Top 5 bài sọan”Thao tác lập luận phân tích” văn học 11 mới nhất 2021

Top 5 bài sọan”Thao tác lập luận phân tích” văn học 11 mới nhất 2021.Mục đích của phân tích là làm rõ đặc điểm nội dung, hình thức, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng, giúp các em trang bị kiến thức tốt trước khi lên lớp

Bài sọan”Thao tác lập luận phân tích” số 1

1. Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận phân tích

a. Khái niệm

  • Là chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố bộ phận để xem xét nội dung, hình thức và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng. Rồi khái quát, phát hiện ra bản chất của chúng.
  • Phân tích bao giờ cũng gắn liền với tổng hợp. Đó là bản chất của thao tác phân tích trong văn nghị luận.

b. Mục đích

  • Mục đích của phân tích là làm rõ đặc điểm nội dung, hình thức, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng.

c. Yêu cầu

  • Xác định vấn đề phân tích
  • Chia vấn đề thành những khía cạnh nhỏ (các yếu tố, phương diện cấu thành đối tượng, quan hệ giữa đối tượng với đối tượng khác…)
  • Khái quát tổng hợp (thái độ và đánh giá của người phân tích đối với đối tượng cần phân tích).

2. Cách phân tích

  • Cần dựa trên những tiêu chí, quan hệ nhất định:
    • Quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối tượng
    • Quan hệ nhân quả
    • Quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan
    • Quan hệ giữa người phân tích và đối tượng phân tích
  • Khi phân tích cần đi sâu vào từng bộ phận, từng mặt, nhưng cần lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau, cần khái quát để rút ra bản chất chung của đối tượng

Ví dụ:

Cách phân tích bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến.

Gợi ý làm bài:

– Mục đích phân tích: Nội dung và nghệ thuật bài thơ Câu cá mùa thu

– Cách phân tích

  • Khi phân tích về nội dung:
    • Cần lưu ý mối quan hệ giữa các câu thơ với nhau (Đề – thực – luận – kết)… 
    • Tất cả các câu thơ đã khắc họa nên bức tranh thu điển hình cho mùa thu làng cảnh Việt Nam vùng đồng bằng Bắc bộ.
    • Từ đó cảm nhận được nỗi lòng trắc ẩn của tác giả, tâm tình của tác giả qua bài thơ
  • Khi phân tích về nghệ thuật:
    • Cần lưu ý mối quan hệ giữa nội dung và nghệ thuât, nghệ thuật góp phần thể hiện dụng ý và tâm tình của tác giả.
    • Lưu ý đến những sáng tạo mới mẻ của tác giả về mặt nghệ thuật (ngôn từ, hình ảnh…). 
  • Cần chú ý đến các mặt, sự liên kết giữa các hình ảnh thơ với nhau trong bài thơ, cách gieo vần và tác dụng của những điều ấy. Từ đó khái quát nội dung chính, trọng tâm của bài thơ

 

Bài sọan”Thao tác lập luận phân tích” số 2

I. Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận phân tích

– Thao tác lập luận phân tích là gì?

Định nghĩa Thao tác lập luận phân tích là chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố bộ phận để xem xét nội dung, hình thức và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng, rồi khái quát, phát hiện ra bản chất của đối tượng.

– Bản chất của thao tác phân tích trong văn nghị luận là luôn gắn liền với tổng hợp.

– Mục đích của thao tác phân tích là: làm rõ đặc điểm nội dung, hình thức, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng.

– Yêu cầu của một thao tác lập luận phân tích:

+ Xác định vấn đề phân tích.

+ Chia vấn đề thành những khía cạnh nhỏ.

+ Khái quát tổng hợp.

II. Cách phân tích

– Cần dựa trên những tiêu chí, quan hệ nhất định: Quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối tượng, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan, quan hệ giữa người phân tích với đối tượng phân tích.

– Phân tích cần đi sâu vào từng mặt, từng bộ phận nhưng cần lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau, cần khái quát để rút ra bản chất chung của đối tượng.

B – Hướng dẫn trả lời câu hỏi soạn bài Thao tác lập luận phân tích

Phần hướng dẫn trả lời câu hỏi trong SGK của Đọc tài liệu bao gồm nhiều cách trả lời khác nhau, các em học sinh muốn xem nhiều cách trình bày hơn cho cùng một nội dung trả lời có thể nhấn vào câu hỏi để tham khảo.

I. Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận phân tích

Câu 1Nội dung, ý kiến đánh giá của tác giả đối với nhân vật Sở Khanh?

Trả lời:

Nội dung, ý kiến đánh giá của tác giả đối với nhân vật Sở Khanh: Sở Khanh là kẻ bẩn thỉu, bần tiện, là đại diện cao nhất của sự đồi bại trong xã hội Truyện Kiều.

Câu 2 Để thuyết phục người đọc, tác giả đã phân tích ý kiến của mình như thế nào?

Trả lời:

Tác giả đã khai triển các luận cứ:

– Sở Khanh sống bằng nghề đồi bại, bất chính, nghề sống bám các thanh lâu, nghề làm chồng hờ của các cô gái làng chơi.

– Sở Khanh là kẻ đồi bại nhất trong những kẻ làm cái nghề đồi bại bất chính đó: giả làm người tử tế để đánh lừa một người con gái ngây thơ, hiếu thảo.

– Sau khi lừa bịp hắn còn trở mặt một cách tráo trở.

– Đặc biệt, cái hành động lừa bịp, tráo trở này là hành động thường xuyên của hắn, khiến hắn thậm chí trở thành một tay nổi tiếng bạc tình.

Câu 3 Chỉ ra sự phối hợp chặt chẽ giữa phân tích và tổng hợp trong đoạn trích.

Trả lời:

Đoạn văn của Hoài Thanh đã kết hợp được một cách khá chặt chẽ giữa thao tác phân tích và thao tác tổng hợp: Sau khi phân tích chi tiết bộ mặt lừa bịp tráo trở của Sở Khanh, người viết đã tổng hợp kết quả phân tích trước đó thành một kết luận khái quát về cái xã hội trong Truyện Kiều dựa trên bản chất của nhân vật Sở Khanh: “Nó là cái mức cao nhất của tình hình đồi bại trong xã hội này”.

Câu 4 Kể thêm một số đối tượng phân tích trong các bài văn nghị luận (xã hội và văn học).

Trả lời:

– Phân tích hiện tượng ô nhiễm môi trường

– Phân tích tác dụng của hiện tượng vô cảm

– Phân tích nhân vật văn học

– Phân tích giá trị nhân đạo của một tác phẩm văn học

– Phân tích một đoạn thơ, bài thơ.

Câu 5  Anh (chị) hiểu thế nào là phân tích trong văn nghị luận? Những yêu cầu của thao tác lập luận phân tích này là gì?

Trả lời:

– Phân tích trong văn nghị luận là chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố bộ phận để xem xét nội dung, hình thức và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng, rồi khái quát, phát hiện ra bản chất của đối tượng.

– Những yêu cầu của thao tác phân tích:

+ Xác định vấn đề phân tích.

+ Chia vấn đề thành những khía cạnh nhỏ.

+ Khái quát tổng hợp.

Khi thực hiện thao tác lập luận phân tích, trước tiên cần xác định mục tiêu của việc phân tích là làm sáng tỏ ý kiến, quan điểm gì (kết luận của lập luận). Sau đó chia nhỏ đối tượng phân tích thành các yếu tố nhỏ để tìm hiểu sâu hơn. Việc chia nhỏ đối tượng thường dựa trên các mối quan hệ:

+ Giữa các yếu tố, phương tiện cấu thành nên đối tượng đó.

+ Quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng khác có liên quan gần gũi như quan hệ nguyên nhân – kết quả, quan hệ kết quả – nguyên nhân.

+ Thái độ và sự đánh giá của người phân tích với đối tượng được phân tích.

II. Cách phân tích

* Đoạn trích (1):

– Cách phân chia đối tượng: Phân chia dựa trên cơ sở quan hệ nội bộ trong bản thân đối tượng – những biểu hiện về nhân cách bẩn thỉu, bần tiện của Sở Khanh.

– Mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp: Từ việc phân tích những biểu hiện làm nổi bật những việc làm bẩn thỉu của Sở Khanh mà khái quát lên giá trị hiện thực của nhân vật này – bức tranh về nhà chứa, tính đồi bại trong xã hội đương thời.

* Đoạn trích (2):

– Cách phân chia đối tượng: Phân tích theo quan hệ nội bộ của đối tượng: Đồng tiền vừa có tác dụng tốt vừa có tác dụng xấu. Phân tích theo quan hệ nguyên nhân – kết quả: tác hại của đồng tiền.

– Mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp: Trong quá trình lập luận, phân tích luôn gắn liền với khái quát tổng hợp: sức mạnh của đồng tiền, thái độ, cách hành xử của tầng lớp xã hội đối với đồng tiền và thái độ của Nguyễn Du đối với xã hội đó.

* Đoạn trích (3):

– Cách phân chia đối tượng: Phân tích theo quan hệ nguyên nhân – kết quả: Bùng nổ dân số và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống con người.

– Mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp: Từ việc phân tích bùng nổ dân số ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống con người. Đưa ra kết luận: dân số càng tăng nhanh thì chất lượng cuộc sống của cộng đồng, gia đình, cá nhân càng giảm.

Xem thêm nhiều cách trả lời khác với phần II, mời các bạn học sinh xem

III. Luyện tập thao tác lập luận phân tích

Câu 1Tìm hiểu các quan hệ làm cơ sở cho việc phân tích đối tượng trong các lập luận (ngữ liệu trong SGK Ngữ văn II, tập 1, trang 28):

Trả lời:

a) Trong đoạn văn của Lê Trí Viễn, người viết đã phân tích tâm trạng nhân vật Thúy Kiều trong một đêm đau khổ, trước lúc phải nói lời trao duyên với Thúy Vân. Người bình văn đã chia ra để lần lượt xem xét các phương diện: hình ảnh (ngọn đèn, dòng lệ,…), ý nghĩa các từ ngữ (bàng hoàng) và âm điệu của câu thơ để tìm ra những biểu hiện mỗi lúc một tăng trong “cái giày vò của tâm trạng đang hoàn toàn bế tắc”, từ đau xót rồi rối bời, quanh quẩn đến cảm giác “hoàn toàn bế tắc” cứ xoáy sâu mãi trong lòng Thúy Kiều.

b) Quan hệ làm cơ sở cho lập luận phân tích trong đoạn văn của Hoài Thanh là quan hệ giữa đối tượng này với các đối tượng khác có liên quan: Bài thơ Lời kĩ nữ của Xuân Diệu với bài 77 bà hành của Bạch Cư Dị.

Câu 2 Vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương được thể hiện ở:

Trả lời:

– Những từ ngữ giàu hình tượng và giá trị biểu cảm như: Văng vẳng, trơ, cái hồng nhan, tí con con,…

– Sự kết hợp giữa những động từ mạnh (xiên, đâm) với các bổ ngữ độc đáo (ngang, toạc) làm nổi bật sự bướng bỉnh và ngang ngạnh.

– Nghệ thuật đảo trật tự cú pháp trong hai câu luận:

 Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

   Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

– Nghệ thuật điệp từ (lại, xuân).

– Nghệ thuật sử dụng sóng đôi các cặp từ trái nghĩa: say – tỉnh, khuyết – tròn, đi – lại.

– Nghệ thuật tăng tiến (san sẻ – tí – con con).

 

Bài sọan”Thao tác lập luận phân tích” số 3

I. Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận phân tích
 
1. Xác định nội dung ý kiến đánh giá của tác giả đối với nhân vật Sở Khanh.
 
2. Để thuyết phục người đọc, tác giả đã phân tích ý kiến của mình như thế nào?
 
3. Chỉ ra sự kết hợp chặt chẽ giữa phân tích và tổng hợp trong đoạn trích.
 
4. Kể thêm một số đối tượng phân tích trong các bài văn nghị luận (xã hội và văn học) .
 
5. Anh (chị) hiểu thế nào là phân tích trong văn nghị luận? Những yêu cầu của thao tác này là gì?
– Lập luận phân tích là chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố bộ phận để xem xét nội dung, hình thức và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng, rồi khái quát, phát hiện ra bản chất của đối tượng.
– Phân tích bao giờ cũng gắn liền với tổng hợp. Đó là bản chất của thao tác phân tích trong văn nghị luận.
– Yêu cầu của một lập luận phân tích:
+ Xác định vấn đề phân tích.
+ Chia vấn đề thành những khía cạnh nhỏ.
+ Khái quát tổng hợp.
 
II. Cách phân tích
– Hãy lần lượt phân tích cách phân chia đối tượng trong mỗi đoạn trích trên.
– Chỉ ra mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp được thể hiện trong mỗi đoạn trích.
 
III. Luyện tập
 
1. Trong các đoạn trích dưới đây, người viết đã phân tích đối tượng từ những mối quan hệ nào?
 
a) “Nỗi riêng, riêng những bàn hoàn” trong lòng Thúy Kiều đêm nay là gậy. Nàng chỉ có thức với ngọn đèn cho đến khi dầu khô trong đĩa mà dòng lệ vẩn không dứt đầm khăn. “Dầu chong tràng đĩa lệ tràn thấm khăn”, bởi nàng chỉ có xót đau rồi đau xót chứ chưa tìm được phương kế nào. “Bàn hoàn” mang ý quanh quẩn, quẩn quanh, lại thêm “những bàn hoàn”, nên càng thêm rối rắm. Âm điệu câu thơ lại xoáy sâu vào trong lòng cô độc, vào chỗ sâu kín nhất, chỉ mình biết mình hay (nỗi riêng, riêng những), càng tăng cái giày vò của tâm trạng đang hoàn toàn bế tắc.                                                                                                                                   
                                                                                                                                                               (Lê Trí Viễn, Đến với thơ hay, NXB Giáo dục, 2001)
b) Còn rất nhiều câu có thể tiêu biểu cho lối cảm xúc riêng của Xuân Diệu. Tôi chỉ dẫn một thí dụ này nữa. Trong bản dịch “Tì bà hành” của Phan Huy Vịnh có hai câu:
                                         Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
                                          Một vùng trăng trong vắt lòng sông.
tả cảnh chung quanh thuyền sau khi người tì bà phụ vừa đánh đàn xong. Một cái cảnh lặng lẽ, lạnh lùng ẩn một mối buồn âm thầm, kín đáo. Thế Lữ có lẽ đã nhớ đến hai câu ấy khi viết:
                                          Tiếng diều sáo nao nao trong vắt,
                                          Trời quang mây xanh ngắt màu lơ.
Mặc dầu hai chữ “nao nao” có đưa vào trong câu thơ một chút rung động, ta vẫn chưa xa gì cái không khí bình yên trên bến Tầm Dương. Với Xuân Diệu cả tình lẫn cảnh trở nên xôn xao vô cùng. Người kĩ nữ của Xuân Diệu cũng bơ vơ như người tì bà phụ. Nhưng nàng không lặng lẽ buồn, ta thấy nàng run lên nì đau khổ:
                                          Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo,
                                         Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.                                                             
                                                          (Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 1988)
 
2. Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài thơ Tự tình II.
 
Lời giải:
I. Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận phân tích
 
Câu 1 trang 26 SGK Ngữ Văn 11 tập 1Xác định nội dung ý kiến đánh giá của tác giả đối với nhân vật Sở Khanh.
 
Trả lời:
– Nội dung ý kiến đánh giá của tác giả (luận điểm): Sở Khanh là kẻ bẩn thỉu, bần tiện, là đại diện cao nhất của sự đồi bại trong xã hội Truyện Kiều.
 
Câu 2 trang 26 SGK Ngữ Văn 11 tập 1 Để thuyết phục người đọc, tác giả đã phân tích ý kiến của mình như thế nào?
 
Trả lời: 
Để thuyết phục người đọc, tác giả đã đưa ra các luận cứ, dẫn chứng:
– Sở Khanh sống bằng nghề đồi bại, bất chính, nghề sống bám các thanh lâu, nghề làm chồng hờ của các cô gái làng chơi.
– Sở Khanh là kẻ đồi bại nhất trong những kẻ làm cái nghề đồi bại bất chính đó: giả làm người tử tế để đánh lừa một người con gái ngây thơ, hiếu thảo.
– Sau khi lừa bịp hắn còn trở mặt một cách tráo trở.
– Đặc biệt, cái hành động lừa bịp, tráo trở này là hành động thường xuyên của hắn, khiến hắn thậm chí trở thành một tay nổi tiếng bạc tình.
 
Câu 3 trang 26 SGK Ngữ Văn 11 tập 1:  Chỉ ra sự kết hợp chặt chẽ giữa phân tích và tổng hợp trong đoạn trích.
 
Trả lời:
– Đoạn văn của Hoài Thanh đã kết hợp được một cách khá chặt chẽ giữa thao tác phân tích và thao tác tổng hợp. Sau khi phân tích chi tiết bộ mặt lừa bịp tráo trở của Sở Khanh, người viết đã tổng hợp kết quả phân tích trước đó thành một kết luận khái quát về cái xã hội trong Truyện Kiều dựa trên bản chất của nhân vật Sở Khanh: “Nó là cái mức cao nhất của tình hình đồi bại trong xã hội này”.
 
Câu 4 trang 26 SGK Ngữ Văn 11 tập 1Kể thêm một số đối tượng phân tích trong các bài văn nghị luận (xã hội và văn học) 
Trả lời:
– Văn học:
+  Cảm nghĩ của anh (chị) về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác).
+ Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương.
+ Nhân cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát (hoặc Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ).
– Xã hội: Trình bày suy nghĩ về nhận định:
    “Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười nhác”
(Lỗ Tấn)
 
Câu 5 trang 26 SGK Ngữ Văn 11 tập 1:. Anh (chị) hiểu thế nào là phân tích trong văn nghị luận? Những yêu cầu của thao tác này là gì?
Trả lời:
– Lập luận phân tích là chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố bộ phận để xem xét nội dung, hình thức và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng, rồi khái quát, phát hiện ra bản chất của đối tượng.
– Phân tích bao giờ cũng gắn liền với tổng hợp. Đó là bản chất của thao tác phân tích trong văn nghị luận.
– Yêu cầu của một lập luận phân tích:
+ Xác định vấn đề phân tích.
+ Chia vấn đề thành những khía cạnh nhỏ.
+ Khái quát tổng hợp.
 
II. Cách  phân tích
– Hãy lần lượt phân tích cách phân chia đối tượng trong mỗi đoạn trích trên.
– Chỉ ra mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp được thể hiện trong mỗi đoạn trích.
Trả lời:
– Cần dựa trên những tiêu chí, quan hệ nhất định: (Quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối tượng, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan, quan hệ giữa người phân tích với đối tượng phân tích ).
– Phân tích cần đi sâu vào từng mặt, từng bộ phận nhưng cần lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau, cần khái quát để rút ra bản chất chung của đối tượng.
III. Luyện tập
 
Câu 1 trang 28 SGK Ngữ Văn 11 tập 1: Trong các đoạn trích dưới đây, người viết đã phân tích đối tượng từ những mối quan hệ nào?
 
a) “Nỗi riêng, riêng những bàn hoàn” trong lòng Thúy Kiều đêm nay là gậy. Nàng chỉ có thức với ngọn đèn cho đến khi dầu khô trong đĩa mà dòng lệ vẩn không dứt đầm khăn. “Dầu chong tràng đĩa lệ tràn thấm khăn”, bởi nàng chỉ có xót đau rồi đau xót chứ chưa tìm được phương kế nào. “Bàn hoàn” mang ý quanh quẩn, quẩn quanh, lại thêm “những bàn hoàn”, nên càng thêm rối rắm. Âm điệu câu thơ lại xoáy sâu vào trong lòng cô độc, vào chỗ sâu kín nhất, chỉ mình biết mình hay (nỗi riêng, riêng những), càng tăng cái giày vò của tâm trạng đang hoàn toàn bế tắc.                                                                                                                                   
                                                                                                                                                             
b) Còn rất nhiều câu có thể tiêu biểu cho lối cảm xúc riêng của Xuân Diệu. Tôi chỉ dẫn một thí dụ này nữa. Trong bản dịch “Tì bà hành” của Phan Huy Vịnh có hai câu:
                                         Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
                                          Một vùng trăng trong vắt lòng sông.
tả cảnh chung quanh thuyền sau khi người tì bà phụ vừa đánh đàn xong. Một cái cảnh lặng lẽ, lạnh lùng ẩn một mối buồn âm thầm, kín đáo. Thế Lữ có lẽ đã nhớ đến hai câu ấy khi viết:
                                          Tiếng diều sáo nao nao trong vắt,
                                          Trời quang mây xanh ngắt màu lơ.
Mặc dầu hai chữ “nao nao” có đưa vào trong câu thơ một chút rung động, ta vẫn chưa xa gì cái không khí bình yên trên bến Tầm Dương. Với Xuân Diệu cả tình lẫn cảnh trở nên xôn xao vô cùng. Người kĩ nữ của Xuân Diệu cũng bơ vơ như người tì bà phụ. Nhưng nàng không lặng lẽ buồn, ta thấy nàng run lên nì đau khổ:
                                          Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo,
                                         Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.                                                              
                                                          (Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 1988)
Trả lời: a. Trong đoạn văn trên, quan hệ được lấy làm cơ sở để phân chia đối tượng phục vụ cho việc lập luận phân tích là quan hệ nội bộ của đối tượng (diễn biến, các cung bậc tâm tạng “bàng hoàng” của Thúy Kiều), đó là cung bậc tâm trạng đau xót, quẩn quanh và hoàn toàn bế tắc của Kiều.

 
b. Quan hệ làm cơ sở cho lập luận phân tích trong đoạn văn trên là quan hệ giữa đối tượng này với đối tượng khác có liên quan: bài thơ Lời kĩ nữ của Xuân Diệu với bài Tì bà hành của Bạch Cư Dị.
 
Câu 2 trang 28 SGK Ngữ Văn 11 tập 1: Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài thơ Tự tình II.
 
Trả lời:
– Nghệ thuật sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc, có sức biểu đạt cao tư tưởng và tâm trạng của nhân vật trữ tình như: văng vẳng, trơ, cái hồng nhan, xiên ngang, đâm toạc, tí, con con…
– Sự kết hợp giữa những động từ mạnh (xiên, đâm) với các bổ ngữ độc đáo (ngang, toạc) làm nổi bật sự bướng bỉnh và ngang ngạnh.
– Nghệ thuật đảo trật tự cú pháp trong hai câu luận:
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
– Nghệ thuật sử dụng sóng đôi các cặp từ trái nghĩa, góp phần biểu lộ trạng thái bế tắc: say – tỉnh, khuyết – tròn, đi – lại.
– Nghệ thuật lặp từ (lại, xuân) và phép tăng tiến (san sẻ – tí – con con).
Ghi nhớ:
Mục đích của phân tích là làm rõ đặc điểm về nội dung, hình thức, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng (sự vật, hiện tượng)
Khi phân tích, cần chia, tách đối tượng thành các yếu tố theo những tiêu chí, quan hệ nhất định (quan hệ giữa những yếu tố tạo nên đối tượng, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan, quan hệ giữa người phân tích với đối tượng phân tích,…)

 

Bài sọan”Thao tác lập luận phân tích” số 4

I – MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA THAO TÁC LẬP LUẬN PHÂN TÍCH

1. Sở Khanh là kẻ bẩn thỉu, bần tiện, đại diện cho sự đồi bại trong xã hội Truyện Kiều

2. Tác giả đã phân tích ý kiến của mình như sau:

– Sở Khanh sống bằng nghề đồi bại bất chính

– Sở Khanh là kẻ đồi bại nhất trong những kẻ làm cái nghề đồi bại, bất chính

– Sau khi lừa bịp hắn còn trở mặt một cách tráo trở.

– Đặc biệt, cái hành động lừa bịp, tráo trở này là hành động thường xuyên của hắn, khiến hắn thậm chí trở thành một tay nổi tiếng bạc tình.

3. Đoạn trích có sự kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lập luận phân tích và tổng hợp

4. Một số đối tượng phân tích trong văn nghị luận như:

– Nghị luận xã hội: thói hư tật xấu trong xã hội, đức tính tốt đẹp,…

– Nghị luận văn học: phân tích tính cách nhân vật trong tác phẩm, phân tích quan điểm của tác giả,…

5.- Phân tích trong văn nghị luận là chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố, bộ phận để xem xét một cách kĩ càng nội dung, hình thức và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng, nêu lên bản chất của đối tượng. Mục đích của phân tích là làm sáng tỏ ý kiến, quan niệm nào đó.

Phần II

II – CÁCH PHÂN TÍCH

* Cách phân chia đối tượng: 

Ngữ liệu 1:

– Phân tích theo quan hệ nội bộ của đối tượng: Đồng tiền vừa có tác dụng tốt, vừa có tác dụng xấu (sức mạnh tác oai tác quái).

– Phân tích theo quan hệ kết quả – nguyên nhân:

+ Nguyễn Du chủ yếu vẫn nhìn về mặt tác hại của đồng tiền (kết quả).

+ Vì một loạt hành động gian ác, bất chính do đồng tiền chi phối… (giải thích nguyên nhân)

– Phân tích theo quan hệ nguyên nhân – kết quả: Phân tích sức mạnh của đồng tiền 

=> Thái độ phê phán của Nguyễn Du khi nói đến đồng tiền.

Ngữ liệu 2:

– Tốc độ gia tăng dân số thế giới.

– Tác động tiêu cực của gia tăng dân số tới đời sống.

* Mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp:

– Tổng hợp là tiền đề để triển khai các hoạt động phân tích, nối kết, thống nhất các yếu tố. Phân tích làm sáng rõ ý kiến được tổng hợp.

Luyện tập

Câu 1 (trang 28 SGHK Ngữ văn 11 tập 1)

a) Để phân tính những nỗi niềm riêng của Thuý Kiều, tác giả đã phân tích từng câu thơ có liên quan đến tâm trạng, tình cảnh của Thuý Kiều.

b) Quan hệ giữa đối tượng này với các đối tượng khác có liên quan. Đối tượng được phân tích trong đoạn văn đó là tác giả phân tích những câu thơ mang nét rất riêng cho phong cách thơ Xuân Diệu để từ đó nói lên cái cảm xúc của nhà thơ.

Câu 2 (trang 28 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Bài thơ là một minh chứng cho nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Hồ Xuân Hương.

+ Trong bài thơ, ta có thể thấy được nghệ thuật sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc của nhà thơ. Mỗi hình ảnh trong bài thơ đều mang những nét đặt trưng rất tiêu biểu cho thiên nhiên, gần gũi mà mộc mạc song đều thể hiện được rõ tâm ý của nhà thơ.

+ Xuân Hương sử dụng nghệ thuật dùng từ trái nghĩa. Hệ thống từ và hình ảnh trái nghĩa trong bài thơ được tác giả

+ Đó còn là nghệ thuật sử dụng phép đảo trật tự cú pháp.

+ Sử dụng những hệ thống từ loại đan xen: động từ mạnh, các tính từ đặc trưng và rất tiêu biểu, từ láy (văng vẳng),…

 

Bài sọan”Thao tác lập luận phân tích” số 5

I/ Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận phân tích(ngắn nhất)

1(trang 26 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

Luận điểm (ý kiến, quan niệm): Sở Khanh là kẻ bẩn thỉu, bần tiện, đại diện của sự đồi bại trong xã hội truyện Kiều

2 (trang 26 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

Tác giả đã đưa ra và phân tích các luận cứ để làm sáng tỏ cho luận điểm như sau:

+ Sở Khanh sống bằng nghề đồi bại, bất chính

+ Sở Khanh là kẻ đồi bại nhất trong những kẻ làm cái nghề đồi bại, bất chính đó: Giả làm người tử tế để đánh lừa một cô gái ngây thơ, hiếu thảo; trở mặt một cách trơ tráo; thường xuyên lừa bịp, tráo trở.

3 (trang 26 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

Sau khi phân tích thấy rõ bản chất giả dối, lừa bịp của Sở Khanh, Hoài Thanh đã đi đến tổng hợp để khẳng định: “Nhân vật Sở Khanh hoàn thành bức tranh về các nhà chúa. Nó là cái mức cao nhất của tình hình đồi bại trong xã hội này”

4 (trang 26 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

Một số đối tượng phân tích:

+ Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao

+ Phân tích tác hại của trò chơi điện tử

5 (trang 26 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

– Phân tích là chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố để xem xét một cách kỹ càng nội dung, hình thức và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng

– Yêu cầu: Phân tích bao giờ cũng gắn liền với tổng hợp.

II/ Cách phân tích (trang 27 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)(ngắn nhất)

Cách phân tích và mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp

* Đoạn trích 1

– Phân tích theo quan hệ nội bộ của đối tượng: Đồng tiền vừa có tác dụng tốt, vừa có tác dụng xấu

– Phân tích theo quan hệ nguyên nhân – kết quả: Phân tích sức mạnh tác quái của đồng tiền  thái độ phê phán và khinh bỉ của Nguyễn Du khi nói đến đồng tiền

– Phân tích theo quan hệ kết quả – nguyên nhân: Tác hại của đồng tiền ( Kết quả) vì một loạt hành động gian ác, bất chính đều do đồng tiền chi phối (nguyên nhân )

=> Mối quan hệ: Trong quá trình lập luận phân tích luôn gắn liền với khái quát tổng hợp

* Đoạn trích 2

– Phân tích theo quan hệ nội bộ của đối tượng: Các ảnh hưởng xấu của việc bùng nổ dân số đến con người: Thiếu lương thực, thực phẩm; suy dinh dưỡng, suy thoái nòi giống; thiếu việc làm, thất nghiệp

– Phân tích theo quan hệ nguyên nhân – kết quả: Bùng nổ dân số (nguyên nhân) ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống con người (Kết quả)

=> Mối quan hệ: Phân tích sau đó mới kết luận

III/ Luyện tập (trang 28 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)(ngắn nhất)

Bài 1:

Các quan hệ làm cơ sở để phân tích:

a/ Quan hệ nội bộ của đối tượng (diễn biến, các cung bậc tâm trạng của Thúy Kiều): đau xót, quẩn quanh và hoàn toàn bế tắc

b/ Quan hệ giữa đối tượng này với các đối tượng khác có liên quan: Bài thơ Lời kĩ nữ của Xuân Diệu với bài Tì bà hành của Bạch Cư Dị

Bài 2:

Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong Tự tình II

– Nghệ thuật sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh và cảm xúa. Chú ý phân tích các từ ngữ: văng vẳng, trơ, cái hồng nhan, xiên ngang, đâm toạc, tí con con

– Nghệ thuật sử dụng từ ngữ trái nghĩa: say – tỉnh, khuyết – tròn, đi – lại

– Nghệ thuật sử dụng phép lặp từ ngữ (xuân), phép tăng tiến (san sẻ – tí – con con)

Chú ý: Thoạt nhìn sự thay đổi san sẻ – tí – con con là sự giảm dần (tiệm thoái) nhưng ở đây xét về mức độ cô đơn, sự thiệt thòi về tình cảm của tác giả thì lại là tăng tiến

– Phép đảo trật tự cú pháp trong câu 5 và 6.

 

Nguồn: Tổng Hợp