuần là lí thuyết, mà còn là thực tiễn, là những vấn đề đào tạo đến việc bạn ra trường sau này. Bởi vậy, học đại học sẽ cho bạn một hành trang vô cùng vững chắc để sau này tìm được một công việc phù hợp với năng lực bản thân, thích hợp với cá tính và mơ ước của chính mình. Trường đại học có lẽ là nơi rất tốt để ươm mầm tài năng, thúc đẩy tài năng của bạn.

    Nhìn vào tình hình thực tế, chúng ta có thể thấy những người giỏi giang, tài ba, có nền kinh tế vững chắc hầu hết đều là những người có học vị, học hàm cao. Họ là người có kiến thức uyên thâm, là những học viên nổi tiếng của các trường Đại học. Nhà vật lí vĩ đại thế kỉ XX – Stephen Hawing, 17 tuổi vào đại học danh tiếng Oxford. Con đường học tập của ông không ngừng được nâng cao, với những nghiên cứu và phát hiện của mình, ông đã tạo ra bước ngoặt lớn cho vật lí hiện đại. Tổng thống da màu người Mĩ đầu tiên, Barack Obama là một trong những sinh viên xuất sắc nhất của khoa luật trường đại học Havart. Nhắc đến Havart là nhắc đến cái nôi đào tạo của những nhân tài nổi tiếng thế giới. Với sự uyên bác của mình, Obama đã giữ trọng trách tổng thống trong hai nhiệm kì, có những đóng góp quan trọng đối với cục diện thế giới. Nhìn vào đây có thể thấy, học đại học quả là con đường lập thân và lập danh quan trọng thiết yếu đối với mỗi con người.

    Không vào đại học vẫn có thể lập thân, lập danh? Quả thực đúng như vậy, không nhất thiết vào đại học mới có thể làm nên công việc, sự nghiệp cho bản thân. Hiện nay, ở Việt Nam hiện tượng thừa thầy, thiếu thợ ngày càng trở nên phổ biến. Thầy thì quá nhiều, mà chưa chắc đã giỏi, thợ ít ỏi lại non kém về tay nghề. Bởi ai cũng đua nhau đi học Đại học. Thực trạng này càng ngày càng trở nên báo động. Chỉ vì một chút danh được học đại học, mà rất nhiều người lao đầu vào những trường đại học kém về chất lượng. Và kết cục khi họ mang tấm bằng ra khỏi trường chỉ là một tờ giấy, không kinh nghiệm, không kĩ năng và sẽ bị xã hội đào thải. Vậy tại sao không trở thành một người thợ giỏi, đem sức mình để nuôi sống bản thân, thay vì bốn năm ăn bám gia đình, cuối cùng vẫn không thể tự lực tìm cho bản thân một việc làm.

    Anna Wintour là một nhà báo nổi tiếng trong lĩnh vực thời trang. Sau khi tốt nghiệp trung học bà không vào đại học mà dấn thân vào con đường làm báo, và trở thành tổng biên tập của nhãn hàng thời trang hàng đầu Vogue. John D.Rockefeller một trong những người giàu có nhất nước Mĩ. Ông được mệnh danh là ông trùm dầu mỏ, tài sản của ông ước tính thời điểm hiện tại lên đến 340 tỷ USD. Ông bỏ học để kiếm việc làm, sau nhiều công việc, ông đã thành lập hang lọc dầu Standard Oil và trở thành tỉ phú. Như vậy, học đại học cũng không phải con đường duy nhất để chúng ta lập thân, lập danh.

    Mỗi chúng ta có một hoàn cảnh sống riêng, sở thích và năng lực riêng. Không chỉ có vào đại học mới thành công, nếu bản thân đam mê, nếu hoàn cảnh không cho phép bạn vẫn có thể tự tin vững bước học nghề, rồi bắt tay vào một công việc. Chẳng phải mục đích của chúng ta là sống an yên và hạnh phúc đó sao, thành công ấy là khi bạn làm ra những đồng tiên chính nghĩa bằng chính năng lực của mình.

Bài viết số 3

Đề bài: Nghị luận xã hội về giá trị của thời gian

Bài văn mẫu:

 Người ta vẫn thường nói rằng “Thời gian là vàng”. Quả thực đúng như vậy, thời gian với vũ trụ tuần hoàn, còn đối với con người lại một đi không trở lại. Bởi vậy nó vô cùng quý giá đối với cuộc sống của mỗi chúng ta. Mỗi người chỉ có một quỹ thời gian giống nhau, vậy làm sao để sống một cuộc đời thật ý nghĩa.

    Theo như định nghĩa của Wikipedia, thời gian có nghĩa là: “Thời gian là một khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của chúng. Thời gian được xác định bằng số lượng các chuyển động của các đối tượng có tính lặp lại và thường có một thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó”.

    Thời gian là vô cùng quý giá, không gì có thể nói lên hết được giá trị của chúng. Mỗi khoảnh khắc chúng ta được sống, được hoạt động là duy nhất trên cõi đời này, sẽ không bao giờ lấy lại được những cái đã qua. Thời gian giúp ta ngày càng trưởng thành, mạnh mẽ, sau khi vượt qua những giống tố trong cuộc đời, con người bao giờ cũng già dặn, chín chắn hơn. Thời gian là liều thuốc tôi luyện con người ra trưởng thành.

    Thời gian còn giúp xóa đi những hận thù, làm nhòa đi những ân oán. Thời gian là liều thuốc tốt nhất giúp ta cân bằng lại cuộc sống sau những khổ đau và mất mát.

    Không chỉ vậy, thời gian còn có ý nghĩa khẳng định giá trị của mỗi cá nhân trong cuộc sống này. Bạn có thể bỏ ra rất nhiều tiền để trang hoàng lên bản thân những món đồ xa xỉ, đắt tiền, nhưng thời gian trôi đi bạn sẽ bị lãng quên vào quá khứ. Chẳng một ai còn nhớ đến bạn. Nhưng đối với con người có ý chí, nghị lực, dành những thành tựu to lớn cho nhân loại, thì thời gian chính là chứng nhân minh chứng cho sự trường tồn vĩnh cửu của bạn. Thời gian ở đây là thứ thuốc thử về sự vĩ đại của bạn đối với nhân loại, người ta sẽ còn nhớ mãi về nhà khoa Albert Einstein, Isaac Newton, Galileo Galilei, Charles Robert Darwin,… những nhà khoa học thiên tài, lỗi lạc để lại cho nhân loại những tri thức uyên thâm.

    Thời gian, đồng thời cũng cướp đi tuổi trẻ, sức khỏe của chúng ta một cách âm thầm, lặng lẽ. Và chúng cũng có thể làm thay đổi tính cách của một con người. Xóa nhòa và lãng quên mọi chuyện vào dĩ vãng. Thời gian quả thực có sức mạnh phi thường.

    Thời gian vô thủy vô chung, một đi không trở lại, vậy chúng ta cần làm gì để có thể sử dụng thời gian một cách hợp lí. Bản thân mỗi người đều có những mốc thời gian cho những việc làm nhất định, khi còn nhỏ chúng ta cần tiếp thu tri thức nền, làm nền tảng cho những cấp học cao. Bước vào cuộc sống thời gian dùng để làm việc, không ngừng phấn đấu. Như vậy mỗi quãng đời của con người luôn có những công việc chính, mục đích chính mà ta cần đạt đến bên cạnh rất nhiều công việc có ý nghĩa khác. Bởi vậy chúng ta cần tập trung sức lực, tranh thủ từng giờ, từng phút không ngừng học hỏi trau dồi tri thức, rèn luyện nhân cách, học hỏi để hoàn thiện bản thân và không lãng phí thời gian.

    Không chỉ vậy, trong quá trình làm việc cần làm kiên quyết, mạnh mẽ, dứt khoát, không được trì hoãn. Trì hoãn một lần sẽ là cái cớ để bạn trì hoãn những lần sau tiếp theo và chắc chắn rằng cánh cửa thất bại đang đợi chờ bạn ở phía trước.

    Để quản lí thời gian tốt cần lên cho mình những kế hoạch cụ thể với thời gian cụ thể. Trong các khoảng thời gian đó cần có sự phân bố hợp lí giữa thời gian học, vui chơi, giải trí, làm việc,… để bản thân luôn có một trạng thái tinh thần tốt nhất.

    Bên cạnh những người biết sử dụng thời gian hợp lí, có hiệu quả lại có rất nhiều người lãng phí thời gian vào những việc vô bổ. Và đặc biệt giới trẻ hiện nay lãng phí quá nhiều thời gian vào việc lướt web, xem các mạng xã hội,… mà không ngằm mục đích gì. Những việc làm đó không chỉ lãng phí thời gian, mà còn lãng phí cả thanh xuân, tuổi trẻ và đang dần đánh mất tương lai của chính bạn.

    Thời gian là thứ không thể nhìn thấy, không thể cầm nắm nhưng lại có giá trị to lớn, và tác động sâu sắc đến cuộc sống mỗi người. Cuộc sống hiện đại hối hả, gấp gáp càng đòi hỏi hơn nữa chúng ta phải biết cách sử dụng thời gian hợp lí. Sử dụng thời gian hợp lí là một trong những cách thức để đạt thành công.

Bài viết số 4

Đề bài: Nghị luận xã hội về giá trị của bản thân

Bài văn mẫu:

uộc sống của chúng ta là một hành trình dài tìm kiếm và khẳng định giá trị của bản thân. Liệu bạn đã hiểu đúng giá trị của bản thân mình, liệu giá trị bản thân là ở vẻ ngoài hào nhoáng. Nhưng “Cái giá trị của một người không đo bằng địa vị, bằng cấp mà đo bằng sự ích lợi của người đó đối với đồng bào, xã hội ngoài công việc mà người đó làm để mưu sinh”.

    Giá trị bản con người là ở những nội lực sẵn có trong mỗi cá nhân, là trí tuệ, sắc đẹp, nhân cách,… Giá trị của một con người còn là những việc làm cụ thể mà con người đó dùng dể phục vụ cộng đồng, xã hội. Giá trị của con người không phải chỉ toát lên ở sắc đẹp, những khối tài sản khổng lồ người đó sở hữu mà quan trọng nhất vẫn là toát lên ở nhân cách cao đẹp, lối sống vị tha, sẵn sàng hi sinh, phục vụ cho cộng đồng, dân tộc.

    Trong cuộc sống, ngoài sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng, mỗi chúng ta cần phải ý thức được giá trị của bản thân mình. Khi bạn ý thức được giá trị của bản thân tức là khi bạn đã biết được điểm mạnh, điểm yếu của chính mình. Và lúc ấy bạn sẽ biết làm thế nào để phát huy tối đa những tiềm lực vốn có của mình và sửa chữa những khuyết điểm còn tồn tại. Đồng thời khi đã biết những điểm mạnh của bản thân cũng giúp chúng ta tự tin trong hành động, luôn luôn cố gắng để đạt tới cái đích mà mình đã lựa chọn. Ngược lại, nếu đến chính giá trị của bản thân mình bạn cũng không hiểu thì thật khó để lựa chọn được con đường đúng đắn, thiếu tự tin với chính quyết định của mình. Và từ đó cũng dễ dàng gặp thất bại.

    Giá trị của mỗi con người không nằm ở khối tài sản khổng lồ mà anh ta có được. Nếu một người có khối tài sản lớn, mỗi năm kiếm hàng triệu đô, nhưng lại chỉ biết nghĩ cho mình, không biết nhường cơm, sẻ áo cho những người có số phận bất hạnh, lúc đó giá trị của bạn vẫn chưa được khẳng định. Ngược lại, một người có tài sản ít hơn, nhưng có trái tim nhân hậu, luôn giúp đỡ những người quanh mình, để cuộc sống của mọi người được tốt đẹp hơn. Chỉ khi ấy con người mới khẳng định được giá trị của mình. Như vậy, giá trị của con người không phải số tiền anh tích lũy được mà là cách ứng xử nhân văn của anh ta với số tiền mà anh ta làm ra.

    Giá trị của một con người cũng không nằm ở nhan sắc mà họ sở hữu. Trước hết, ta cũng cần khẳng định rằng, nhan sắc cũng là một giá trị riêng của con người, nhưng nó không phải là yếu tố chính, yếu tố quyết định làm nên giá trị đích thực của một con người. Vì nhan sắc cũng sẽ tàn phai theo năm tháng, chỉ có những việc bạn phục vụ cộng đồng là còn mãi với thời gian. Bởi vậy mà ông cha ta đã có câu: “Trăm năm bia đá cũng mòn/ Nghìn năm bia miệng vẫn con trơ trơ” là cũng vì lẽ đó. Nếu bạn làm được những việc tốt, phục vụ cộng đồng xã hội chắc chắn tiếng thơm sẽ lưu danh muôn thuở.

    Albert Einstein, cha đẻ của ngành vật lí hiện đại, với thuyết tương đối của mình đã tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong ngành vật lí hiện đại, là kim chỉ nam của lĩnh vực khám phá vũ trụ. Thomas Alva Edison với hơn một nghìn phát minh, trở thành nhà khoa học vĩ đại nhất của lịch sử loài người,… Và rất nhiều nhà khoa học khác, có những đóng góp to lớn, vĩ đại cho sự phát triển của xã hội hiện đại. Còn ở đất nước ta không thể không nhắc đến chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đem lại ánh sáng của tự do, hạnh phúc cho dân tộc, giải phóng dân tộc ta khỏi khiếp lầm than, nô lệ. Những con người vĩ đại này, hàng ngàn, thậm chí hàng vạn năm sẽ mãi được mọi người nhớ đến và biết ơn những gì họ đã đóng góp cho nhân loại. Như vậy, ta có thể thấy rằng, giá trị đích thực của một con người là nằm ở những gì anh ta đã cống hiến, phục vụ cho cộng đồng, xã hội.

    Mỗi cá nhân là một thực thể riêng biệt, độc đáo, mỗi người có giá trị riêng. Có những người ngay từ khi sinh ra đã có những ưu điểm nổi trội, nhưng lại có những người cần rèn luyện, phấn đấu để tạo ra giá trị đích thực của mình. Dù là giá trị sẵn có hay cố gắng xây dựng thì mỗi chúng ta hàng ngày hàng giờ vẫn phải không ngừng nỗ lực, cố gắng, rèn rũa bản thân để khẳng định được giá trị của chính mình.

    Là một học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, cách để các bạn tạo ra giá trị bản thân không gì khác chính là học tập, tu dưỡng đạo đức. Hãy là con ngoan, trò giỏi, nhiệt tình giúp đỡ bạn bè cùng tiến bộ, hăng hái tham gia các hoạt động phong trào để trau dồi kĩ năng cho chính mình. Rèn luyện bản thân ở thời điểm hiện tại chính là cách để bạn khẳng định giá trị của mình ở tương lai.

    Hành trình để khẳng định giá trị của chính mình không hề là hành trình đơn giản. Mà nó là một hành trình đầy khó khăn, gian khổ, hành trình của khẳng định tri thức và rèn luyện nhân cách. Không có quả ngọt nào được hưởng thụ mà không phải trải qua đắng cay, thất bại, và hành trình đi đến giá trị của mình cũng vậy. Bản thân mỗi người cần nỗ lực, cố gắng hết mình để tìm thấy giá trị đích thực của bản thân.

Bài viết số 5

Đề bài: Nghị luận xã hội về: “Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông”

Bài văn mẫu:

Trong những năm gần đây, có thể nhận thấy tình hình trật tự ATGT ở nước ta có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là trên lĩnh vực giao thông đường bộ. Tính chất TNGT ngày càng nghiêm trọng hơn.Vậy là thế hệ tuổi trẻ, là thế hệ mai sau của đất nước, chúng ta phải làm thế nào để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông.

   Tai nạn giao thông và những thiệt hại do tai nạn gây ra đang là nổi lo và vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Đó là thiệt hại về sinh mạng, thiệt hại về nhân lực, trí tuệ, gây tổn thương về tinh thần xã hội, về vật chất, tiền của và cả nỗi đau thể xác, tinh thần dai dẳng. Điều ấy đã và đang đặt ra cho toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ tuổi trẻ hơn bao giờ hết phải nêu cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm để chung sức kiềm chế, đẩy lùi những nguy cơ trên.

 

   Sự hiểu biết còn hạn chế về an oàn giao thông đường bộ và số người chết do tai nạn giao thông.

   Sự hiểu biết còn hạn chế về quy định giao thông, về các hành vi lái xe an toàn.

   Môi trường giao thông không an toàn và cơ sở hạ tầng giao thông nghèo nàn.

   Những hành động nguy hiểm thường gặp của thanh niên như lạng lách, đua xe máy là nguồn gốc của nhiều tại nan giao thông.

   Trong vòng 10 năm qua, số vụ tai nạn giao thông đã tăng gấp 4 lần. Theo điều tra chấn thương liên trường (VMIS), trong năm 2001 có 4.100 trẻ chết do tai nạn giao thông, tương đương với 11 trẻ chết 1 ngày. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em trai gấp 2 lần tỷ lệ này ở trẻ em gái. Trong khi đó có 290.000 trẻ bị thương do tai nạn giao thông cũng trong 2001, tương đương với 794 trẻ/ngày. Tai nạn giao thông là nguyên nhân tử vong hàng đầu của trẻ em từ 15 tuổi trở lên.

   Bà Isabelle Bardem, Trưởng phòng Phòng chống Tai nạn Thương tích Trẻ em của UNICEF nói “Tai nạn giao thông có ảnh hưởng nặng nề đối với trẻ Việt Nam. Không chỉ rất nhiều trẻ trực tiếp bị tai nạn giao thông gây tử vong hoặc thương tật nặng nề, còn có biết bao trẻ khác bị ảnh hưởng gián tiếp bởi cha, mẹ các em bị tai nạn giao thông cướp đi sinh mệnh hoặc tàn tật”. Phần lớn trẻ 0-9 tuổi chết là người đi bộ. Đa số trẻ 10-14 tuổi chết khi đi xe đạp trong khi tất cả các ca tử vong ở đối tượng 15-19 tuổi là người đi xe máy.

   Ở cấp quốc gia, vận động để giúp cho công chúng hiểu rõ hơn về luật giao thông và tăng cường nghiêm chỉnh chấp hành luật.

   Thực hiện chương trình giáo dục phòng chống thương tích trong trường học giúp học sinh có kỹ năng về giao thông để phòng tránh tai nạn khi đi bộ, đi xe đạp hay xe máy.Tổ chức các cuộc thi an toàn giao thông cho mọi người đặc biệt là thanh thiếu niên. Hỗ trợ người dân thực hiện các hoạt động thông tin truyền thông phù hợp với điều kiện địa phương. Huấn luyện cho các tuyên truyền viên đi đến từng hộ gia đình tuyên truyền về phòng chống tai nạn bao gồm cả các tai nan giao thông.Hỗ trợ các xã xây dựng sân chơi an toàn cho trẻ để trẻ có thể chơi an toàn xa đường giao thông.Tổ chức các cuộc hội thảo cho các cấp lãnh đạo xã về việc thi hành pháp luật bao gồm luật an toàn giao thông.

   Để hạn chế tai nạn giao thông không phải còn là vấn đề đơn giản, mà đó đã và đang là vấn đề nóng cho toàn xã hội và đất nước. Vì vậy, với việc giảm thiểu tai nạn giao thông nói chung, nhà nước cần phải có một sộ biện pháp mạnh với những kẻ không ý thức, những kẻ cố tình gây nạn cho người khác,và đó chính là những kẻ phóng nhanh vượt ẩu làm mối đe dọa cho người tham gia giao thông. Còn đối với giao thông học đường nói riêng chấn chỉnh giao thông học đường, cần cả xã hội chung tay. Sự đồng thuận giữa gia đình, nhà trường và xã hội không chỉ được thể hiện bằng văn bản, giấy tờ, những lời hứa suông,… mà phải bằng hành động cụ thể.

   Trách nhiệm của gia đình và nhà trường cũng cần phải xem xét khi không hoàn thành nhiệm vụ giáo dục các em. Nhà trường cần đa dạng hoá các sinh hoạt ngoại khoá của học sinh, sinh viên, trong đó có các hoạt động về tuyên truyền, phổ biến pháp luật giao thông. Hàng năm, nếu điều kiện cho phép, các trường chủ động phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức học luật và sát hạch cấp giấy phép lái xe tại trường đối với những học sinh đủ tuổi. Cần coi ý thức chấp hành pháp luật về giao thông như một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá ý thức rèn luyện đạo đức của học sinh, sinh viên: xếp loại đạo đức trung bình đối với học sinh, sinh viên vi phạm giao thông lần một và xếp loại yếu nếu vi phạm lần hai trong cùng một năm học.

   Là một học sinh, mỗi chúng ta phải xem xét lại mình đã bao giờ vi phạm lỗi giao thông không, có bao giờ gây tai nạn giao thông không. Tất nhiên là có, không ai chưa bao giờ vi phạm lỗi giao thông dù đó chỉ là một lỗi nhỏ, nhưng qua mỗi lần như vậy chúng ta phải biết nhìn nhận và rút kinh nghiệm để lần sau không tái phạm và mỗi học sinh chúng ta phải tự giác làm đúng các nguyên tắc an toàn giao thông mà nhà trường và xã hội đã chỉ dẫn.Có như thế thì tuổi trẻ học đường đã góp một phần nào trong việc giảm thiểu tai nạn giao thông, một vấn nạn mà xã hội và đất nước đang tìm cách khắc phục.

.