Top 5 bài văn phân tích tác phẩm “Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Công Hoan là cây bút trào phúng xuất sắc với phong cách của một nhà văn hiện thực bậc thầy. Ông sử dụng tiếng cười để đả phá ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và bè lũ tay sai. “Tinh thần thể dục” là một trong những tác phẩm hay của tác giả ra đời năm 1939 khi thực dân Pháp rầm rộ cổ động phong trào thể dục thể thao nhằm đánh lạc hướng sự tranh đấu đòi độc lập chủ quyền của tầng lớp thanh niên. Thông qua tác phẩm, tác giả phê phán thói giả dối, chính sách lừa bịp mị dân của bọn cầm quyền thực dân phong kiến. Trong khi cuộc sống của nhân dân ta vô cùng khốn khổ thì chính quyền tay sai thực dân lại bày đặt những trò thể thao xa xỉ.

Bài văn phân tích tác phẩm “Tinh thần thể dục” số 1

Nguyễn Công Hoan là nhà văn hiện thực trước Cách mạng tháng tám. Ông thường viết các thể loại truyện ngắn, truyện dài nhưng sở trường là truyện ngắn trào phúng. Ngôn ngữ truyện của ông gần gũi, đời thường, tự nhiên, linh hoạt. Tinh thần thể dục được Nguyễn Công Hoan cho in báo năm 1939, nội dung đả kích phong trào thể thao do thực dân Pháp bày ra để đánh lạc hướng thanh niên.

Nhan đề truyện ngắn chứa tương phản trào phúng cơ bản của truyện và ý nghĩa phê phán toát ra từ sự tương phản ấy. Tinh thần thể dục thể thao bình thường luôn đem lại sự hào hứng, hăng say, phấn chấn; thể hiện tinh thần tự nguyện, tranh đua, mang đến niềm vui lành mạnh. Nhưng trong truyện thì ngược lại hoàn toàn, chỉ thấy ép buộc, răn đe, không khí căng thẳng, điêu đứng, là nỗi đau khổ, là thứ tai họa giáng xuống, xóm làng bị một phen náo loạn, tan tác.

Vì sao dân làng Ngũ Vọng đón tin thể thao như vậy? Dân tình đói khổ, đang chạy ăn từng bữa còn tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện thể thao. Bọn thực dân bày ra, bọn tay sai mẫn cán thực hiện, ép buộc dân chúng đi xem bóng đá, khiến họ rơi vào tình cảnh dở khóc, dở cười. Nhan đề truyện toát lên ý nghĩa tố cáo trò lừa bịp bợm của thực dân và bọn quan lại tay sai cố làm vừa lòng quan thầy chúng, mặc tình nhân dân phê phán thứ thể thao xa lạ làm nguy hại đến mạng sống người dân nghèo.

Mở đầu truyện, tác giả trích nguyên văn tờ trát của quan tri huyện Lê Thăng đầy tính hài hước, bịp bợm. Cách mở truyện tự nhiên, đột ngột, gây chú ý cho người đọc (yếu tố hiện đại trong văn xuôi). Ngôn ngữ hành chín của tờ trát rất cổ lỗ: sức, tuân cứ, cữu. Lời lẽ nghiêm trang đầy vẻ hăm dọa: … đúng 12 giờ trưa đến xem, không được khiếm diện,… nếu không tuân lệnh sẽ bị cữu (bị kết tội), xen vào là những lời quảng cáo rất buồn cười: … có cuộc đá bóng thi, nhiều chiến tướng đã rất hay, mọi nhẽ.

Tờ trát đã làm hiện lên bóng dáng trên tri huyện Lê Thăng: vừa hô hào, vừa hăm dọa với thái độ tay sai mẫn cán, lộ rõ tính chất bịp bợm. Ý nghĩa phê phán nhờ đó mà được thể hiện. Tờ trát bay về làng như mang theo dịch bệnh. Dân tình nghèo đói bị một phen náo động.

Xem cảnh nhà lí trưởng sẽ thấy rõ tình cảnh khốn đốn của nhân dân. Đây là màn kịch giàu kịch tính. Cảnh 1: Anh Mịch đến tận nhà ông Lí cố xin nghỉ đi xem đá bóng, ông Lí thì cố bắt. Lí do anh ta đưa ra rất chính đáng: nghỉ làm cho ông Nghị thì sẽ bị ông ấy đánh chết. Mà không đi làm thì vợ con chết đói.

Anh Mịch van: “Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy… Ông thương phận nào con nhờ phận ấy”. Ngôn ngữ Anh Mịch tự nhiên còn điệu bộ thật bi hài. Đi xem bóng đá là một tình thế nguy hiểm, tai họa này lôi thêm tai họa khác: ông Nghị giận là chết. Người nông dân đang mang hai cái ách trên cổ: bọn nhà giàu và bọn quan lại.

Ông Lí lạnh lùng: “Kệ mày! Theo lệnh quan, tao chiếu sổ đinh, thì lần này đến lượt mày rồi… không đi, tao sai tuần đến gô cổ lại”. Hỗ trợ cho lời nói, ông giơ cái roi song to bằng ngón chân lên trời hăm dọa, ép buộc. Bản chất việc đi xem bóng đá là một thứ đi phu nặng nề, còn ông Lí là một tên tay sai u tối.

Cảnh 2: Bác Phô đến van nài xin cho chồng nghỉ xem đá bóng. Lí trưởng thẳng thừng từ chối. Lí do bác đưa ra rất thiết tha: Chồng bác ốm, ra nắng sẽ chết ốm. Thấy tình thế không xuôi, bác Phô xin đi xem đá bóng thay cho chồng cũng không được. Đây là chi tiết hài. Ngôn ngữ bác Phô bình dân tự nhiên, dáng ngồi xổm rất nhà quê, chất phác.

Lí trưởng bác bỏ: Không được, theo lệnh quan ốm gần chết cũng phải đi, “Không đi, thì người ta đá bóng cho chó xem à?”. Bác gái đi thay cũng không được vì phận nữ nhi. Ngôn ngữ lí trưởng thô tục, hài hước nhưng lột tả được bản chất vấn đề. Bác Phô lâm vào tình thế cùng đường. Xem đá bóng quả là tai họa, nguy ại đến tính mạng.

Cảnh 3. Người tương đối khá giả trong làng là cụ phó Bính thì giải quyết bằng cách thuê người đi xem đá bóng thấy có con trai nhưng cũng phải lo đút lót cho ông lí để che giấu sự phạm pháp. Thật bi hài. Ông Lí chấp thuận, nhưng… nhăn mặt, nhặt ba hào, bỏ túi còn rên rỉ: “Làm việc mà gặp phải những người như con bà, thì tôi chết mất”. Ông đa đang đóng kịch, bộ mặt rất kịch, hài hước. Cẩn thẩn, ông còn dặn thêm phải bảo thằng Sang nắm cơm từ chiều hôm trước. Tai họa vì đi xem đá bóng cứ phình to.

Mẫn cán đến thế mà sáng hôm sau vẫn không đủ một trăm người đi xem đá bóng. Tờ mờ sáng, cảnh lùng sục, bắt bớ náo động: tiếng ông lí quát giữa sân đình, tiếng bọn tuần dạ rạn, những ngọn đuốc kéo đi các ngả, tiếng chó rống dậy. Nghệ thuật miêu tả âm thanh, ánh sáng… đã dựng lên khung cảnh sống động, tạo không khí căng thẳng, náo loạn mang tính chất khủng bố (giống nạn bắt người trốn sưu thuế).

Đêm trước người ta tản cư sang làng bên để lánh nạn cả, may mắn bắt sống được anh Cò đang ôm con trốn trong đống rơm. Người ta moi anh ra rồi đi xềnh xệch. Một cảnh tượng bi hài. Lí do trốn: anh không mượn được quần áo để mặc, với lại không đi làm thuê thì chết đói cả nhà.

Cảnh đoàn người được dẫn đi xem đá bóng thất thểu, thảm hại như cảnh đi phu nhưng bên ngoài thì giống như đi diễu hành: “xếp hàng năm lại, đi cho đều bước”. Bọn tuần và lí trưởng đi theo cánh giữ cẩn thận chẳng khác gì giữ đám tù nhân. Thật bi hài.

Kết thúc là tiếng chửi đổng của ông Lí, khi vừa đi kèm canh gác đoàn người: “Mẹ bố chúng nó, cho đi xem đá bóng chứ ai giết chết mà phải trốn như trốn giặc”. Chi tiết này là đỉnh cao của màn cao trào phúng bộc lộ bản chất sự kiện: thể thao là một thứ giặc và làm toát lên chủ đề của truyện.

Truyện thành công trong nghệ thuật trào phúng: tạo tình huống tương phản trào phúng; cách dẫn truyện, dựng cảnh; nhiều chi tiết gây cười; ngôn ngữ trào phúng sử dụng đắc địa. Truyện Tinh thần thể dục đả kích phong trào thể thao bịp bợm do thực dân chủ trương, bọn tay sai mẫn cán ra sức thực hiện trở thành tai họa khốn khổ cho nông dân.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

 

Bài văn phân tích tác phẩm “Tinh thần thể dục” số 2

Truyện ngắn Tinh thần thể dục (đăng trên tuần báo tiểu thuyết thứ bảy số 251, ngày 25/3/1939) đã vạch rõ tính chất bịp bợp của phong trào “thể dục thể thao”, “vui vẻ trẻ trung” đương thời mà thực dân Pháp cổ động rầm rộ để đánh lạc hướng thanh niên.

Có thể thấy Tinh thần thể dục là một tấn bi hài kịch xung quanh chuyện thể thao lúc bấy giờ. Vào những năm đầu thế kỉ XX. Sau khi đặt xong ách thống trị ở Việt Nam và Đông Dương, thực dân Pháp bắt đầu tuyên truyền cho chính sách khai thác thuộc địa của chúng.

Với các chiêu bài “mở mang nền văn minh tân tiến”… để lừa bịp nhân dân toàn thế giới, rằng chúng đến An Nam để “khai hoá văn minh” nhưng thực chất là để che đậy bản chất thực dân của chúng, che đậy dã tâm cướp nước xâm lăng. Hành động của chúng đã tạo nên một vở hai kịch đặc biệt: “Tinh thần thể dục”.

Chất bi hài kịch bộc lộ rõ ngay từ đầu tác phẩm, trong trát quan gửi xuống: Nay thừa lệnh Tinh đường…., tại sân vận động huyện có cuộc đá bóng thi, nhiều chiến tướng đá rất hay, mọi nhẽ”… Bức trát quan với nội dung thể thao “vui vẻ trẻ trung” mà như một mệnh lệnh bắt người ta đi xem như bắt đi phu đi lính. Đã thế, trát quan lại hết lời quảng cáo cho các chiến tướng “đá rất hay, mọi nhẽ”. Thật là hài hước.

Làng Ngũ Vọng nhận được lệnh phải cử đủ 100 người, “ai đi đến sân vận động cũng phải ăn mặc tử tế, đi đứng nghiêm chỉnh phải vỗ tay luôn luôn, vì hôm ấy có nhiều quan khách”; rồi lại phải “có 5 lá cờ, sẵn sàng từ mười giờ sáng”, ai “không tuân lệnh sẽ bị cữu”.

Tiếng cười ở đây bật lên là do có mâu thuẫn giữa một bên là tinh thần tự nguyện của thể dục thể thao, một bên là mệnh lệnh hết sức nghiêm khắc; một bên là tình yêu, hứng thú của người dân đối với bóng đá với một bên là sự ép buộc. Tiếp sau bức trát quan là những cảnh người dân tìm cách trốn tránh, với những cuộc săn lùng ráo riết của ông lí.

Bắt đầu là cảnh anh Mịch nhăn nhó chắp tay lạy ông lí xin tha cho không đi xem bóng đá. Vì cuộc sống quá khốn khổ, anh phải ở nhà đi làm trừ nợ cho ông Nghị, nếu không thì vợ con anh chết đói. Trớ trêu thay, các quan của dân đâu có thèm để ý đến sự sống hay chết, đói hay no của dân.

Ông lí chỉ biết làm theo lệnh quan trên ép người ta đi xem như ép nộp sưu nộp thuế. Hết nạn nha dịch, sưu cao thuế nặng, lại đến nạn đi xem bóng đá”. Ông lí chiếu sổ đinh để bắt đủ 100 người, ai chống sẽ bị bắt rũ tù. Anh Mịch, “cắn răng, cắn cổ” lạy cụ lí. Đi xem bóng đá chứ có phải đi tù đâu sao lại sợ đến vậy? Vì cuộc sống túng quẫn quá, họ không sức đâu để đi xem bóng đá. Một cảnh tượng cười ra nước mắt.

Vậy mâu thuẫn hài hước đã được bộc lộ giữa một bên là “phong trào thể dục” với một bên là đời sống khốn khổ của nhân dân. Cảnh tượng tiếp theo là bác Phô gái. Đến cả một người ốm gần chết như chồng bác Phô gái cũng không được miễn. Vì “ai cũng lấy cớ ốm yếu mà không đi thì người ta đá bóng cho chó xem à?”. Vả lại, bác Phô gái cũng không đi thay được vì “nữ nhân ngoại tộc, ai kể!”. Rõ ràng, người dân ở đây không chỉ khổ vì nạn bóng đá hay đói nghèo mà còn vì nạn cường hào, ác bá ức hiếp.

Lại thêm một cảnh quan trọng nữa là bác phó Bính. Ông lí trưởng làm theo phép quan nghiêm túc đến thế lại đi nhận tiền của bà phó chì vì để cho một người khác đi xem bóng đá thay con trai bà. Thì ra chỉ có việc đi xem hay không đi xem bóng đá cũng phải có tiền hối lộ. Chi tiết ông Lí nhăn mặt nhạt ba hào bỏ túi đã mâu thuẫn với sự uy nghiêm của ông tạo ra sự hài hước. Lời nói thì vừa “oai phong” vừa bộc lộ cái bản chất bẩn thỉu, đê tiện: – Tôi nhận lễ của con bà mà tôi lo lắm. Việc quan nào phải việc chơi.

Cái việc ông sắp xếp thời gian cho mọi người lên huyện cũng thật nực cười: trận bóng đá tận ba giờ chiều mới khai mạc, thế mà người xem phải tập trung từ ba giờ sáng, lại còn phải chuẩn bị cơm nắm từ chiều hôm trước.. Nguyễn Công Hoan là cây bút trào phúng xuất sắc, do đó, ta thấy tiếng cười của ông vừa thâm thuý vừa sâu cay. Nghịch lí thể hiện ngay ở tiêu đề của tác phẩm: “Tinh thần thể dục”. Đáng lẽ tiêu đề ấy là để ca ngợi thể dục thể thao mới đúng. Nhưng khi đọc những trang truyện chúng ta lại thấy điều ngược lại.

Cuộc bắt người đi xem thể thao đã trở thành cuộc đi săn. “Người đi săn” ở đây là bọn tuần do ông lí điều khiển, và nạn nhân không ai khác, đó là người nông dân khốn khổ. Họ vì nghèo đói, vì không thích bóng đá nên tìm đủ mọi cách để trốn tránh. Dăm sáu anh khôn ngoan đã kéo đến ngủ nhờ nhà khác, hoặc làng khác. Thật là một cuộc “lánh nạn”. Những ngôn từ ở đây được dùng thật sắc sảo. Những cuộc đối thoại diễn ra trong tác phẩm ngắn gọn, rõ ràng như ngôn ngữ kịch, khiến người ta cười ra nước mắt.

Màn kịch cuối cùng, nặng nề nhất là cảnh thằng Cò trốn cùng con nhỏ trong đống rơm, bị lính tuần bắt được. Ta hãy nghe cuộc đối thoại của thằng Cò với hai anh tuần:

– Lạy các bác, các bác cho tôi ở nhà làm ăn.

– Sao anh đã hẹn với ông lí, lại không đi, để ông ấy chửi địa lên kia kìa.

– Tôi đi thì tôi mất cả ngày, mà mất buổi làm thì tôi với cháu nhịn đói.

– Tôi không biết!

– Mấy bị tôi không mượn đâu được quần áo.

– Không biết! Anh ra đình mà kêu với ông lí!

Trong từng câu chữ, ta đã thấy mâu thuẫn trào phúng hiện lên rõ nét. Đến ngay như ông lí trưởng làng Ngũ vọng, người chịu trách nhiệm chính trong việc săn người đi xem bóng đã cũng phải thốt lên: “Chúng nó ngu như lợn. Người ta cho xem đá bóng chứ ai làm gì mà cũng phải bắt….”; “Mẹ bố chúng nó, cho đi xem đá bóng chứ ai giết thế mà phải trốn như trốn giặc .

Tinh thần thể dục đã phản ánh một cách sâu sắc thực trạng đời sống nhân dân cũng như xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Khi nền văn minh Âu Tây mà thực dân Pháp đem đến Việt Nam đã làm xáo trộn, tạo nên một xã hội hỗn độn giữa lúc nhân dân đang bị bóc lột bần cùng.

Tính bi hài kịch của truyện đã tạo ra những đòn tấn công sắc nhọn đối với chế độ thực dân, phong kiến, lột mặt nạ “văn minh”, để lộ ra một cách rất rõ ràng hiện thực tăm tối và khốn khổ của nhân dân do nạn bóc lột, cường hào, tham nhũng với cường quyền nữa, trong đó có “nạn thể dục thể thao”.

 

Bài văn phân tích tác phẩm “Tinh thần thể dục” số 3

Nguyễn Công Hoan (1903-1977) là nhà văn trào phúng nổi tiếng trước cách mạng. Người đọc biết nhiều đến ông qua các tác phẩm nổi tiếng như Kép Tư Bền(1935 ), Bước đường cùng (1938), Lá ngọc cành vàng (1935).

Truyện ngắn tinh thần thể dục (đăng trên tuần báo tiểu thuyết thứ bảy số 251, ngày 25/3/1939) đã vạch rõ tính chất bịp bợp của phong trào “thể dục thể thao”, “vui vẻ trẻ trung” đương thời mà thực dân Pháp cổ động rầm rộ để đánh lạc hướng thanh niên.

Có thể thấy Tinh thần thể dục là một tấn bi hài kịch xung quanh chuyện thể thao lúc bấy giờ. Vào những năm đầu thế kỉ XX. Sau khi đặt xong ách thống trị ở Việt Nam và Đông Dương, thực dân Pháp bắt đầu tuyên truyền cho chính sách khai thác thuộc địa của chúng. Với các chiêu bài “mở mang nền văn minh tân tiến”… để lừa bịp nhân dân toàn thế giới, rằng chúng đến An Nam để “khai hoá văn minh” nhưng thực chất là để che đậy bản chất thực dân của chúng, che đậy dã tâm cướp nước xâm lăng. Hành động của chúng đã tạo nên một vở hai kịch đặc biệt: “Tinh thần thể dục”.

Chất bi hài kịch bộc lộ rõ ngay từ đầu tác phẩm, trong trát quan gửi xuống: Nay thừa lệnh Tinh đường…., tại sân vận động huyện có cuộc đá bóng thi, nhiều chiến tướng đá rất hay, mọi nhẽ”… Bức trát quan với nội dung thể thao “vui vẻ trẻ trung” mà nhự một mệnh lệnh bắt người ta đi xem như bắt đi phu đi lính. Đã thế, trát quan lại hết lời quảng cáo cho các chiến tướng “đá rất hay, mọi nhẽ”. Thật là hài hước.

Làng Ngũ Vọng nhận được lệnh phải cử đủ 100 người, “ai đi đến sân vận động cũng phải ăn mặc tử tế, đi đứng nghiêm chỉnh phải vỗ tay luôn luôn, vì hôm ấy có nhiều quan khách”; rồi lại phải “có 5 lá cờ, sẵn sàng từ mười giờ sáng”, ai “không tuân lệnh sẽ bị cữu”.

Tiếng cười ở đây bật lên là do có mâu thuẫn giữa một bên là tinh thần tự nguyện của thể dục thể thao, một bên là mệnh lệnh hết sức nghiêm khắc; một bên là tình yêu, hứng thú của người dân đối với bóng đá với một bên là sự ép buộc. Tiếp sau bức trát quan là những cảnh người dân tìm cách trốn tránh, với những cuộc săn lùng ráo riết của ông lí.

Bắt đầu là cảnh anh Mịch nhăn nhó chắp tay lạy ông lí xin tha cho không đi xem bóng đá. Vì cuộc sống quá khốn khổ, anh phải ở nhà đi làm trừ nợ cho ông Nghị, nếu không thì vợ con anh chết đói. Trớ trêu thay, các quan của dân đâu có thèm để ý đến sự sống hay chết, đói hay no của dân.

Ông lí chỉ biết làm theo lệnh quan trên ép người ta đi xem như ép nộp sưu nộp thuế. Hết nạn nha dịch, sưu cao thuế nặng, lại đến nạn đi xem bóng đá”. Ông lí chiếu sổ đinh để bắt đủ 100 người, ai chống sẽ bị bắt rũ tù. Anh Mịch, “cắn răng, cắn cổ” lạy cụ lí. Đi xem bóng đá chứ có phải đi tù đâu sao lại sợ đến vậy? Vì cuộc sống túng quẫn quá, họ không sức đâu để đi xem bóng đá. Một cảnh tượng cười ra nước mắt.

Vậy mâu thuẫn hài hước đã được bộc lộ giữa một bên là “phong trào thể dục” với một bên là đời sống khốn khổ của nhân dân. Cảnh tượng tiếp theo là bác Phô gái. Đến cả một người ốm gần chết như chồng bác Phô gái cũng không được miễn. Vì “ai cũng lấy cớ ốm yếu mà không đi thì người ta đá bóng cho chó xem à?”. Vả lại, bác Phô gái cũng không đi thay được vì “nữ nhân ngoại tộc, ai kể!”. Rõ ràng, người dân ở đây không chỉ khổ vì nạn bóng đá hay đói nghèo mà còn vì nạn cường hào, ác bá ức hiếp.

Lại thêm một cảnh quan trọng nữa là bác phó Bính. Ông lí trưởng làm theo phép quan nghiêm túc đến thế lại đi nhận tiền của bà phó chì vì để cho một người khác đi xem bóng đá thay con trai bà. Thì ra chỉ có việc đi xem hay không đi xem bóng đá cũng phải có tiền hối lộ. Chi tiết ông Lí nhăn mặt nhạt ba hào bỏ túi đã mâu thuẫn với sự uy nghiêm của ông tạo ra sự hài hước. Lời nói thì vừa “oai phong” vừa bộc lộ cái bản chất bẩn thỉu, đê tiện: – Tôi nhận lễ của con bà mà tôi lo lắm. Việc quan nào phải việc chơi.

Cái việc ông sắp xếp thời gian cho mọi người lên huyện cũng thật nực cười: trận bóng đá tận ba giờ chiều mới khai mạc, thế mà người xem phải tập trung từ ba giờ sáng, lại còn phải chuẩn bị cơm nắm từ chiều hôm trước.. Nguyễn Công Hoan là cây bút trào phúng xuất sắc, do đó, ta thấy tiếng cười của ông vừa thâm thuý vừa sâu cay. Nghịch lí thể hiện ngay ở tiêu đề của tác phẩm: “Tinh thần thể dục”. Đáng lẽ tiêu đề ấy là để ca ngợi thể dục thể thao mới đúng. Nhưng khi đọc những trang truyện chúng ta lại thấy điều ngược lại.

Cuộc bắt người đi xem thể thao đã trở thành cuộc đi săn. “Người đi săn” ở đây là bọn tuần do ông lí điều khiển, và nạn nhân không ai khác, đó là người nông dân khốn khổ. Họ vì nghèo đói, vì không thích bóng đá nên tìm đủ mọi cách để trốn tránh. Dăm sáu anh khôn ngoan đã kéo đến ngủ nhờ nhà khác, hoặc làng khác. Thật là một cuộc “lánh nạn”. Những ngôn từ ở đây được dùng thật sắc sảo. Những cuộc đối thoại diễn ra trong tác phẩm ngắn gọn, rõ ràng như ngôn ngữ kịch, khiến người ta cười ra nước mắt.

Màn kịch cuối cùng, nặng nề nhất là cảnh thằng Cò trốn cùng con nhỏ trong đống rơm, bị lính tuần bắt được. Ta hãy nghe cuộc đối thoại của thằng Cò với hai anh tuần: – Lạy các bác, các bác cho tôi ở nhà làm ăn.– Sao anh đã hẹn vói ông lí, lại không đi, để ông ấy chửi địa lên kia kìa.– Tôi đi thì tôi mất cả ngày, mà mất buổi làm thì tôi với cháu nhịn đói.– Tôi không biết!– Mấy bị tôi không mượn đâu được quần áo.– Không biết ! Anh ra đình mà kêu với ông lí!

Trong từng câu chữ, ta đã thấy mâu thuẫn trào phúng hiện lên rõ nét. Đến ngay như ông lí trưởng làng Ngũ vọng, người chịu trách nhiệm chính trong việc săn người đi xem bóng đã cũng phải thốt lên: “Chúng nó ngu như lợn. Người ta cho xem đá bóng chứ ai làm gì mà cũng phải bắt….”; “Mẹ bố chúng nó, cho đi xem đá bóng chứ ai giết thế mà phải trốn như trốn giặc.

Tinh thần thể dục đã phản ánh một cách sâu sắc thực trạng đời sống nhân dân cũng như xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Khi nền văn minh Âu Tây mà thực dân Pháp đem đến Việt Nam đã làm xáo trộn, tạo nên một xã hội hỗn độn giữa lúc nhân dân đang bị bóc lột bần cùng.

Tính bi hài kịch của truyện đã tạo ra những đòn tấn công sắc nhọn đối với chế độ thực dân, phong kiến, lột mặt nạ “văn minh”, để lộ ra một cách rất rõ ràng hiện thực tăm tối và khốn khổ của nhân dân do nạn bóc lột, cường hào, tham nhũng với cường quyền nữa, trong đó có “nạn thể dục thể thao”.

 

Bài văn phân tích tác phẩm “Tinh thần thể dục” số 4

Nguyễn Công Hoan là một cây bút có sức viết hết sức dồi dào. Quá trình sáng tác cúa ông trải dài từ trước năm 1930 đến những năm 60, 70 sau Cách mạng tháng Tám 1945, để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ gồm hàng chục tiểu thuyết và hàng trăm truyện ngắn.

Tuy nhiên nói đến Nguyễn Công Hoan, người ta thường nghĩ đến những truyện ngắn rất ngắn và rất vui của ông viết trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông được coi là một cây bút hiện thực lớn cũng là ở đấy. Đóng góp độc đáo, không gì thay thế dược của ông đối với lịch sử văn học Việt Nam hiện đại cũng là ở đấy.

Truyện ngắn của Nguyền Công Hoan thường viết về hai đề tài, có thể phân biệt một cách khái quát là đề tài xã hội, đê tài về luyến ái nam nữ và quan hệ gia đình. Ở đề tài thứ nhất, ông thực sự là một cây bút hiện thực có tính chiến đấu cao. Ở đề tài thứ hai, ông bộc lộ nhiều nhược điểm, đặc biệt là tư tướng bảo thủ phong kiến khá nặng nề. Người ta gọi ông là nhà văn hiện thực lớn vì, dù là truyện ngắn hay truyện dài, ông chủ yếu viết về dề tài thứ nhất.

Nói riêng về truyện ngắn đề tài xã hội, người ta thấy Nguyễn Công Hoan có một quan điểm hầu như xuyên suốt mọi tác phẩm, gọi là quan điểm giàu nghèo. Ông nhìn xã hội Viêt Nam dưới ách thực dân, phong kiến như là được xây dựng trên mối quan hệ hết sức bất công vô lí giữa kẻ giàu và người nghèo. Kẻ giàu cưỡi lên đầu lên cổ người nghèo, ra sức bóc lột, vơ vét.

Chúng chẳng làm gì cả mà ăn uống ngập mày ngập mặt cũng không hết của. Trong khi người nghèo thì lao động cật lực mà suốt đời đói khát, rách rưới. Trong xã hội ấy, công lí, pháp luật chỉ ủng hộ kẻ giàu, vì thế đã tạo ra biết bao nỗi oan ức đối với người nghèo. Tất nhiên Nguyễn Công Hoan đứng về phía người nghèo để lên án hạng người giàu có (chủ yếu là bọn quan lại, cường hào địa chủ, bọn tư sản và tay sai của chúng), để minh oan chiêu tuyết cho người nghèo và lên án xã hội.

Theo dõi quá trình sáng tác của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng Tám, thấy truyện ngắn của ông có sự chuyển biến rất rõ qua ba giai đoạn : giai đoạn từ vài năm trước 1930 đến 1935 ; giai đoạn từ 1936 đến 1939 ; giai đoạn từ 1940 đến 1945.

– Giai đoạn thứ nhất: Những truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan giai đoạn này được tập hợp trong cuốn Kép Tư Bền xuất bản năm 1935. Tập truyện có tiếng vang lớn vì là đề tài của cuộc tranh luận nổi tiếng giữa hai phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” kéo dài từ năm 1936 đến 1939.

Thế giới nhân vật của các thiên truyện chủ yếu thu hẹp ở môi trường các thành phố, thị trấn. Nhân loại nghèo khổ của Nguyễn Công Hoan ở giai đoạn này nói chung thuộc tầng lớp dân nghèo thành thị như phu xe, các chị sen, anh nhỏ, gái điếm, lưu manh,… Quan niệm về giàu nghèo của ông còn chung chung, chưa có nội dung xã hội thật cụ thể.

– Giai đoạn thứ hai: Đây là thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Chịu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh rộng lớn của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh dạo của Đảng Cộng sản, Nguyễn Công Hoan có những chuyển biến rất tiến bộ về tư tưởng. Nội dung hiện thực của các tác phẩm của ông sâu hơn, rộng hơn, tính chiến đấu cao hơn. Quan điểm giàu nghèo muốn tiếp cận với quan điểm giai cấp.

Vẫn là sự đối lập giữa giàu và nghèo, nhưng giờ đây, giàu là quan lại, địa chủ, tư sản, đôi khi có cả thực dân nữa, với bản chất chính trị, xã hội cụ thể. Còn nghèo thì bên cạnh các nhân vật của giai đoạn trước còn có thêm công nhân, nông dân. Và họ không phải chỉ là những nạn nhần bất lực cam chịu số phận của mình, mà đôi khi còn có tinh thần phản kháng dũng cảm nữa.

Táo bạo hơn nữa, ngòi bút đả kích của Nguyền Công Hoan giai đoạn này nhiều khi còn nhằm cả vào những chủ trương, chính sách, những thủ đoạn chính trị của Nhà nước thực dân. Tinh thần thể dục ra đời năm 1938, tức là được viết trong giai đoạn sáng tác tiến bộ nhất của Nguyễn Công Hoan.

Tinh thần thể dục nhằm đả kích vào chính sách thể thao thể dục bịp bợm của thực dân Pháp. Để thống trị nhân dân ta, chúng thường dùng các biện pháp: đàn áp, khủng bố, chia rẽ và mị dân, vừa đe dọa vừa ru ngủ và đánh lạc hướng tinh thần đấu tranh của nhân dân. Đối tượng quan trọng nhất chúng cần tác động là thanh niên, học sinh, lớp người nhạy cảm nhất đối với cách mạng.

Với thanh niên, học sinh, chính sách thể thao thể dục của thực dân có thể giải quyết dược cùng một lúc hai yêu cầu : mị dân và chia rẽ dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà chính quyén thực dân giao hẳn việc này cho một viên quan năm Pháp tên là Đuy-cua-roa (Ducouroy) phụ trách. Thể thao rất hấp dẫn đối với thanh niên, ý nghĩa rất tốt đẹp, có thể biến nó thành lẽ sống của tuổi trẻ và từ đó, lái họ tách rời khỏi phong trào cách mạng.

Có thể đưa ra quan niệm khoẻ để khoẻ, khoẻ và đẹp, giống như quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” vậy. Thể thao tất có thi đấu (bóng đá, bóng bàn, quần vợt, bơi lội, đua xe đạp, quyền Anh,…). Bọn thực dân luôn tổ chức thi đấu giữa ba kì: Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì. Từ đó có thể kích động tâm lí địa phương chủ nghĩa để gây chia rẽ giữa Trung, Nam, Bắc.

Chính sách thể thao thể dục của thực dân không phải không có hiệu quả nhất định theo yêu cầu lừa bịp của chúng. Đã có một thời ở các thành phố, thể thao trở thành phong trào sôi nổi, trở thành một thứ mốt, một lí tưởng thẩm mĩ của nam nữ thanh niên.

Không ít chàng trai, cô gái thờ phụng những cơ thể đẹp, những bắp thịt nỡ nang, những thân hình trapèze… Điều này có được phản ánh trong văn chương, như truyện Trống múi của Khải Hưng chẳng hạn (cô Hiển – một tiểu thư đài các – say mê thân hình rất đẹp của một anh dân chài tên là Vọi),…

 

Đã là một chính sách của nhà nước, được các quan Tây ra sức hô hào cổ vũ, thì các cấp chính quyền phải hăng hái thi hành. Bọn quan lại các tỉnh, các huyện, muốn được khen thưởng, được thăng quan tiến chức tất phải tỏ ra sốt sắng trong việc tổ chức thể thao thể dục ở địa phương mình.

Sự thực hiện chính sách này về đến cấp huyện, cấp xã thì tính chất bịp bợm càng lộ liễu, đến mức trở thành đặc biệt khôi hài. Vì mục đích “tốt đẹp” của nó trở thành tai hoạ khủng khiếp đối với dân nghèo. Nguyễn Công Hoan đã “tóm” được tính bịp bợm ấy ở khâu trắng trợn nhất, ở dạng cục cằn thô lỗ và hài hước nhất để dựng nên tác phẩm của mình.

Nguyễn Công Hoan rất sở trường về loại truyện ngắn trào phúng. Muốn gây cười trước hết phải phát hiện ra mâu thuẫn trào phúng và kết cấu tác phẩm xoay quanh tinh huống ấy. Mâu thuẫn trào phúng trong Tinh thần thế dục là gì ? Như trên đã nói, ấy là mâu thuẫn giữa mục đích bề ngoài rất tốt đẹp (vì sức khoẻ và niềm vui của con người) với thực chất bịp bợm (là tai hoạ, là điêu đứng, đói khát, thậm chí là ốm, là chết) của chính sách thể thao thể dục của thực dân.

Để gây cười, tác giả phải phóng đại mâu thuẫn đó lên. Tài nghệ và sự tinh quái của Nguyễn Công Hoan thể hiện chủ yếu ở đây. Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng là hai tài năng trào phúng cùng thời. Họ cùng gặp nhau ở sự khai thác thủ pháp phóng đại để gây cười.

Nhưng nếu sở trường của tác giả Số đỏ là sáng tạo những tính cách trào phúng độc đáo thì sở trường của Nguyễn Công Hoan lại chủ yếu là ở khâu trần thuật rất có duyên. Đọc Vũ Trọng Phụng, người ta nhớ những bộ mặt, những cá tính lố lăng, kì quái ; còn đọc Nguyễn Công Hoan, người ta nhớ những câu chuyện rất buồn cười. Tinh thần thể dục thể hiện rất rõ tài năng này của tác giả.

Truyện có nguy cơ trở thành đơn điệu và nhàm chán nếu kể theo một mạch, một tuyến, một giọng. Ở Tinh thần thể dục, tác giả đã sáng tạo ra một cách thuật kể riêng: dựng nhiều cảnh khác nhau, nhân vật khác nhau, lời lẽ, giọng điệu khác nhau. Tất cả đều thể hiện mâu thuẫn trào phúng chung thống nhất, đều thể hiện chủ đề chung của tác phẩm, nhưng luôn luôn chuyển cảnh, đổi giọng. Mỗi màn, mỗi cảnh lại có một dạng riêng, với những nhân vật riêng và qua mỗi cảnh, mâu thuẫn trào phúng lại được tô đậm thêm một bậc, tạo cho tiếng cười ngày một hả hê, khoái chí hơn.

– Với anh Mịch (cảnh 1): xem đá bóng có nghĩa là vợ con chết đói (“- Cắn cỏ con lạy ông (ông lí) trăm nghìn mớ lạy, ông mà bắt con đi thì ông nghị ghét con, cả nhà con khổ”. Ông nghị là “chỗ con nhờ vả quanh năm. Nếu không, vợ con con chết đói”.

– Với bác Phô gái, chồng đang ốm (cảnh 2): xem đá bóng có nghĩa là chồng sẽ ốm nặng hơn, thậm chí có thể chết (“- Thưa thầy (thầy lí – NĐM), giá nhà con khoe khoắn, thì nhà con chả dám kêu […], sợ nhà con đi nắng thì cảm, rồi phải lại thì oan gia”).

– Với bà cụ phó Bính, có con bận việc không đi được (cảnh 3): xem đá bóng có nghĩa là phải mất tiền thuê người đi thay và phải hối lộ ông lí (“- Thì lòng thành, ông lí cứ nhận đi cho cháu […] Cháu đã thuê thằng Sang đi thay cho cháu cũng thế. Ông ngơ đi là được”).

– Tờ mờ sáng ngày phải di xem đá bóng (cảnh 4): không khí làng Ngũ Vọng hết sức căng thảng, dữ dội, đầy tinh thần khủng bố. Tiếng kêu khóc, van lạy, tiếng quát tháo của ông lí và tuần phu, tiếng chó sủa, tiếng chím người rầm rập, đuốc chạy khắp làng. Đúng là một cuộc lùng sục, “vây ráp” người đi xem đá bóng ráo riết quá chuyện đốc thuế hay bất lính bắt phu thời xưa,… Người ta lùng bắt được “thằng Cò nằm ẹp với con ở cạnh đống rơm, phủ lên mình đầy rơm”. Trong khi bố lạy van thì thằng con “nhắm nghiền mắt, ôm chặt lấy bố. Nó sợ quá, không khóc được nữa”,…

 

– Ông lí đích thân áp giải dân làng đi xem đá bóng (cảnh 5): Mâu thuẫn trào phúng được đẩy căng lên một mức nữa khi nhà văn mô tả cảnh dân què bị giải lên huyện đi xem đá bóng hột như giải một đoàn tù trọng tội đi thụ án chung thân hay tử hình. Ông lí ra lệnh: “Chín mươi tư thằng ở đây, xếp hàng năm lại, đi cho đều bước. Tuần chúng bay phải kèm chung quanh giúp tao. Đứa nào trốn về thì ông bảo […] Mẹ bố chúng nó, cho đi xem đá bóng chứ ai giết chết mà phải trốn như trốn giặc!”.

Quá trình trần thuật của thiên truyện là quá trình phóng đại mâu thuẫn trào phúng. Mọi người đều biết như thế. Nhưng đọc truyện vẫn thấy mọi chi tiết diễn ra rất tự nhiên. Phân tích các chi tiết của truyện, thấy chúng nói chung phải thực hiên hai chức năng: một là tô đậm thêm mâu thuẫn trào phúng để gây cười, hai là tạo cảm giác chân thật.

Chẳng hạn, lời van xin của bác Phô gái thì đúng là lời van xin của người dân đen trước kẻ có quyền thế: “Lạy thầy, quyền phép trong tay thầy, thầy tha cho…”. Và đúng là ý nghĩ của người đàn bà nhà quê làm người đọc phải bật cười: “… hay con nghỉ buổi chợ để đi thay nhà con có được không ạ ?”.

Còn lời lẽ của ông lí thì đúng là lời lẽ một kẻ tuy đứng đầu một làng, nhưng đối với cấp trên thì cũng là thân phận “đầu chày đít thớt”: “Chết đói hay chết no, tao đây không biết, nhưng giấy quan đã sắc, tao cứ phép tao làm. Đứa nào không tuân, để quan gắt, tao trình thì rũ tù”; “Mặc kệ chúng bay, tao thương chúng bay, nhưng ai thương tao…”.

 

Hoặc cảnh hối lộ thì đúng là cảnh hối lộ: Bà cụ phó Bính phải nói khéo để ông lí nhận cho: “Thì lòng thành, ông lí cứ nhận đi cho cháu…”, “Thì cũng như ông làm phúc ấy mà lị”. Còn ổng lí thì làm ra vẻ phải nhận liền một cách bất đắc dĩ: “Tôi nhận lễ của con bà mà tồi lo lắm. Việc quan nào phải việc chơi”, “Làm việc mà cứ gặp phải những người như con bà, thì tôi đến chết mất”, v.v.

Có những chi tiết, nếu để ý thấy chúng còn phải nhận thêm chức năng thứ ba nữa: chửi xỏ chính sách vô lí của thực dân bằng lối diễn đạt bâng quơ mà bóng gió, có thể hiểu thành hai nghĩa. Đây là chỗ tinh quái của nhà trào phúng. Chẳng hạn như lời chửi đổng của ông lí: “Ốm gần chết cũng phải đi. Lệnh quan như thế. Ai cũng lấy cớ ốm yếu mà không đi, thì người ta đá bóng cho chó xem à ?”, “Hễ đứa nào láo, cứ đánh sặc tiết chúng nó ra, tội vạ ông chịu. Mẹ bố chúng nó ! Việc quan thế này có chết cha người ta khổng !”, v.v.

Về ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật thì tác giả chủ yếu dùng lối giễu nhại. Nghĩa là dùng giọng bắt chước để châm biếm. Mở đầu là giễu nhại giọng văn hành chính trong tờ trát của quan huyện “sức” cho hương lí xã Ngũ Vọng “tuân cứ”: “phải thân dẫn đủ một trăm người, đúng 12 giờ trưa đến xem, không được khiếm diện”, “Việc này tuy là việc thể dục, nhưng các thầy không được coi thường, nếu không tuân lệnh sẽ bị cữu”.

Tiếp đó là giễu nhại giọng sách nhiễu và nạt nộ của lí trưởng đối với những người dân vô phúc có trong danh sách phải đi xem đá bóng; và giọng lạy lục, van xin hoặc nài nỉ, nịnh bợ của những anh Mịch, bác Phô gái hay bà cụ phó Bính với ông lí đã dẫn ở trên,…

 

Bài văn phân tích tác phẩm “Tinh thần thể dục” số 5

Có thể nói, bạn đọc đã rất quen thuộc với những tác phẩm của Nguyễn Công Hoan. Có nhận xét rằng: ông là một người khai mở và phát triển một thể loại truyện ngắn hiện đại, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng mà cho đến nay, chưa có một cây bút nào kế thừa. Dù sáng tác rất nhiều với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều bài báo khác. Nhưng ở các tác phẩm của ông, đều hiện lên một phong cách rất riêng, rất Nguyễn Công Hoan. Chính ông cũng là một trong những bậc thầy trong thể loại viết truyện ngắn châm biếm. Điều này được thể hiện rõ qua bài Tinh thần thể dục.

Tinh thần thể dục là một truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan. Tác phẩm phê phán thói giả dối, chính sách lừa bịp mị dân của bọn cầm quyền thực dân phong kiến. Quan trên sức giấy xuống bắt người dân xã Ngũ Vọng phải tập trung để lên sân vận động để xem bóng đá. Nhân dân trong xã không ai muốn đi. Người trốn chạy, người lo lót, người van xin để không phải đi xem bóng đá.

Lý trưởng phải đe dọa, bắt bớ, lùng sục nhưng cuối cùng vẫn không đủ số người đi xem theo lệnh quan trên. Cuộc dẫn người đi xem bóng đá diễn ra giống như một cuộc bắt phu phen vậy. Câu chuyện được chia thành 6 đoạn. Mỗi đoạn thể hiện một nội dung. Sáu nội dung ấy tạo thành một cốt truyện chặt chẽ, được phát triển theo trình tự logic trước sau của việc bắt người đi xem đá bóng.

Cũng như thế, truyện ngắn Tinh thần thể dục không có cấu trúc như một câu chuyện có tình huống, chi tiết trong quan hệ một vài nhân vật chính như những truyện ngắn khác mà Nguyễn Công Hoan xây dựng bằng những chuỗi sự việc liên tiếp được sâu chuỗi lại quanh chính những mâu thuẫn ấy. Đó chính là những mâu thuẫn trào phúng: mâu thuẫn giữa bề ngoài là rất tốt đẹp vì “sức khỏe là niềm vui của con người, tập thể dục để rèn luyện sức khỏe là một việc làm vô cùng cần thiết”.

Với những thực chất bịp bợm: là tai họa, là điêu đứng, đói khát, thậm chí là bị ốm, chết của chính những chính sách thể dục thể thao của chính quyền thực dân. Ở các nhà văn khác, người ta thường thấy, tính cách, tâm trạng của nhân vật là trung tâm, chi phối cốt truyện. Thì ở truyện ngắn này của Nguyễn Công Hoan ta lại thấy tập trung xoay quanh hành động, việc làm của các nhân vật mà ta gọi là kiểu truyện ngắn có tình huống nghiêng về hành động.

Tác phẩm giống như một kịch bản nhiều nhân vật, với những lời lẽ, giọng điệu khác nhau. Ở đoạn một là sự nhận lệnh từ cấp trên. Đây là một mệnh lệnh khá đặc biệt, độc đáo, không giống với các mệnh lệnh thông thường khác. Phải đi xem đá bóng. Nhưng ở đoạn hai lại có tình tiết van xin của anh Mịch xin ông Lí cho miễn cho việc đi xem bóng đá vì anh còn phải đi làm trừ nợ cho ông Nghị. Những lời van xin thống thiết của anh không làm ông Lí động lòng.

Hết người van xin lại đến nài nỉ: Bác Phô gái xin ông Lí cho chồng mình không phải đi xem bóng đá với lí do ốm đau. Bác Phô còn mang theo cả cành cau biếu ông Lí. Lời van xin cũng không kém phần thống thiết những ông Lí cũng rất kiên quyết “Ốm gần chết cũng phải đi. Lệnh quan như thế. Ai cũng lấy cớ ốm yếu mà không đi, thì người ta đá bóng cho chó xem à?”. Rồi lại đến đút lót để không phải đi…

Như vậy, tác giả đã tạo nên một mâu thuẫn trào phúng rất đặc sắc. Đi xem bóng đá là một hoạt để thao nhưng trong câu chuyện này, xem bóng đá lại trở thành một tai họa với người dân. Mỗi đoạn là một mâu thuẫn hỗ trợ làm nổi bật mâu thuẫn chính của toàn bộ tác phẩm.

Bằng cách lối viết trào phúng đó là sự tô đậm thêm mâu thuẫn trào phúng gây cười, mặt khác tạo cảm giác chân thật từ những lời van xin của bác Phô gái, cử chỉ hối lộ của bà phó Bính, lời chửi đổng của ông Lí…Có thể thấy, câu chuyện diễn ra trong một không gian hẹp với ít thời gian sống nhà văn đã xây dựng lên các tình huống truyện mâu thuẫn sắc nét, thể hiện thành công của chủ đề truyện. Bên cạnh đó, cũng phải kể đến cách sử dụng nghệ thuật của tác giả, ngôn ngữ, giọng điều lúc thì sử dụng lời nói giễu nhại tức là giọng bắt chước, châm biếm,lúc lại như một bản trần thuật, câu văn ngắn gọn, độc đáo, mà hấp dẫn.

Nhưng đằng sau đó, người đọc lại cảm nhận được tình cảm xót thương, thấm thía nỗi đau của chính tác giả. Chính tác giả viết truyện với thiên hương bênh vực cho những người dân cày, họ là những nạn nhân của bộ máy thống trị quan liêu máy móc. Trong tình huống: việc đi xem đá bóng với người dân là một tai họa khủng khiếp. Đó là một thứ giặc mà họ phải tìm cách chạy trốn. thì tác giả rất đồng cảm với những số phận này. Từ đó có thể thấy được, truyện vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị chiến đấu nhưng cũng thấm thía giá trị nhân đạo.

Không ngẫu nhiên mà tác giả lại xây dựng tình huống truyện với những tình tiết trào phúng thành công như vậy được. Mà đây là sự quan sát tỉ mỉ cuộc sống con người nơi đây qua lăng kính đầy lòng nhân đạo, nhưng cũng chính là sự nhạy bén, óc quan sát, trí tưởng tượng tinh thông của tác giả mới làm nên sự thành công của truyện ngắn Tinh thần thể dục. Và như vậy, ông đã thành công với việc xây dựng tình huống cho nhân vật.

Cũng chính vì thế, đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trong giai đoạn 1936-1939 về cả hai phương diện tư tưởng và nghệ thuật.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

 

Nguồn: Tổng Hợp