Top 5 bài soạn mẫu phân tích tác phẩm “Hứng trở về” văn học 10 hay nhất

Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370) tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Năm 16 tuổi, ông đỗ Hoàng Giáp. Ông làm quan đến chức Thượng thư. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông còn để lại tác phẩm Giới Hiên thi tập. Bài thơ “Quy hứng” (Hứng trở về) được sáng tác khi Nguyễn Trung Ngạn đang đi sứ ở Giang Nam (Trung Quốc). Lòng yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về dân tộc là cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Bài thơ giúp người đọc ý thức một chân lí: không gì bằng quê hương xứ sở của mình; giúp ta thêm yêu, thêm quý nơi mình sinh ra, lớn lên và trưởng thành.

Bài văn mẫu “Hứng trở về ”  số 1

Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) tên hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Ông nổi tiếng là thần đồng: năm mười hai tuổi ông thi đỗ Thái học sinh, năm mười sáu tuổi thi đỗ Hoàng giáp.

Ông làm quan trải bốn triều vua Trần, Nguyễn Trung Ngạn có công lớn về quân sự, chính trị, ngoại giao. Năm 134, vua Trần Dụ Tông cử ông cùng Trương Hán Siêu biên soạn bộ “Hoàng triều đại điển” và “Hình thư” để ban hành. Ông là một người có tình cảm sâu đậm với quê hương đất nước, cả cuộc đời đã gắn bó và có những cảm xúc đặc biệt với nơi mình sinh ra.

Nhưng có một thời gian ông phải đi sứ sang Trung Quốc và ông đã sáng tác ra bài thơ “Quy hứng” được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Bài thơ thể hiện nỗi nhớ nhà, quê hương khi ở nơi xứ người. Bài thơ này ông viết về một khung cảnh thiên nhiên làng quê, với những hình ảnh rất gần gũi và quen thuộc với làng quê thanh bình Việt Nam. Hình ảnh xuất hiện trong bài là: dâu tằm, những bông lúa chín, cua đồng,… Những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc ấy lại làm ta liên tưởng tới:

“Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

Tình yêu đó hết sức bình dị, xuất phát từ mỗi con người, nhất là khi đang ở nơi đất khách thì nỗi nhớ quê lại dâng lên thật xao xuyến. Khi đi sứ sang Trung Quốc nơi tác giả ở là những chốn phồn hoa đô hộ lấy đâu ra những thứ gần gũi như ở quê hương của tác giả vậy mà qua bài “Quy hứng” ta lại có thể thấy được những hình ảnh đó hiện lên chân thực giống như tác giả ở trước những ảnh vật đó vậy.

Phiên âm:

“Lão tang diệc lạc tàng phương tận

Tảo đạo hoa hương giải chính phì

Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo

Giang Nam tuy lạc bất như quy.”

Dịch thơ:

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín

Lúa sớm đơm bông cua béo ghê

Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt

Dầu vui đất khách chẳng bằng về.”

Ngay ở phần mở đầu bài thơ đã xuất hiện những hình ảnh rất đỗi giản dị, mộc mạc mà làm cho tác giả nhớ đến nỗi, dù đang ở nơi đất khách nhưng vẫn tả rất chuẩn xác:

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín

Lúa sớm đơm bông cua béo ghê”

Những hình ảnh như “dâu, tằm, lúa” đó là những thứ không thể thiếu được ở mỗi làng quê Việt Nam. Nương dâu xanh mướt, những cánh đồng lúa bạt ngàn, những chú cua đồng ở mương, ở ruộng nếu bắt về nấu ăn sẽ rất ngon, vì là mùa này rất nhiều chất dinh dưỡng nên cua rất béo, mấy món ăn của nơi làng quê chỉ giản dị vài món nhưng mỗi bữa cơm thì gia đình quây quần rất vui vẻ hạnh phúc.

Chỉ nghĩ về những thứ mộc mạc đó thôi cũng làm tâm hồn nhà thơ tan chảy, ông làm ngay bài thơ này để gửi gắm vào trong đó những tâm tư tình cảm của mình vào bài thơ. Ông đang ở một nơi xa hoa, toàn được ăn những của ngon vật lạ, có biết bao nhiêu thú vui, ấy vậy mà ông vẫn muốn được trở về nhà. Tình yêu quê hương đất nước, nỗi nhớ quê nhà đã được bật lên thành tiếng ở hai câu cuối cùng:

“Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt

Dầu vui đất khách chẳng bằng về”

Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối dành cho hai câu thơ cuối này để làm nổi bật sự khác nhau giữa quê hương và nơi đất khách. Đầu tiên ông nhắc về quê hương: “Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt” mặc dù nghèo như quê nhà của ông vẫn là tốt nhất.

Câu tiếp theo ông đã nói về tâm trạng ông lúc này đó là ông muốn trở về nhà, dù rằng nơi đất khách phồn hoa, náo nhiệt, có nhiều cuộc vui nhưng về nhà vẫn là tốt nhất. Ngụ ý của tác giả đâu chỉ có thế, tác giả còn muốn thể hiện niềm tự hào, tự tôn, còn thể hiện tấm lòng son sắt của ông với quê hương. Những hình ảnh giản dị của quê hương hiện lên làm cho ông vơi bớt, nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương.

Qua bài “Quy hứng” (Hứng trở về) ta thấy được cảm xúc qua bài là tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào dân tộc của tác giả Nguyễn Trung Ngạn. Ông vẽ lên một bài thơ với khung cảnh thiên nhiên gần gũi và quen thuộc vơi quê hương đất nước, khi đọc bài thơ người đọc cũng cảm thấy hình ảnh giản dị của quê hương như hiện lên.

Bài thơ này giúp thế hệ trẻ chúng ta thức tỉnh hãy phấn đấu hơn nữa vì quê hương của chúng ta, giúp quê hương đất nước ngày càng phát triển. Dù đi đâu cũng luôn tự hào về quê hương.

 

Bài văn mẫu “Hứng trở về ”  số 2

Nguyễn Trung Ngạn là một vị quan có tài có đức của nước ta dưới thời nhà Trần. Ông được cho là thần đồng khi đỗ hoàng giáp (tương đương học vị tiến sĩ hiện nay) năm mới mười sáu tuổi. Bên cạnh hoạt động chính trị, Nguyễn Trung Ngạn còn sáng tác thơ và để lại tác phẩm Giới Hiên thi tập. Quy hứng là một bài thơ hay của ông được sáng tác sau khi ông đi sứ bên Trung Quốc trở về. Bài thơ đã thể hiện nỗi nhớ, tình yêu quê hương sâu sắc và mong muốn trở về quê hương của nhà thơ.

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín

Lúa sớm bông thơm cua béo ghê

Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt

Dẫu vui đất khách chẳng bằng về”

Bài thơ quy hứng được Nguyễn Trung Ngạn sáng tác bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật, lời ít nhưng ý nhiều. Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã khắc họa những hình ảnh rất đỗi quen thuộc nơi quê nhà:

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín”

Lúa sớm bông thơm cua béo ghê”

Ai cũng có một miền quê để thương để nhớ. Với Nguyễn Trung Ngạn cũng vậy, bài thơ được viết khi ông đi sứ trở vể. Ông nhắc tới những hình ảnh gần gũi thân thương quê hương mình. Đó là “dâu”, “tằm”, “lúa”, “cua”. Nhà thơ đã rất khéo léo khi miêu tả mọi hình ảnh chi tiết đều đang ở độ chín. Đó là “dâu già”, “tằm vừa chín”, “lúa” “bông thơm” và “cua béo”. Câu thơ gợi lên một ngày trở về của vị quan triều đình, ông đi qua cánh đồng dâu xanh bát ngát cùng với những nong tằm, hương lúa thoảng thoảng mùi thơm cùng hình ảnh những con cua đồng béo.

Một vùng quê bình yên và trù phú hiện lên trước mắt người đọc, bình yên như bao miền quê khác trên dải đất hình chữ S này. Đọc câu thơ, ta cảm nhận được những cánh đồng lúa buổi sớm mai đẹp như một tấm thảm, tỏa hương lúa mới rất riêng. Người đọc cũng cảm nhận được hình ảnh cua đồng béo tốt cùng món ăn dân dã là bát canh cua ngon ngọt mỗi trưa hè. Tất cả những hình ảnh mộc mạc ấy tạo nên một hồn quê, một nơi để nhà thơ trở về.

Hình ảnh quê hương bước vào thơ ca dù trung đại hay hiện đại đều mang những nét giản dị, chân thành đến thế. Nếu nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn nhớ vườn dâu, ruộng lúa thì nhà thơ Đỗ Trung Quân lại nhớ:

“Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày”

Nhà thơ Tế Hanh cũng góp vào chủ đề tình yêu quê hương ấy những dòng sông xanh biếc:

“Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre”

Nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn càng khẳng định tình yêu quê hương đất nước khi so sánh quê hương mình với một đất nước trù phú nơi ông đi sứ:

“Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt

Dẫu vui đất khách chẳng bằng về”

Nhà thơ đã nhấn mạnh “nghèo vẫn tốt” trong câu thơ như muốn nhấn mạnh dù ở quê hương có nghèo những vẫn rất tốt. Bởi lẽ một điều ai cũng hiểu, quê hương vốn là nơi ta sinh ra và lớn lên, cho ta bao kỷ niệm gắn bó. Nên quê hương luôn là hai tiếng thiêng liêng như một phần máu thịt của mỗi con người. Đối với Nguyễn Trung Ngạn, hai từ “đất khách” ám chỉ Trung Quốc phồn hoa, đô hội nơi ông đi sứ một thời gian.

Với ông, dù ở nơi phồn hoa, đô hội như thế “dẫu vui” cũng “chẳng bằng về” với nơi chôn rau cắt rốn đời mình. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp so sánh tài tình trong hai câu thơ để so sánh quê nghèo và đất khách càng khẳng định tình yêu quê hương tha thiết sâu nặng của nhà thơ. Đó là triết lý sông của các bậc hiền triết xưa, luôn yêu thích cuộc sống thanh tao, giản dị chốn quê nhà.

Chỉ với một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt với bốn câu thơ ngắn ngủi, nhịp thơ nhịp nhàng, hình ảnh thơ bình dị, gần gũi, bài thơ đã làm nổi bật một miền quê yên bình, giản dị cùng tình yêu quê hương, nỗi nhớ của Nguyễn Trung Ngạn với quê hương của mình.

Quy hứng là một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Trung Ngạn. Bài thơ đã khắc họa thành công nỗi nhớ quê hương với những hình ảnh thân thương và bình dị. Qua đó, nhà thơ gửi gắm trong đó tình yêu quê hương da diết luôn thường trực trong trái tim mình cùng triết lý sống thanh cao nơi miền quê yên bình. Bài thơ cũng là tiếng lòng của những người con xa xứ, khơi gợi được nhiều xúc cảm trong trái tim người đọc về nơi quê cha đất tổ.

 

Bài văn mẫu “Hứng trở về ”  số 3

Quê hương hai tiếng vô vàn thân thương, quê hương như dòng sữa mẹ không bao giờ vơi cạn, như tấm lòng mẹ giản dị và bao la, hình ảnh quê hương với chiếc cầu tre, con đò nhỏ, với những rặng tre xanh tắm mình trong những luồn gió thơm ngọt ngào… đã đi vào tiềm thức. Vậy mà một lúc nào đó bạn phải xa quê hương thì quả là một thách thức rất lớn. Tôi là như vậy đó, khi tôi viết bài thơ Hứng trở về khi tôi đang phải biền biệt nơi đất khách quê người. Đúng như lời của một bài ca dao:

“Anh đi, anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương,

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”.

(Ca dao)

Một lần tôi về quê, sau bao nhiêu năm xa cách. Bồi hồi, nhớ nhung, biết bao kỉ niệm hiện về. Nhưng quê hương đây rồi, tất cả vẫn còn nguyên như cũ, nhưng con người cũ đâu rồi? Những đứa trẻ lớn lên xa lạ, hỏi tôi: “Bác ở mù nào lại chơi?”. Thật ngậm ngùi: thời gian!

Khi xa quê hương, những điều bình dị đều trở thành những điều thật thiêng liêng, mỗi người đều nhớ về quê với những gì thật gần gũi gắn bó với tuổi thơ và đến lúc trưởng thành, còn bạn thì sao? Khi viết bài Quy hứng, tôi đang trên đường trở về quê hương trong tâm trạng khắc khoải và chờ đợi.

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín’’: Hình ảnh lá “dâu già, lá rụng, tằm vừa chín” đã ám ảnh trong tâm trí của tôi vì là người gắn bó máu thịt với quê hương, hiểu được đặc trưng của quê hương nên tôi luôn nhớ về nơi chôn rau cắt rốn với những hình ảnh quen thuộc, phải là người gắn bó sâu nặng và ân tình nên tôi mới có thể hiểu được quê mình trong những giờ phút chuyển mùa, khi sống nơi đất khách, quê hương luôn là điểm tựa tinh thần của tôi, nâng đỡ và tiếp bước cho tôi trong những chặng đường đời.

Nếu như bạn sinh ra và lớn lên ở vùng đất nông thôn xa rời với những bon chen và vật lộn với cuộc đời, một lúc nào đó khi phải xa nơi mình đã từng gắn bó, ký ức trong bạn là những cánh đồng lúa xanh mơn mởn, tỏi cũng vậy, nhớ về quê hương là tôi lại nhớ đến những cánh đồng lúa đang mùa trĩu hạt, tôi nhớ cả những buổi đi bắt cua được tắm mình trong những dòng sông.

“Lúa sớm đơm bông, cua béo nghê”. Phải là những con người gắn bó bằng da, bằng thịt không những chỉ cảm nhận bằng hình ảnh mà còn cảm nhận bằng mùi vị nữa. Tôi yêu quê hương của mình, chỉ có tình yêu tha thiết và sâu nặng mới có thể biến những điều bình dị thành những gì sâu nặng đến như thế, bởi vì tôi sinh ra không phải chốn phồn hoa đô hội, tôi sinh ra ở vùng quê ròn rã nắng cháy mùa, nơi ấy có những cánh đồng thơm mát hương đồng nội, nơi ấy xa rời với những bon chen vật lộn với đời, nơi ấy có những con người hồn hậu và chất phác, bình dị và trong lành, tôi tự hào vì điều đó.

Còn bạn thì sao? Bạn sẽ tự hào vì mình sinh và lớn lên ở chốn thị thành? Đương nhiên là vậy rồi, vì mỗi người đều có một quê hương để mà tự hào (“Quê hương mỗi người chỉ một”). Nhưng quê hương của tôi là vậy đây. Quê hương tôi nghèo lắm, con người ở đây cũng hồn hậu và chất phác như thế. Nhưng khi xa quê hương, trải qua bao thăng trằm, tôi mới tự hỏi lòng mình vì sao quê hương lại có sức nặng ghê gớm đến như vậy?

“Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt”. Mặc dù xa quê hương nhưng hình bóng của quê nhà vẫn luôn ám ảnh trong những giấc mơ của tôi, tôi vần trông chờ và hi vọng, vẫn luôn khắc khoải, chờ mong và trông đợi tin tức của quê hương, tôi tự lắng lòng mình xuống để nghe những âm thanh cuộc sống của quê nhà, nhưng quê hương vẫn nghèo như thế nhưng cái giàu có về tâm hồn mới là sự giàu có quan trọng nhất, có lẽ đúng với ý thơ của Nguyễn Trung Ngạn: “Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt’’.

Trong cuộc đời bôn ba đầy dâu bể, trải qua bao biến thiên thăng trầm, dẫu rằng nơi đất khách được ăn những món ngon, được thưởng thức những cảnh đẹp, được thả mình trong những cuộc chơi nhưng cuộc vui thì lại thoáng qua còn những gì sâu đậm nhất thì neo lại giữa lòng người. Đó là tâm hồn mình luôn hướng về quê hương trong tâm trạng khắc khoải với khát vọng cháy lòng, nơi ấy có người mẹ già, có những người anh và những người chị, nơi ấy có những đứa em đang còn thơ dại, thử hỏi làm sao không mong muốn trở về quê được?

“Dâu vui đất khách chẳng bàng về”. Đôi lúc tôi cứ thử tập quen đi một môi trường sống mới nhưng dù có đi đâu, đến nơi chân trời góc bể tôi vẫn luôn nhớ về những gì gần gũi và thân quen. Đó phải chăng là sức nặng của quê hương bởi quê hương bao giờ cũng như người Mẹ luôn ôm ấp những đứa con và tiếp sức cho chúng trên những bước đường đời.

Đó là một chân lí bất di bất dịch, cho dù cuộc sống luôn vận động và biến đổi, nhưng dòng sông vẫn luôn miệt mài chảy, cánh cò vẫn thả mình trong những rặng gió chiều, cánh đồng vẫn thơm ngào ngạt trong những mùa trổ bông. Sống nơi đất khách quê người tôi chỉ còn biết mình cần phải cố gắng phấn đấu rất nhiều, học hỏi rất nhiều để rồi một ngày không xa nữa tôi mang theo những tri thức ấy để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn.

 

Bài văn mẫu “Hứng trở về ”  số 4

“Quê hương là gì hả mẹ

Mà cô giáo dạy phải yêu”

Nguyễn Trung Quân đã từng băn khoăn hỏi lại như thế, quê hương là gì mà ai cũng phải nhớ, phải yêu, phải tìm về dù có đi tới bất cứ đâu. Quê hương – hai tiếng đơn giản, mộc mạc ấy lại chứa đựng biết bao ý nghĩa. Không ít những nhà văn nhà thơ luôn tìm thấy một nguồn cảm hứng dạt dào mỗi khi nhắc tới quê hương của mình và Nguyễn Trung Ngạn cũng vậy. Trong một lần đi sứ bên Trung Quốc, ông đã sáng tác lên tác phẩm “Hứng trở về” – Quy hứng để bày tỏ nỗi nhớ quê hương tha thiết và ước mong được mau chóng trở về quê nhà.

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín

Lúa sớm bông thơm cua béo ghê

Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt

Dầu vui đất khách chẳng bằng về”.

Nguyễn Trung Ngạn sáng tác bài “Hứng trở về” khi đang đi sứ ở Giang Nam – Trung Quốc. Cuộc sống của một vị sứ giả cũng đầy đủ, tiện nghi, thế nhưng, dù có bao nhiêu bổng lộc, vinh hoa chốn quê người, lại chẳng bằng những gì dân dã, mộc mạc nhất của quê hương. Vậy nên, nhà thơ đã dùng những hình ảnh quen thuộc nhất của làng quê Việt mà dựng lại bức tranh về nỗi nhớ nhà của mình.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trung Ngạn đã cho chúng ta thấy nỗi nhớ quê của ông da diết như thế nào. Nỗi nhớ ấy đến từ những vật, những thứ tưởng chừng như đơn giản nhất, chất phác nhất:

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín

Lúa sớm bông thơm cua béo ghê”.

Hai câu thơ mở đầu toàn là những hình ảnh rất quen thuộc của làng quê ta, nào là cây dâu, con tằm, những bông lúa đang trổ bông, một đàn cua béo. Phải nói, đây là những hình ảnh sớm đã in đậm vào tâm trí của những đứa trẻ lớn lên bên lưng trâu, lớn lên bên những cánh đồng lúa bát ngát, rộng lớn. Những hình ảnh này là những dòng hồi tưởng của Nguyễn Trung Ngạn về quê nhà, ông đang nhớ quê hương, nhớ từ những vật đơn thuần nhất, quen thuộc nhất với tuổi thơ của mình. Sự liệt kê một loạt những cảnh vật ấy cho thấy nỗi nhớ đang cuộn lại, bùng lên trong sâu thẳm con người ông.

Nỗi nhớ ấy cũng rất cụ thể, rất chân thực, tưởng chừng như còn gợi lên mùi vị của bông lúa thơm, của những con cua béo tốt với bát canh riêu của mẹ. Thật là những hình ảnh giàu sức gợi tả, bởi nó là máu, là xương, là thịt, gắn bó với cuộc đời của bất cứ đứa trẻ nào đã từng lớn lên ở vùng nông thôn. Như cha ông ta cũng từng thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết ấy vào từng câu chữ:

“Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”.

Từng món ăn quen thuộc, từng cảnh vật thân thương, chỉ vậy thôi cũng gợi lên biết bao nhiêu là nỗi nhớ trong lòng một kẻ đang xa quê. Nỗi nhớ ấy thật dạt dào, thật sâu sắc! Ở đây, Nguyễn Trung Ngạn không sử dụng bất cứ một hình ảnh ước lệ tượng trưng nào của thi ca cổ, ông chỉ đưa vào thơ của mình những hình ảnh bình dị nhất, quen thuộc nhất để gợi lên nỗi nhớ quê hương trong ông.

Điều này đã góp một phần không nhỏ khẳng định xu hướng bình dị hóa trong nền thơ ca trung đại, phá vỡ quy phạm trang trọng vốn có trong thơ ca cổ điển. Nếu như ai đã từng đọc qua những bài thơ cổ, có thể thấy, văn chương cổ rất chú trọng sự trang trọng của lời thơ, sử dụng rất nhiều hình ảnh ước lệ để tăng tính tao nhã và thâm thúy cho lời thơ. Như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta thấy những hình ảnh ước lệ như:

“Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

Thế nhưng, Nguyễn Trung Ngạn đã phá vỡ quy phạm này để sáng tạo nên một nỗi nhớ quê thật bình dị, khiêm nhường mà không kém phần sâu sắc. Sang hai câu cuối, người đọc lại càng cảm nhận sâu sắc hơn nỗi nhớ quê của ông:

“Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt

Dầu vui đất khách chẳng bằng về”.

Đi sứ là một công việc tuy có gian khổ nhưng lại được hưởng rất nhiều bổng lộc, được hưởng vinh hoa, cũng như được thưởng thức nhiều danh lam thắng cảnh, món ăn của các nước khác, thế nhưng điều đó chẳng làm cho Nguyễn Trung Ngạn cảm thấy vui sướng hơn. Bởi hình ảnh của những cánh đồng lúa thơm mùi lúa chín, vị ngon của những con cua đang thời béo tốt, những đàn tằm ăn lá,… cứ quanh quẩn trong tâm trí ông. Quê hương tuy có nghèo, tuy chẳng sang trọng, nhưng cái đẹp, cái bình dị, thân thương mà nó mang đến lại chẳng nơi nào sánh bằng.

Tuy đang được sống nơi đất khách xa hoa, náo nhiệt, thế nhưng cái cảm giác được sống ở quê hương vẫn là điều tuyệt vời nhất với ông. Những phồn hoa, phú quý chẳng đủ sức níu kéo bước chân của người xa quê. Li khách với nỗi nhớ quê canh cánh trong lòng, chẳng thể nào nguôi. Chẳng thế, ông đã ngầm so sánh giữa việc được ở nhà và việc đi sứ, rằng cuộc sống ở quê nghèo nhưng vui vẻ hạnh phúc, cuộc sống nơi đất khách sung sướng nhưng “chẳng bằng về”.

Nhà thơ đang mong mỏi được trở lại quê hương, được mau chóng trở về nhà để được sống ở nơi có những hình ảnh bình dị, thân thương. Hai câu thơ đều sử dụng biện pháp so sánh, thế nhưng lại ở hai tầng nghĩa khác nhau, mang hai cảm xúc khác biệt. Nhà thơ nhắc về quê với niềm vui, hạnh phúc, còn nhắc về nơi “đất khách” với nỗi sầu không nguôi.

Qua những câu chữ của bài thơ “Hứng trở về”, người ta thấy ẩn chứa trong từng câu chữ của ông là một nỗi nhớ quê hương tha thiết, một tình yêu đất nước sâu nặng. Không chỉ thế, ông còn đặt vào đó niềm tự hào dân tộc thông qua những hình tượng thơ hết sức chân thực và bình dị, mang dấu ấn đậm nét của quê hương Việt Nam.

Bằng những ngôn từ dân dã nhất, Nguyễn Trung Ngạn đã gợi lên trong lòng tất cả chúng ta một tình yêu nước, yêu quê hương đến tha thiết, thật xúc động. Những hình ảnh về những nong tằm, những vườn dâu xanh, những cánh đồng lúa chín, vị ngon của món canh cua sẽ in đậm vào sâu trong tâm trí chúng ta thật khắc khoải, khó quên.

Khép lại bài thơ, người đọc chúng ta không khỏi cảm động với nỗi nhớ quê hương thật sâu sắc mà bình dị, chân thành của Nguyễn Trung Ngạn. Tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào tự tôn dân tộc trong lúc đi sứ xa quê chính là niềm cảm hứng để ông viết nên tác phẩm đặc sắc này. Qua đó, Nguyễn Trung Ngạn cũng muốn nói với chúng ta một triết lý sâu sắc rằng: Chúng ta có nhiều nơi để đi nhưng chỉ có một chốn để trở về, và đó là quê hương!

 

Bài văn mẫu “Hứng trở về ”  số 5

Nguyễn Trung Ngạn không chỉ là một vị quan với tài đức vẹn toàn mà Ông còn là nhà thơ với nhiều sáng tác nổi tiếng. Một trong số đó là bài thơ Quy hứng, bài thơ được ra đời khi Ông đi sứ tại Trung Quốc về. Cùng phân tích bài thơ Quy hứng để thấy được tình yêu thương, nỗi nhớ và mong muốn được trở về quê hương của Nguyễn Trung Ngạn.

Nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn hay còn gọi là Bang Trực với hiệu là Giới Hiên, quê ở tỉnh Hưng Yên. Ông còn là một danh thần của thời nhà trần, với tinh thần yêu nước da diết, Ông đã để lại cho đời rất nhiều bài thơ hay, đặc biệt là “Giới hiên thi tập”, trong đó điển hình là bài thơ Quy hứng.

Bài thơ được viết với thể ngôn tứ tuyệt, thể hiện được nỗi nhớ của gia đình với niềm tự hào của người đang ở nơi đất khách quê người. Hai câu thơ đầu là những hình ảnh khiến cho người đọc hiểu được nỗi nhớ tha thiết:

“Lão tang diệp lạc tàm phương tận

Tảo đạo hoa hương giải chính phi”

Dịch thành:

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín

Lúa sớm bông thơm, cua béo ghê”

Tình yêu được thể hiện rất đỗi bình dị, nỗi nhớ khi xa nhà được dâng trào lên lên thật xao xuyến. Tác giả nhắc tới các hình ảnh lá dâu cuối vụ có màu vàng sẫm bị rụng khắp nương bãi, lứa tằm thì vàng óng ngoài sân, lúa trổ trắng bông ngoài đồng có hương thơm ngào ngạt. Đây là những hình ảnh khiến cho người đọc nhớ tới một vùng quê đầy mộc mạc thân quen. Có thể thấy những hình ảnh này như một ký ức không thể quên được.

Nguyễn Trung Ngạn đã sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh tương phản rất thú vị, bần diệc hảo hay còn gọi là nghèo vẫn tốt với Giang Nam tuy lạc. Khi ở nơi đất khách Giang Nam khi cuộc sống sung túc hơn nhưng vẫn không thể bằng ở nhà mình được. Điều này càng thể hiện tình yêu thương của tác giả với quê hương, gia đình rất sâu sắc. Nơi chôn nhau cắt rốn với tình cảm sâu nặng, dù cho tới Giang Nam là tới với nơi đô hội, phồn hoa nhưng không nhưng chẳng bằng về.

Với giọng văn gần gũi và sâu lắng mang tới hình ảnh thơ mộng khiến cho bài thơ Quy hứng mang được sự đồng điệu với người đọc. Một người khi xa quê đều sẽ cảm nhận được cảm xúc khôn xiết khi phải xa nơi mình được sinh ra, nơi gắn bó cả tuổi thơ, nơi có những hình ảnh bình dị rất thân quen. Nguyễn Trung Ngạn thể hiện được toàn bộ nội tâm khi thấu hiểu qua từng câu chữ trong bài thơ.

Toàn bộ những hình ảnh của cua đồng béo ngậy, hình ảnh lúa chín vàng thể hiện rõ hình ảnh làng quê Việt Nam. Chính những hình ảnh thân quen được khắc sâu vào tâm trí của tác giả đã khiến cho Ông có một tình cảm mãnh liệt với con người, với quê hương. Trong hoàn cảnh của tác giả lúc này là muốn trở về nhà càng sớm càng tốt. Điều này càng thể hiện tinh thần tự hào dân tộc, lòng son sắc một lòng với quê hương đất nước.

Qua phân tích bài thơ Quy hứng ta thấy được tình cảm thiêng liêng của tác giả dành cho quê hương. Nguyễn Trung Ngạn thể hiện được những khung cảnh quen thuộc để thấy được những nét bình dị, gần gũi. Với tài năng của một nhà thơ đa tài người đọc cảm nhận được toàn bộc lộ toàn bộ cảm xúc của tác giá và nỗi lòng của người con xa thứ. Bài thơ giúp cho những thế hệ trẻ nâng cao tinh thần yêu nước hơn, khiến người đọc thấy bình dị, thân quen và đi đâu thì cũng luôn tự hào với nơi mình được sinh ra.

Nguồn: Tổng Hợp