Top 5 bài hướng dẫn soạn bài”Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học” lớp 12 chi tiết nhất

Top 5 bài hướng dẫn soạn bài”Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học” lớp 12 chi tiết nhất giúp học sinh ôn tập và củng cố thao tác nghị luận đã học áp dụng vào phân tích một tác phẩm thơ hay tác phẩm văn xuôi trong chương trình học để các em tự tin hơn khi viết bài.

Soạn bài”Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học” số 1

Đề 1: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao.

Phân tích cuộc đời nhân vật Chí Phèo qua các giai đoạn:

– Chí Phèo có tuổi thơ bất hạnh: mồ côi, phải đi ở rồi làm thuê cho nhiều gia đình ở trong làng. Hắn là một cố nông hiền lành, chăm chỉ, có những mơ ước giản dị và lương thiện.

– Chí Phèo bị Bá Kiến ghen tuông rồi đẩy đi tù. Ra tù, Chí Phèo bị tha hóa cả ngoại hình lẫn tính cách. Hắn say triền miên. Hắn giao tiếp với mọi người bằng tiếng chửi. Thậm chí, từ kẻ thù, hắn trở thành tay sai cho Bá Kiến trong những cuộc tranh chấp ở làng, …

– Nhưng hắn chưa mất hẳn nhân tính. Tình yêu mộc mạc giản dị với thị Nở đã đánh thức con người lương thiện ở Chí. Hắn vùng lên giết chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình trong bế tắc.

– Nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa của Chí Phèo: do hắn phải sống trong môi trường “quần ngư tranh thực”. Nạn nhân của sự tranh chấp giữa các phe cánh phong kiến chính là những người dân hiền lành như Chí. Môi trường xã hội phi nhân tính đã đẻ ra những con người như Chí Phèo.

– Khẳng định: Chí Phèo là nạn nhân của bọn địa chủ cường hào ở nông thôn trước kia.

Đề 2: Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân).

Tâm lí Huấn Cao chuyển biến qua hai giai đoạn:

– Giai đoạn đầu: Viên quản ngục tỏ thái độ biệt đãi Huấn Cao. Huấn Cao từ chối bằng việc sự miệt thị, bực tức.

Các em có thể dựa vào đoạn trích “… Rồi đến một hôm … Ta chỉ muốn có một điều: là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây“.

Phân tích thái độ và lời nói của quản ngục; phân tích thái độ tâm lí của Huấn Cao trong lời đáp lại quản ngục; vì sao Huấn Cao lại có thái độ như vậy? Thái độ đó có hợp với hoàn cảnh và tính cách nhân vật không?)

– Giai đoạn sau: Huấn Cao cảm nhận được “tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục, mặc dù trong hoàn cảnh đề lao tù túng, ẩm thối nhưng Huấn Cao vẫn viết chữ tặng quản ngục và khuyên bảo những lời tâm huyết.

(Các em có thể dựa vào đoạn: “… Một người tù cổ đeo gông … ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cùng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi“.

Phân tích cử chỉ, lời nó của Huấn Cao đối với quản ngục. Thái độ và lời nói của Huấn Cao đối với quản ngục ở đoạn này hoàn toàn khác trước – Vì sao?)

– Rút ra nhận xét: Thái độ của Huấn Cao ở hai giai đoạn tuy khác nhau, nhưng hợp lí, hợp hoàn cảnh, làm nổi bật nhân cách Huấn Cao: Một con người vừa cao ngạo, bất khuất vừa tài hoa, chân tình, biết trân trọng những tấm lòng tốt trong thiên hạ, biết đề cao thiên lương đẹp đẽ của con người.

Soạn bài”Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học” số 2

Đề 1 

Người xưa có câu: “Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”. Anh (chị) hãy nói rõ suy nghĩ của mình về quan niệm trên.

Lời giải chi tiết:

Mở bài:

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

Thân bài:

* Giải thích câu nói:

– Ý câu nói khuyên người phụ nữ thời xưa không nên học theo Thúy Kiều bởi nàng dám vượt qua những chuẩn mực của lễ giáo phong kiến.

=> Khẳng định: Đây là ý kiến sai lầm, bảo thủ, phiến diện

* Phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ

– Đây là một quan niệm sai lầm, bảo thủ, chỉ nhìn nhận và đánh giá Thúy Kiều một cách phiến diện. Lấy đạo đức nho giáo cứng nhắc để đánh giá phẩm chất của một người con gái.

– Thúy Kiều vừa đáng thương vừa mang những vẻ đẹp phấm chất đáng trân trọng.

+ Trong tình yêu: Chủ động đi tìm tình yêu, tìm người yêu. Đối với người yêu, nàng tỏ ra đoan trang, đúng mực.

+ Trong quan hệ với cha mẹ: Nàng là người con hiếu thảo, dám hi sinh tình yêu để giữ trọ đạo hiếu làm con.

+ Trong nghịch cảnh: nàng luôn tìm cách thoát khỏi cuộc sống tủi nhục chốn lầu xanh

+ Kết thúc quãng đời mười năm lăm lưu lạc, Thúy Kiều đoàn tụ với gia đình, gặp lại Kim Trọng. Nàng đã “Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ”, đổi tình yêu thành tri kì với Kim Trọng.

=> Truyện Kiều là một kiệt tác của dân tộc với những giá trị lớn lao, sâu sắc, chúng ra cần có thái độ khách quan và đúng đắn.

Kết bài:

– Khẳng định câu nói trên là quan điểm sai lầm. 

– Mở rộng vấn đề

Đề 2

Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao.

Lời giải chi tiết:

Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Dẫn dắt vấn đề

Thân bài

a) Trước khi đi ở tù

– Người nông dân lương thiện:

+ Sinh ra tội nghiệp, không cha không mẹ, sống và làm thuê cho nhiều người.

+ Lớn lên làm canh điền cho Bá Kiến.

+ Hiền lành, từng “ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải..”

 => Con người lao động nghèo khổ đáng thương, hiền lành.

 – Khi bóp chân cho bà Ba: Thấy nhục chứ yêu đương gì, run run sợ hãi, uất ức chịu đựng. 

=> Con người luôn ý thức được nhân phẩm, có lòng tự trọng và nhẫn nhịn trong thân phận tôi đòi, đáng thương.

b) Khi ở tù về: thay đổi cả nhân hình lẫn nhân tính

* Mối quan hệ giữa bá Kiến – Chí Phèo:

– Chí là người nông dân hiền lành, lương thiện đã bị bá Kiến hãm hại đẩy vào tù, sau khi ở tù ra Chí hoàn toàn thay đổi cả về ngoại hình lẫn nhân tính.

+ Ngoại hình: “Cái đầu ….gớm chết”, trên mặt thì đầy những nét lằn ngang lằn dọc (kết quả của những lần rạch mặt ăn vạ).

+ Nhân tính:  Hắn vừa đi vừa chửi, về hôm trước hôm sau lại ra chợ uống rượu với thịt chó từ sáng sớm đến chiều tối, sống triền miên trong vô thức từ cơn say này đến cơn say khác, làm tay sai đắc lực cho bá Kiến và trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại => Chí đã bị vứt  bên lề cuộc sống.

– Chí Phèo 3 lần đến nhà bá Kiến, lần nào cũng mang theo hung khí (vỏ chai hoặc con dao) => Bá Kiến là nguyên nhân của sự tha hoá, nỗi đau bị từ chối quyền làm người và bi kịch của Chí.

* Mối quan hệ Thị Nở và Chí Phèo: Là quan hệ trực tiếp thể hiện phần nhân tính chìm khuất cũng như bi kịch bị từ chối quyền làm người của Chí.

 – Sự xuất hiện của Thị Nở có một ý nghĩa khá đặc biệt trong việc thể hiện số phận, tính cách nhân vật Chí.

+ Dưới mắt người dân làng Vũ Đại, thị Nở nghèo, xấu, dở hơi, là dòng dõi của nhà “có ma hủi”. Nhưng với Chí thì thị Nở là người “có duyên”. Bởi vì thị không chỉ là người mà còn là ước mơ hạnh phúc của Chí, thị đã giúp Chí phát hiện lại chính mình.

+ Nhưng thị cũng là nỗi đau sâu thẳm của Chí. Nghèo xấu, dở hơi…thế mà Chí vẫn không “xứng đôi” với thị => Tô đậm cái bi đát, hẩm hiu trong số phận Chí.

* Việc gặp Thị Nở như một bước ngoặc trong cuộc đời Chí. Tình yêu của Thị Nở dành cho Chí đã thức tỉnh linh hồn của Chí, kéo Chí từ thú vật trở lại làm người

– Chí có sự thay đổi về tâm lí:

+ Hắn thấy hằn già mà vẫn cô độc.

+  Đói rét, bệnh tật hắn có thể chịu được nhưng hắn sợ nhất là sự cô độc.

– Chí cảm nhận được âm vang cuộc sống chung quanh mình:

+ Tiếng chim hót trong lành buổi sáng.

+ Tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá ven sông.

+ Tiếng người cười nói đi chợ về.

– Chí hồi tưởng về quá khứ và hi vọng trong tương lai.

+ Có một thời hắn mơ ước có cuộc sống gia đình “Chồng cày thuê…làm”.

+ Thị sẽ mở đường cho Chí trở lại cuộc sống lương thiện.

* Khi bị thị Nở dứt tình thì tâm trạng của Chí có nhiều thay đổi: Chí ngạc nhiên sau đó Chí chợt hiểu. Quá trình diễn biến tâm lí đầy phức tạp: thức tỉnh – hi vọng – thất vọng, đau đớn – phẫn uất – tuyệt vọng.

+ Chí thức tỉnh và muốn làm người lương thiện. Chí không thể đập phá, rạch mặt ăn vạ được nữa.

+ Nhưng ai cho Chí lương thiện.

+ Kẻ thù của Chí không phải một mình bá Kiến mà là cả xã hội đương thời thối nát và độc ác.

+ Dưới con mắt của mọi người, của xã hội ấy, Chí Phèo chỉ có thể là con quỷ dữ không thể là người. Vì thế một người tập trung tất cả cái xấu như thị Nở đã phũ phàng cự tuyệt chí.

+ Chí vô cùng đau đớn tuyệt vọng “ôm mặt khóc rưng rức”. Chí dùng dao đâm chết kẻ thù và tự sát. Chí đã chết trên ngưỡng cửa lương thiện => Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Kết bài:

– Khái quát lại vấn đề cần nghị luận

Soạn bài”Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học” số 3

Đề bài: Người xưa có câu: “Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều“. Anh chị hãy nói rõ ý kiến của mình về quan niệm trên.

Gợi ý cách làm:

Luận điểm chính cần có:

– Giải thích ý nghĩa của câu nói: quan niệm và thái độ của các nhà nho xưa với các nhân vật trong tác phẩm văn học nói riêng, trong cuộc sống nói chung về hôn nhân và tình yêu đôi lứa từ đó rút ra việc cần làm trong bài văn này 

– Dẫn chứng: Cuộc đời của Thuý Kiều trong 15 năm lưu lạc

+ Sau ngày Tết thanh minh – “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình

+ Mối tình Kim – Kiều là mối tình táo bạo, đẹp đẽ: nhiều lần hẹn thề, đính ước.

– Phân tích nhân vật Kiều: tất cả là do chế độ phong kiến vô nhân đạo, tàn ác,..

=> Đó là cách đánh giá sai, bảo thủ, phiến diện.

n ý tham khảo:

Mở bài: Nêu quan niệm của người xưa.

Thân bài:

1. Giải thích quan niệm:

– Theo các nhà Nho, Thúy Kiều có những hành động ứng xử không phù hợp với lễ giáo phong kiến (nêu dẫn chứng, chẳng hạn: Nguyễn Công Trứ, Tản Đà là những nhà thơ Nho học nổi tiếng trong các bài vịnh Kiều đã phản đối Kiều).

2. Bình luận:

– Đó là cách đánh giá sai lầm, bảo thủ, chỉ nhìn sự vật, con người một cách quan liêu, phiến diện.

– Thực ra, Thúy Kiều đáng thương chứ không đáng trách.

+ Nàng đáng thương vì cuộc đời phong trần, đau khổ của nàng là do chế độ phong kiến tàn bạo gây nên, mặc dù nàng cố gượng dậy nhưng không được.

+ Đọc Truyện Kiều, ta thấy Thúy Kiều còn là cô gái đáng phục, đáng trân trọng bởi vì nàng là một người con gái tài sắc, giàu phẩm hạnh (thủy chung trong tình yêu, hiếu thảo với cha mẹ, ý thức sâu sắc về nhân phẩm con người,…).

– Với Truyện Kiều nói chung và với nhân vật Thúy Kiều nói riêng, đại thi hào Nguyễn Du đã thể hiện những khía cạnh tư tưởng vượt thời đại. Những người đi tiên phong đôi khi bị một bộ phận hiểu nhầm là điều khó tránh khỏi.

Kết bài:

– Cần phải hiểu đúng về nhân vật Thúy Kiều và cần mạnh dạn phê phán những cách hiểu sai lệch. Đó là thái độ khách quan, khoa học thực sự cần thiết để đánh giá đúng những tác phẩm văn học như Truyện Kiều.

>> Tham khảo bài văn mẫu hay

đề 2

Đề bài: cảm nhận về nhân vật Chí Phè của Nam Cao

Gợi ý cách làm:

Những nội dung quan trọng cần triển khai:

* Trước khi đi ở tù

– Người nông dân lương thiện: con người lao động nghèo khổ đáng thương, hiền lành.

– Khi bóp chân cho bà Ba

=> Con người luôn ý thức được nhân phẩm, có lòng tự trọng và nhẫn nhịn trong thân phận tôi đòi, đáng thương.

* Khi ở tù về:

– Mối quan hệ giữa bá Kiến – Chí Phèo.

+ Hoàn toàn thay đổi cả về ngoại hình lẫn nhân tính.

-> Chí đã bị vứt bên lề cuộc sống.

+ Chí Phèo 3 lần đến nhà bá Kiến, lần nào cũng mang theo hung khí (vỏ chai hoặc con dao).

– Mối quan hệ Thị Nở và Chí Phèo:

+ Là quan hệ trực tiếp thể hiện phần nhân tính chìm khuất cũng như bi kịch bị từ chối quyền làm người của Chí.

+ Sự xuất hiện của Thị Nở có một ý nghĩa khá đặc biệt trong việc thể hiện số phận, tính cách nhân vật Chí.

– Việc gặp Thị Nở như một bước ngoặc trong cuộc đời Chí. Tình yêu của Thị Nở dành cho Chí đã thức tỉnh linh hồn của Chí, kéo Chí từ thú vật trở lại làm người

+ Chí có sự thay đổi về tâm lí.

– Khi bị thị Nở dứt tình thì tâm trạng của Chí có nhiều thay đổi. Chí vô cùng đau đớn tuyệt vọng “ôm mặt khóc rưng rức”, Chí dùng dao đâm chết kẻ thù và tự sát. Chí đã chết trên ngưỡng cửa lương thiện => Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người và cũng chính là bi kịch của người nông dân trong xã hội xưa.

=> Tình cảm của tác giả

=> Nhận định đánh giá của bản thân về nhân vật.

Dàn ý tham khảo:

* Mở bài

– Giới thiệu nhà văn Nam Cao và nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của ông.

* Thân bài

1. Khái quát chung đề tài người nông dân trong văn học Việt Nam, sự ra đời của tác phẩm Chí Phèo, những giá trị nổi bật và những nét độc đáo, sâu sắc của ngòi bút Nam Cao ở tác phẩm này.

2. Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo

a. Chí Phèo – bi kịch của sự tha hóa

– Từ một anh Chí khỏe mạnh, hiền lành với những ước mơ bình dị, Chí Phèo bị bóc lột dẫn tới bần cùng hóa và bị áp bức dẫn tới tha hóa.

– Chí Phèo từ một con người hiền lành qua bàn tay của bọn cường hào ác bá phong kiến cấu kết với thực dân đã biến thành một con quỷ dữ.

b. Chí Phèo – bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

– Chí Phèo trở về làng Vũ Đại là trở về với con người nhưng cả làng Vũ Đại không một ai coi Chí là người

– Bị “loài người ruồng bỏ”, tính chất quỷ dữ trong Chí Phèo càng trở nên hung hãn và con đường trở về với con người dường như bị chặn mọi ngả.

c. Chí Phèo – bi kịch bị cự tuyệt con đường trở lại làm người

– Thị Nở đã làm hồi sinh đốm lửa nhân tính trong Chí, hé mở cho Chí một cơ hội trở về làm người nhưng ngay cả cơ hội đó cũng lại bị tước đoạt. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc sống con người.

3. Những nhận định rút ra từ việc phân tích nhân vật Chí Phèo

– Chí Phèo là hiện thân nỗi khổ đến cùng cực của người nông dân nước ta trước cách mạng tháng Tám, Qua nhân vật, Nam Cao muốn rung lên một tiếng chuông cảnh báo về nguy cơ băng hoại nhân tính con người trước áp bức, bóc lột và sự “quay lưng” của con người và con người.

– Tuy buộc phải giải quyết mâu thuẫn bằng cái chết nhưng Nam Cao vẫn tin vào nhân tính con người,

– Tác phẩm mang giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, độc đáo

* Kết bài: Khẳng định sức sống của nhân vật Chí Phèo và tác phẩm của Nam Cao.

 đề 3

Đề bài: Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục trong truyện “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.

Gợi ý làm bài:

Tham khảo dàn ý chi tiết sau:

* Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

–  Đưa ra vấn đề cần nghị luận

* Thân bài:

–  Hoàn cảnh ra đời tác phẩm

– Giới thiệu về nhân vật Huấn Cao:

+ Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao

* Vẻ đẹp tài hoa:

* Vẻ đẹp khí phách

* Vẻ đẹp thiên lương

–  Những câu nói của Huấn Cao với viên quản ngục: (thông qua cảnh cho chữ)

+ Ông đã thể hiện được rõ quan điểm của mình trước những con người biết quý cái đẹp, mong ước thực hiện và thể hiện được cái đẹp chân chính.

+ Lời khuyên với quản ngục: Ở đây lẫn lộn…mất cái đời lương thiện đi -> Lời khuyên khuyến khích con người hướng thiện. Ông có tấm lòng thiên lương trong sáng, biết yêu quý và có những lời khen, khuyên với viên quản ngục.

* Kết bài:

– Chặng đường thay đổi thái độ của 

Soạn bài”Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học” số 4

Đề 1: Trong một bức thư bàn luận về văn chương, Nguyễn văn Siêu có viết: “Văn chương […] có loại đáng thờ, có loại ko đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người“. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên.

Bài làm cần có các nội dung sau:

– Phân tích lí giải hai loại văn chương: “Chỉ chuyên chú ở văn chương” và loại “Chuyên chú ở con người“.

+ Thế nào là văn chương “Chỉ chuyên chú ở văn chương“?

Đó là loại văn chương chỉ biết có nó, tức là coi hình thức nghệ thuật là trên hết, nhà văn khi sáng tác chỉ chăm lo cái đẹp của hình thức, không mấy chú ý đến nội dung tư tưởng và không quan tâm đến đời sống,vân mệnh con người, không có trách nhiệm đối với xã hội.

+ Thế nào là văn chương “chuyên chú ở con người“?

Đó là loại văn chương quan tâm trước hết đến cuộc sống con người vì con người, coi giá trị chủ yếu của văn chương ở chỗ nó có ích cho cuộc đời.

– Nêu ý kiến về quan niệm của Nguyễn Văn siêu:

+ Vì sao loại đáng thờ là loại “Chuyên chú ở con người” chứ không phải loại “Chuyên chú ở văn chương“?

NVS muốn nói đến chân giá trị của văn chương . Nếu văn chương không quan tâm đến con người thì văn chương sẽ tự đánh mất mình. Áng văn hay phải là áng văn tâm huyết của người cầm bút. Cái tâm thường nuôi dưỡng, phát huy cái tài.

– Liên hệ đến các nhà văn có cùng quan điểm như NVS.

Đề 2: Buy-phông, nhà văn Pháp nổi tiếng, có viết: “Phong cách chính là người.” Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào?

Cần lưu ý những ý chính sau:

– Phong cách chính là nét độc đáo và phần đóng góp riêng của nhà văn cho đời sống văn học.

– Phong cách bao gồm cả phương diện nội dung và nghệ thuật:

+ Độc đáo về nội dung thể hiện ở quan niệm về cuộc sống và con người từ việc lựa chọn đề tài, xác định chủ đề, cách lí giải những vấn đề về cuộc sống và con người … .

+ Độc đáo về nghệ thuật thể hiện ở phương thức biểu hiện, ở việc lựa chọn các thủ pháp nghệ thuật, tổ chức kết cấu, sử dụng ngôn ngữ … .

– Điều thú vị khi đọc tác phẩm văn học là phát hiện được những nét độc đáo trong phong cách của mỗi nhà văn.

Đề 3: Anh (chị) hãy bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e: “Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra“.

Cần làm rõ một số ý sau:

– Tiêu chí để đánh giá một tác phẩm hay, theo La Bơ-ruy-e, là giá trị giáo dục của tác phẩm đó.

– Giá trị giáo dục của tác phẩm văn học: “Nâng cao tinh thần“, gợi: “Những tình cảm cao quí và can đảm” của con người.

Một số Đề bài tham khảo và gợi ý làm bài khác

Đề 1: Nền văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 là “Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn“. Anh (Chị) hãy trình bày ý kiến của mình về nhận định trên.

Cần nêu được một số ý sau:

– Sử thi và lãng mạn là gì?

– Vì sao văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám lại “Chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn“?

(Dựa vào những nội dung đã trình bày trong bài Khái quát văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX.)

+ Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã thể hiện trong các tác phẩm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám như thế nào? (Cần dẫn ra và phân tích được đặc điểm sử thi và lãng mạn qua nhiều tác phẩm thơ và văn xuôi đã được học ở SGK ngữ vănlớp 9: Làng (Kim Lân), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê) … còn lại chủ yếu là những tác phẩm thơ và văn xuôi trong chương trình 12: Tây Tiến (Quang Dũng), Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) … .)

+ Bình luận về tác dụng của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.

Đề 2: Vì sao có thể nói văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người? Liên hệ thực tế văn học.

Cần nêu được một số ý sau:

– Thế nào là văn học chân chính:

+ Phản ánh cuộc sống của con người.

+ Phải góp phần đấu tranh cải tạo xã hội, đặc biệt là tác động sâu sắc đến tâm hồn tình cảm con người, bồi đắp cho tâm hồn con người trở nên trong sáng phong phú và sâu sắc hơn.

– Vì sao văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người?

+ Văn học chân chính tố cáo xã hội bóc lột đã đẩy con người vào trạng thái phi nhân tính và kêu gọi đấu tranh để thay đổi hoàn cảnh xã hội,làm cho hoàn cảnh trở nên nhân đạo hơn đối với con người. (Dẫn ra và phân tích một số tác phẩm của Nam Cao: Sống mòn, Chí Phèo …)

+ Văn học chân chính đề cập trực tiếp đến những vấn đề nhân sinh quan: Thái độ trước lẽ sống và cái chết, thái độ lựa chọn con đường đi trong cuộc đời, đấu tranh cho một lí tưởng cao đẹp, cho cuộc sống có ý nghĩa (Từ ấy – Tố Hữu, Nhật kí trong tù – Hồ Chí minh.)

+ Những hình tượng mang tính chất gợi cảm, nhất là hình tượng thơ tác động mạnh mẽ vào tình cảm người đọc truyền cho người đọc có một tình yêu mãnh liệt đối với cái đẹp, cái cao cả (Hình tượng Bác Hồ trong bài “Bác ơi!” – Tố Hữu …), đồng thời kích thích ở con người thái độ căm ghét cái xấu, sự tàn ác … (Truyện Kiều – Nguyễn Du …)

+ Văn học chân chính giúp ta nhận thức về xã hội và thế giới tự nhiên nhưng chủ yếu là tự nhận thức, giúp con người tự cải tạo và hoàn thiện đạo đức, nhân cách, làm cho con người sống tốt đẹp hơn .

Soạn bài”Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học” số 5

A. Mở bài:

– Giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh:

– Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ, một nhà cách mạng đại tài, người con là nhà thơ nhà danh nhân văn hóa thế giới. Trong cuộc đời người đã để lại cho đất nước con người Việt Nam rất nhiều truyền thống quý báu. Nhưng có lẽ cái đáng nhớ nhất ở người chính là tư cách đạo đức tinh thần Cần- Kiệm- Liêm- Chính- Chí – Công- Vô -Tư.

B. Thân bài:

– Nhân dân ta đất nước ta cảm thấy như thế nào về Người? Đất nước chúng ta luôn tự hào về người, bởi người chính là sự kết tinh của vì sao tinh tú nhất. Người là ánh sáng, là niềm tin cho muôn dân soi vào. Ở bất kỳ vai trò nào người cũng hoàn thành vai trò, nhiệm vụ của mình một cách xuất sắc.

– Phân tích vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi là một nhà lãnh đạo cách mạng như thế nào? Trong vai trò một người lãnh tụ người đã dẫn dân tộc Việt Nam ra khỏi đêm tối nô lệ. Người lên đường bôn ba khắp năm châu để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc ta. Đó chính là con đường cách mạng theo đường lối Mác – Lê Nin.

– Nhờ con đường mà Người tìm thấy mà dân ta thoát khỏi kiếp tối tăm. Tổ quốc ta trở thành nước độc lập, người dân của ta ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành.

– Với cương vị một người đứng đầu người đã đối xử với dân chúng của mình ra sao? Với cương vị một người cha già dân tộc người đã chăm lo, quan tâm tới đời sống của tất cả người dân. Bác đã lo lắng cho từng người già, trẻ nhỏ, từng người chiến sĩ. Biết bao nhiêu đêm Bác thức trắng, trằn trọc không ngủ khi lo lắng cho những người dân cho, số phận của dân tộc mình.

– Trong vai trò một nhà danh nhân văn hóa người đã có những đóng góp gì? Trong vai trò một nhà văn, nhà thơ một danh nhân văn hóa Bác Hồ cũng đã để lại nhiều tác phẩm hay, gây được tiếng vang lớn như tập thơ “Nhật ký trong tù”, Cảnh khuya, hay “Bản tuyên ngôn độc lập”…những tác phẩm của Bác không chỉ hay về mặt nghệ thuật mà nó có tác động sâu sắc tới tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân. Nó còn là thanh gươm sắc bén nhằm thẳng vào những kẻ xâm lược, gây ra cuộc chiến tranh phi nghĩa, bất lương.

– Tính cách và phong cách sống hàng ngày của người như thế nào? Trong cuộc sống hàng ngày, Bác là người vô cùng giản dị, nếp sống mộc mạc, chân thành, tiết kiệm của Bác là tấm gương sáng cho thế hệ chúng ta hôm nay phải noi theo.

– Mỗi bữa cơm của người chỉ vài miếng cá kho, rau luộc, tương cà. Người bảo đất nước ta còn nghèo phải tiết kiệm vì miền Nam thân yêu còn chưa được giải phóng. Bác chăn nuôi ao cá, tự trồng rau, nuôi gà…để tạo ra những thực phẩm thiết yếu phục vụ cho mình.

– Nêu cảm nghĩ của bản thân với người như thế nào? Bác hy sinh rất nhiều, cống hiến rất nhiều nhưng chưa bao giờ người tư lợi một điều gì cho riêng mình. Người sống an nhiên, ra đi thanh thản. Cái người băn khoăn mãi trước lúc lâm chung đó chính là việc quê hương miền Nam của chúng ta vẫn chưa hoàn toàn giải phóng. Đúng như hai câu thơ mà nhà thơ Tố Hữu đã viết tặng Bác Hồ:

“Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người”

Trong bản Di chúc trước lúc ra đi người đã viết lại rằng “Tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng…”

C. Kết bài

– Nhắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân ưa chuộng hòa bình trên thế giới vô cùng yêu mến, nể phục còn với kẻ thù thì đó là nỗi khiếp sợ không bao giờ dứt.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đi nhưng những tư tưởng chân lý của người vẫn còn sáng mãi. Các thế hệ nối tiếp Người sẽ luôn phải phát huy và làm theo những lời người đã khuyên nhủ, dạy dỗ.

 Mẫu 1

Có một con người mà khi nhắc đến tên, những người Việt Nam đều vô cùng kính yêu và ngưỡng mộ, đó là Hồ Chí Minh: vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.

Trước hết ta thấy Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Bác là người chiến sỹ tiên phong trên mặt trận cứu nước đầy gian khổ, lãnh đạo dân ta tới chiến thắng, khai sáng nền độc lập tự do ở đất nước Việt Nam. Người bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường đi và tương lai cho đất nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Người đã dẫn dắt dân tộc ta thoát khỏi đói nghèo, đi lên xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp. Tư tưởng của Người có giá trị vô cùng to lớn đối với Cách Mạng Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Người đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập tự do của dân tộc, Người yêu nước thương dân sâu sắc, bởi vậy triệu triệu người dân Việt Nam đều là con cháu của Người. Ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước nhưng cách đối xử của Bác đối với cá nhân từng người vô cùng thân mật và gần gũi:

“Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người.”

(Tố Hữu)

Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc Việt Nam lại có một vị lãnh tụ giản dị và gần gũi với mọi người như thế: Sống trong ngôi nhà sàn nhỏ, ăn những món ăn dân dã, mặc áo bà ba nâu và tư trang chỉ là một chiếc rương nhỏ và mấy bộ quần áo bạc màu… Có lẽ bởi vậy mà với người Việt Nam, Bác Hồ không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là vị lãnh tụ vĩ đại được mọi người dân Việt Nam kính yêu và ngưỡng vọng.

Bác Hồ còn được biết đến ở cương vị một danh nhân văn hoá thế giới. Bác đã từng là chủ bút tờ báo “Người cùng khổ” ở Pháp, đã từng viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” gây tiếng vang lớn. Người còn là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam với những tập truyện kí bằng tiếng Pháp, “Tuyên ngôn độc lập” và “Nhật ký trong tù” cùng rất nhiều những vần thơ khác nữa… Bác Hồ đã từng đi khắp các châu lục trên thế giới, thông thạo nhiều thứ tiếng, am hiểu nền văn hoá của nhiều dân tộc. Bác đã rèn giũa và tạo dựng cho mình một phong cách riêng, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, thanh cao và giản dị, giữa tinh hoa văn hoá nhân loại và tinh hoa văn hoá Việt Nam.

Mặc dù Bác đã đi xa nhưng trong lòng mọi người dân Việt Nam Bác vẫn là người đẹp nhất:

Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

Càng tìm hiểu về cuộc đời vĩ đại và cao đẹp của Bác, em càng kính yêu và tự hào về Bác hơn. Điều đó khơi dậy trong em mong muốn học tập, phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện để trở thành con người có ích cho xã hội. Bác là tinh hoa khí phách của dân tộc, cuộc đời của Bác là một tấm gương sáng. Bởi vậy mà chúng ta cần “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

Mẫu 2

“Người hi sinh cả cuộc đời mình vì đất nước và nhân dân. Đó là sự hi sinh cao cả của một vị lãnh tụ vĩ đại”

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Bác Hồ – niềm tự hào của triệu triệu trái tim con người Việt Nam. Người là vị lãnh tụ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, là người mà em vô cùng kính trọng, ngưỡng mộ và biết ơn.

Cuộc đời Bác là những trang kỳ tích viết hoài cũng không đến hồi kết. Thời đại mà Bác sinh ra là một thời đại đầy biến động. Thế kỷ 20 ấy là một thế kỷ chồng chất đau thương của dân tộc. Chứng kiến nhân dân lầm than, đất nước khổ đau cùng cực dưới sự cai trị của thực dân Pháp, Bác sớm mang trong mình khát khao cháy bỏng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân ra khỏi những áp bức bất công.

Mang theo trái tim yêu nước, người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước ngay cả khi chỉ có hai bàn tay trắng. Người theo con tàu lớn bôn ba khắp thế giới ròng rã ba mươi năm, chịu bao nhiêu khổ cực. Cuối cùng, tại nước Nga, Người cũng tìm được lý tưởng cách mạng và con đường giải phóng đất nước.

Ba mươi năm là một khoảng thời gian dài, 30 năm ấy, Người hi sinh cả tuổi trẻ một lòng hướng về tổ quốc thân yêu. Ý chí của Người phải kiên định thế nào, niềm tin của Người phải sắt đá đến mức nào và lòng yêu nước phải mãnh liệt ra sao Người mới có thể vượt trăm vạn gian nan để hoàn thành sứ mệnh lịch sử? Tất cả những điều Người đã trải qua vượt lên trên Sức chịu đựng của con người. Chỉ những lãnh tụ vĩ đại thực sự mới làm được điều đó. Và Hồ Chí Minh chính là một trong những nhân vật đã làm lên kỳ tích hiếm hoi của lịch sử.

Để rồi sau khi giác ngộ lý tưởng cách mạng, Bác tìm mọi cách mang lý tưởng ấy về với tổ quốc. Trở về Tổ quốc, kiên trì lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc trọn vẹn cuộc đời mình, làm nên chiến thắng lịch sử mùa thu năm 1945 và chiến thắng năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Sau bao cùng cực, đau thương đất nước đoàn tụ thống nhất, hòa bình lập lại. Người hi sinh cả cuộc đời mình vì đất nước và nhân dân. Đó là sự hi sinh cao cả của một vị lãnh tụ vĩ đại.

Không những thế, Bác Hồ còn là danh nhân văn hóa thế giới. Bác là một nhà văn, nhà thơ xuất sắc. Sinh thời, Người yêu quý thơ văn và biến nó thành thứ vũ khí chiến đấu sắc bén. Người quan niệm:

“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”.

(Thiên gia thi)

Những thi phẩm của Người để lại tỏa sáng như những vì sao trên bầu trời văn học. Thơ văn của Người là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa chất lãng mạn và tính hiện thực chiến đấu, giữa tinh thần dân tộc và tinh thần quốc tế. Bao tác phẩm của người đã khiến những tác giả nổi tiếng của thời đại của thế giới phải trầm trồ thán phục như Mộ (Chiều tối), Nhật ký trong tù…

Bác Hồ sống giản dị và yêu thương mọi người. Bác giản dị từ trang phục đến bữa ăn, đến cách ứng xử hàng ngày. Quần áo Bác mặc chỉ là những bộ quần áo vải có khi là bộ kaki đã sờn cũ. Bữa cơm thanh đạm Bác không bao giờ để sót một hạt cơm không bao giờ lãng phí dù chỉ 1 chút thức ăn. Không chỉ bởi vì nhân cách thanh cao mà còn bởi Bác trân trọng công sức của nhân dân, của những người đã làm ra hạt gạo. Bác dành tình thương cho tất cả mọi người, lo lắng từ em nhỏ đến cụ già. Những đêm dài trong kháng chiến, Bác thao thức hàng đêm lo cho chiến sĩ cho dân công chịu khổ ngoài rừng. “Sữa để em thơ, lụa tặng già”. Đến trước lúc ra đi, tâm nguyện của Bác vẫn là kháng chiến nhất định thắng lợi, nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Tấm lòng ấy thật bao la vĩ đại biết bao.

Thời gian trôi đi có thể làm lu mờ nhiều thứ, nhưng Bác Hồ với sự vĩ đại và tấm lòng yêu thương mênh mông trời biển sẽ mãi là tượng đài bất biến trong lòng nhân dân Việt Nam. Nhìn hình ảnh Người hiền từ mỉm cười, lòng ta cũng chợt nhói đau, nỗi đau ngày cả dân tộc tiễn Người ra đi “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”.

Nguồn : Tổng Hợp