Hướng dẫn soạn bài”Tương tư (Nguyễn Bính)” văn học 11 chi tiết nhất

Soạn văn lớp 11: Tương tư là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, nhằm giúp bạn nắm được đôi nét về tác giả Nguyễn Bính, nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tương tư. Mời các bạn tham khảo để học tốt môn ngữ văn lớp 11 hơn.

1. Soạn bài Tương tư mẫu 1

1.1. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

  • Nguyễn Bính (1918 -1966), tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính
  • Ông được vinh danh là nhà thơ làng quê Việt Nam
  • Phong cách thơ:
    • Đậm đà phong vị ca dao dân ca
    • Cái “tôi” của Nguyễn Bính mang tâm trạng bất an của một tâm hồn tha thiết với những giá trị cổ truyền của dân tộc đang đứng trước nguy cơ mai một khi những phong trào Âu hóa xuất hiện.
  • Các tác phẩm chính: Qua nhà, những bóng người trên sân ga, tương tư, chân quê, lỡ bước sang ngang, tâm hồn tôi…

2. Tác phẩm

  • Xuất xứ: Trích từ tập lỡ bước sang ngang
  • Đề tài: Viết về tình yêu đôi lứa
  • Chủ đề: Bài thơ giãi bày nỗi lòng một cách chân thực tinh tế của một chàng trai thôn quê
  • Bố cục: 3 phần
    • Phần 1: 4 câu thơ đầu: Khởi nguồn cho tâm trạng tương tư
    • Phần 2: 12 câu tiếp theo: Giãi bày tâm sự tương tư
    • Phần 3: Còn lại: Ước mơ muôn đời của tình yêu đôi lứa

1.2. Phân tích

1. Khởi nguồn cho tâm trạng tương tư.

  • Chủ thế trữ tình: Chàng trai thôn Đoài.
  • Khởi nguồn tương tư là nỗi nhớ nhung.
  • Cách nói thôn Đoài thôn Đông mang đậm âm hưởng dân gian ca dao tục ngữ, dùng địa danh hai thôn để chỉ cho hai người con trai con gái.
  • Yêu cô gái chàng trai đã mang bệnh tương tư => Một căn bệnh rât phổ biến và bình thường của những người đang yêu.
  • Nhà thơ so sánh căn bệnh tương tư của chàng trai với căn bệnh tương tư của trời => Thể hiện sự tự nhiên, căn bệnh đó là hoàn toàn có một cách tự nhiên và thường trực như chuyện nắng mưa vậy. Đó là điều tất yếu.

=> Bốn câu thơ đầu nhà thơ nói lên giới thiệu lên nhân vật trữ tình và căn bệnh tương tư. Nó là một căn bệnh tự nhiên như chuyện nắng mưa của trời. Nhân vật trữ tình là chàng trai thôn Đoài hay chính nhà thơ?

2. Sự giãi bày tâm sự về căn bệnh tương tư

  • Nhân vật trữ tình mang một nỗi buồn băn khoăn thắc mắc
  • Đã bao lâu chưa gặp được nàng nên nỗi niềm càng da diết nôn nao
    • Từ “ngày” được lặp lại ba lần kết hợp với từ qua để diễn tả nỗi buồn triền miên giằng giặc
    • Cách diễn tả lá xanh chuyển thành lá vàng => Vừa diễn tả được thời gian vừa diễn tả được tâm trạng. Thời gian luân hồi ngày qua ngày, một khắc trôi qua dài tựa ba thu, tâm trạng nhớ nhung mong đợi thành ra thấy thời gian trôi qua rất nhanh
  • Chàng trai trách móc buồn tủi rồi tự bâng khuâng trách móc, dày vò mình
  • Nếu là cách trở xa xôi thì chàng trai còn được an ủi vì không gian nhưng đây cách nhau chỉ có một đầu đình mà sao xa xôi quá. Chàng thấy băn khoăn thì lại càng thấy buồn tủi
  • Sự mong đợi khát vọng đến bao giờ thì mới gặp được người mình yêu như bến gặp đò, hoa khuê các gặp bướm giang hồ -> những hình ảnh rất chân quê.
  • Tác giả sử dụng lối nói ước lệ, ẩn dụ trong ca dao và trong thơ truyền thống.

=> Tóm lại đoạn thơ diễn tả nỗi niềm ước mong khát vọng về tình yêu hạnh phúc đôi lứa, chàng trai tương tư nhớ người yêu đó là một tình cảm hết sức thiêng liêng và đẹp đẽ.

3. Ước mơ muôn đời của hạnh phúc đôi lứa

  • Có một giàn giầu, có một hàng cau, nhà anh, nhà em => Thể hiện sư đơn côi, lẻ bóng. Cả anh và em vẫn đang trong trạng thái đôi nơi, vẫn xa xôi cách trở quá chừng.
  • Cau – giầu biểu hiện ước mơ của chàng trai muốn nên duyên với người mình yêu. Đồng thời thể hiện duyên lứa đôi sắt son bền chặt.

=> Cấu trúc song hành gợi tả mối quan hệ gắn bó với đôi trai gái trong một tình yêu đẹp.

1.3. Tổng kết

1. Nội dung: Nhà thơ Nguyễn Bính đã đem lại cho chúng ta hiểu thêm về một cung bậc cảm xúc trong tình yêu. Tương tư là một căn bệnh tình cảm mà ai khi yêu cũng mắc phải. Nó tự nhiên như trời nắng mưa vậy. Nhưng hình ảnh chân thân mang âm hưởng ca dao, mang nét đẹp truyền thống.

2. Nghệ thuật: Hình ảnh và ngôn từ, thể thơ lục bát, cách ví von, giọng điệu và phong thơ trữ tình dân gian.

2. Soạn bài Tương tư mẫu 2

2.1. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Nguyễn Bính (1918-1966) sinh trưởng trong một gia đình nghèo, không có điều kiện học ở trường, phải kiếm sống làm thơ sớm.

-Khi ông 13 tuổi, đã có nhiều bài thơ được truyền tụng , năm 1937 được giải thưởng khuyến khích của Tự Lực Văn Đoàn.

-Nguyễn Bính là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam. Ông được đánh giá là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái mộc mạc, giản dị.

-Phần đông những thi sĩ đương thời chịu ảnh hưởng sâu đậm của phương Tây với những vần thơ nhiều cảm xúc phức tạp của cái tôi được nuôi dưỡng bởi văn hóa Âu Tây thì phong cách thơ của Nguyễn Bính mang một sự mộc mạc và chân quê.

-Thơ ông hấp dẫn bởi hồn quê đậm màu sắc dân tộc ấy, và chính Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã từng nhận xét rằng: “quê mùa như Nguyễn Bính” – một tiếng thơ dung dị như hồn quê tự bao đời.

-Những Tương tư, Chân quê, Sao chẳng về đây, Cô gái mơ, Hành phương Nam … của Nguyễn Bính đã làm thổn thức bao thế hệ bởi chính cái hồn quê nồng hậu trong đó.

2. Tác phẩm

a) Hoàn cảnh sáng tác

-Bài thơ Tương tư được viết năm 1939 tại Hoàng Mai.

-Bài thơ Tương tư là sự phức hợp của các cảm xúc khác nhau với những diễn biến không hề xuôi chiều.

b)Thể loại

-Bài thơ Tương tư được viết theo thể thơ lục bát – vốn là thể thơ dân tộc ,truyền thống.

-Cũng giống như những bài thơ khác được Nguyễn Bính sáng tác theo thể này, dáng điệu của những câu thơ trong Tương tư mang âm điệu vừa hiện đại vừa phảng phất hồn ca dao.

2.2. Tìm hiểu chi tiết

1. Tâm trạng tương tư

-Tương tư là một thi đề muôn thuở , một cung bậc của tình yêu, trong ca dao , văn học cổ điển hay kể cả thời đại thơ mới – thời của Nguyễn Bính cũng có những vần thơ tuyệt đẹp về nó.

-Tương tư là nỗi nhớ nhau của tình yêu đôi lứa, trên thực tế nó dùng để diễn tả những nỗi nhớ đơn phương.

-Tâm trạng của tương tư rất phức tạp , không chỉ có nhớ nhung , thương cảm mà còn đầy ước ao , hờn giận…

-Tương tư là biểu hiện sống động của tình yêu. Yêu là nhớ, nhớ là yêu.

2.Diễn biến tâm trạng qua những sắc thái cảm xúc tinh tế

a) Nhớ nhung

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người”

-Cách nói “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” thực ta là chàng trai thôn Đoài đang yêu say đắm một cô gái thôn Đông.

-Cách nói bóng gió ấy như gợi lên cả một không gian nhung nhớ ngập tràn đến nỗi mà cảnh vật cũng nhuốm cả màu tương tư.

-Cách diễn tả bằng con số đậm màu sắc kể lể, gợi không gian tương tư dằng dặc tựa như hai người ở hai đầu của nỗi nhớ, và giữa họ là cả một khoảng cách “chín nhớ mười mong”.

-Chàng trai tự nhận mình mang bênh tương tư:

“Gió mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

→Tương tư dường như là một căn bệnh mãn tính của những chàng trai đa tình, giống như mưa nắng là bệnh của trời đất vậy .

-Đây là tâm bệnh ai mà chữa được- một cách diễn đạt rất dí dỏm và mộc mạc.

b) Băn khoăn, hờn dỗi

“Hai thôn chung lại một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”

-Chàng trai tiếp tục kể lể, băn khoăn và hờn dỗi.

-Gọi là “hai thôn” nhưng thực chất là cùng “một làng” nên khoảng cách gần lắm.

c)Than thở

“Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

-“Ngày qua ngày lại qua ngày”- cách tính đếm thời gian rất thú vị.

-Sự lặp lại cả những từ ngữ chỉ thời gian diễn tả thời gian cứ chầm chậm trôi qua, ngày qua ngày lại lặp lại nhàm chán vô vọng → diễn tả cảm giác sốt ruột của kẻ mang bệnh tương tư.

-Lấy thiên nhiên để diễn tả cảm xúc:

“Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

+Màu vàng héo của cây lá diễn tả thời gian chờ đợi sốt ruột của chàng trai.

+ Nỗi tương tư đã nhuộm cây héo vàng và rồi nó nhuộm lòng người đến héo hon.

d) Hờn trách mát mẻ

-Luận điệu và lý lẽ của chàng trai quê:

“Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi”

-Hóa ra khoảng cách không có xa xôi lại không hề có cách trở chỉ cách một đầu đình mà thôi.

-Có khi trách cũng là để vơi bớt đi nỗi buồn, nhớ vô vọng đơn phương mà thôi và dằn dỗi trách móc mát mẻ cũng là biểu hiện của tình yêu.

e) Nôn nao mơ tường

-“Bao giờ bến mới gặp đò…” tựa như một mong ước chính đáng của tình yêu: được gặp gỡ ,xua bớt đi nỗi nhớ nhung.

-Hình ảnh ẩn dụ sóng đôi “bến” -“đò” rất dân dã , thân thuộc.

g) Ước vọng xa xôi

-“Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

-Dường như tất cả đã sẵn sàng và đang nóng lòng chờ đợi.

-“Nhà anh”, “nhà em”,”thôn Đoài thì nhớ thôn Đông” tất cả điều này như chỉ muốn bộc bạch rằng anh đang nhớ em.

2.3. Tổng kết

1. Nội dung

-Bài thơ là nỗi niềm tương tư của chàng trai quê và mối duyên quê của đôi trai gái này càng đậm chất chân quê vì nó gắn với khung cảnh và cây cỏ chốn quê.

-Bài thơ không chỉ gợi lên một tình yêu chân chất mộc mạc mà còn mang cả hồn quê dân tộc ở đây.

2.Nghệ thuật

-Chất liệu dân gian đậm đặc:

+Ngôn từ dân quê dân gian

+Giọng điệu kể lể phù hợp với niềm bộc bạch nỗi tương tư.

+Cách tạo hình độc đáo

-Cặp hình ảnh cặp đôi thể hiện khát vọng lứa đôi: rất nhiều hình ảnh cặp đôi trong thơ như bến -đò, hoa – bướm, trầu- cau

3. Soạn bài Tương tư mẫu 3

1. Tác giả Nguyễn Bính

– Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

– Mồ côi mẹ rất sớm, 10 tuổi đã phải theo anh lên Hà Nội kiếm sống.

– Ông biết làm thơ từ khi mới 13 tuổi và năm 19 tuổi (1937) được nhận giải Khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn.

 

– Năm 1943, ông vào Nam rồi ở lại tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp.

– Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tham gia công tác văn nghệ và báo chí ở Hà Nội, Nam Định.

– Thơ Nguyễn Bính với lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang phong vị dân gian đã đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương đất nước và tình người đằm thắm, thiết tha.

– Năm 2000, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

– Những tác phẩm tiêu biểu:

+ Trước Cách mạng: Tâm hồn tôi (1937), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941), Mười hai bến nước (1942), Cây đàn tì bà (truyện thơ – 1944),…

+ Sau Cách mạng: Ông lão mài gươm (1947), Gửi người vợ miền Nam (1955), Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ – 1958), Đêm sao sáng (1962); Cô Son (chèo – 1961), Người lái đò sông Vị (chèo – 1962),…

2. Bài thơ Tương tư

– Bài Tương tư rút trong tập Lỡ bước sang ngang, rất tiêu biểu cho phong cách thơ “chân quê” của Nguyễn Bính.

– Nội dung chính: Bài thơ Tương tư viết về một tình yêu trong sáng, đơn phương và mạnh mẽ. Hồn quê Việt thấm đượm trong từng dòng thơ, thể hiện tình cảm chân thành của nhà thơ đối với những nét đẹp văn hóa dân gian.

– Bố cục

Bố cục bài thơ Tương tư được chia thành 3 phần:

+ Phần 1 (4 câu đầu): Khởi nguồn cho tâm trạng tương tư

+ Phần 2 (12 câu tiếp theo): Tỏ bày tâm tư tương tư

+ Phần 3 (còn lại): Khao khát hạnh phúc muôn đời của tình yêu đôi lứa.

4. Soạn bài Tương tư mẫu 4

Gợi ý trả lời câu hỏi bài tập đọc hiểu soạn bài Tương tư ngắn nhất trang 50 SGK Ngữ văn lớp 11 tập 2.

Câu 1 (SGK Ngữ văn 11 tập 2 trang 50)

Nỗi nhớ và những lời kể, trách móc của chàng trai:

– “chín nhớ mười mong”: niềm nhớ mong tha thiết

– Niềm nhớ mong như bao trùm, lan tỏa khắp không gian: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”

– Chàng trai kể lể, trách móc, dỗi hờn “cớ sao bên ấy chưa sang bên này?” để bộc lộ nỗi niềm tương tư của mình mà không được đáp lại

– Tâm trạng mong ngóng, trông đợi, mòn mỏi, từ tương tư chuyển sang chờ đợi

– Những ước vọng xa xôi được bộc lộ, đó là niềm khát khao cho hạnh phúc lứa đôi

– Nỗi mong nhớ kéo dài tới cuối bài thơ nhưng không được đền đáp để tâm trạng nhân vật trữ tình bộc lộ tha thiết, sâu sắc.

⇒ Chàng trai có tình cảm, tương tư nhưng chưa được đáp lại.

Câu 2 (SGK Ngữ văn 11 tập 2 trang 50)

Cách bày tỏ tình yêu, giọng điệu thơ, cách so sánh, ví von,… ở bài này có những điểm đáng lưu ý:

   – Cách bày tỏ tình yêu của nhân vật trữ tình kín đáo, ý nhị và có ý vị chân thành mộc mạc của chàng trai quê.

   – Ngôn ngữ thơ dung dị hồn nhiên, dân dã nhưng vẫn pha chất lãng mạn mộng mơ.

   – Sử dụng hệ thống ẩn dụ – hoán dụ – ước lệ một cách đặc sắc và sáng tạo.

   – Hình ảnh ví von, chất liệu ngôn từ chân quê, đậm màu sắc dân gian: thôn Đoài – thôn Đông, bến – đò, hoa – bướm, trầu – cau,…→ quan niệm, ước mong về một tình yêu gắn bó, chung thủy.

   – Giọng điệu nhẹ nhàng, chân thành, tha thiết.

Câu 3 (SGK Ngữ văn 11 tập 2 trang 50)

– Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi, mang đậm cách biểu đạt và bày tỏ bóng gió, xa xôi trong tình yêu của người dân quê Bắc Bộ Việt Nam.

– Tình cảm, cảm xúc chân thành, tế nhị, kín đáo.

– Thể loại thơ dân tộc: lục bát.

– Hình ảnh mộc mạc, đậm chất làng Việt: thôn Đoài, thôn Đông, trầu, cau.

– Lối so sánh, ví von và cách bày tỏ tình cảm đậm đà phong vị ca dao dân ca.

Bài 1 trang 50

    Anh (chị) cảm nhận như thế nào về nỗi nhớ mong và những lời kể lể, trách móc của chàng trai trong bài thơ ? Tình cảm của chàng trai đã được đền đáp hay chưa ?

Trả lời:

   Con người lãng mạn trong bài Tương tư đã thao thức “chín nhớ mười mong” người thương ròng rã suốt “mấy đêm rồi”, mong nhớ hết ngày này đến ngày khác, thậm chí hết tháng này qua tháng khác: “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng“…

Theo đạo lí quân tử “tu, tề, trị, bình” Nho gia, nhất là Tống Nho, thì kẻ nam nhi như thế là hỏng quá… Nhưng sức cuốn hút của thơ tình Nguyễn Bính chủ yếu không phải do thái độ thành thực giãi bày nỗi niềm “chín nhớ mười mong” hay do sự cãi lí cho tính phù hợp quy luật của tình yêu nam nữ, đang biện hộ cho đạo lí nhân văn (không ít nhà thơ lãng mạn đương thời bộc lộ tình cảm yêu đương nhiều khi còn đắm đuối hơn (Ao ước – Tế Hanh), tinh tế hơn (Ngậm ngùi – Huy Cận) hoặc não lòng hơn: “Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ – Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ – Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá – Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ” (Trăng – Xuân Diệu), mà sức cuốn hút ấy chủ yếu là bởi những rung động của trái tim thi sĩ (thể hiện trong cấu tứ cũng như ở giọng điệu) dung hợp rất nhuần nhuyễn tính cách dân tộc.

   Nỗi nhớ da diết của nhân vật trữ tình trải suốt bài thơ nhưng đến tận cuối bài nỗi nhớ mong ấy vẫn chưa được đền đáp. Chính bởi thế mà nó đã tạo được ra cái cớ để cho dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ một cách tha thiết và sâu sắc.

Bài 2 trang 50

    Theo anh (chị) cách bày tỏ tình yêu, giọng điệu thơ, cách so sánh, ví von,… ở bài này có những điểm gì đáng lưu ý ?

Trả lời:

   Nét chủ yếu của tính cách dân tộc trong bài Tương tư chính là khuynh hướng cấu tứ khái quát mang ý nghĩa về độ: “chín nhớ mười mong” dài theo ngày tháng, dẫu biệt vô âm tín vẫn tiếp tục đợi chờ: “Bao giờ bến mới gặp đò“, với niềm hi vọng xa vời.

    “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”…; và chỉ đến mức ấy thôi, chứ không phải kiểu phản ứng quyết liệt. “Rồi anh chết, anh chết sầu chết héo – Linh hồn anh thất theo dõi hồn em… ” như chàng lãng mạn trong bài Ao ước của Tế Hanh – ý tứ cực đoan này phải chăng chỉ phù hợp với tâm lí một số độc giả thành thị.

   Phong cách cấu tứ thơ tình yêu với các mức độ tình cảm phù hợp dân tộc tính như vậy đã xuất hiện trong hầu hết những bài thơ khác của Nguyễn Bính. Những nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính (người thật việc thật hoặc hư cấu, khách thể hoặc chủ thể) dẫu có lâm vào trạng huống yêu đơn phương, tình tuyệt vọng… đều ứng xử có chừng mực: một chàng trai bị người yêu thờ ơ, chỉ than thở: “Tình tôi mở giữa mùa thu – Tình em lẳng lặng kín như buồng tằm” (Đêm cuối cùng); một cô gái bị lỗi hẹn cũng nhẫn nại đợi chờ: “Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày – Bao giờ em mới gặp anh đây” (Mưa xuân); anh lái đò kia thất tình phẫn chí định bỏ nghề, nhưng rồi lại thôi: “Lang thang anh dạm bán thuyền – Có người trả chín quan tiền lại thôi” (Anh lái đò); một chàng thất tình khác oán hờn mà chẳng nặng lời: “Em đã sang ngang với một người – Anh còn trồng cải nữa hay thôi? – Đêm qua mơ thấy hai con bướm – Khép cánh tình chung ở giữa trời” (Hết bướm vàng); đau đớn hơn: người yêu yểu mệnh, nhưng nỗi đau ấy đã hòa tan cùng mộng ảo: “Đêm qua nàng đã chết rồi – Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng –  Hồn trinh còn ở trần gian – Nhập vào bướm trắng mà sang bên này” (Người hàng xóm)…; và trước thái độ quá thờ ơ của cô gái hái mơ, khách đa tình cũng chỉ trách móc mơ màng:

Cô hái mơ ơi, cô gái ơi

Chả trả lời nhau lấy một lời

Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng

Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi…

(Cô hái mơ)

   Đặc điểm dân gian, dân tộc ấy trong cấu tứ khiến những bài thơ tình Nguyễn Bính, trước và sau 1945 dễ dàng tìm được sự đồng cảm và tiếp đón hào hứng của một số lượng độc giả lớn (thành phố và tỉnh nhỏ, thành thị và nông thôn,…) mà có lẽ chưa nhà thơ lãng mạn nào đạt được.

Bài 3 trang 50

    Hoài Thanh cho rằng trong thơ Nguyễn Bính có “hồn xưa đất nước”. Qua bài Tương tư, anh (chị) có đồng ý với nhận xét đó không? Vì sao ?

Trả lời:

   Lời nhận định của Hoài Thanh rằng trong thơ Nguyễn Bính có “hồn xưa đất nước” rất đúng với bài Tương tư. Nhà thơ này yêu thôn quê một cách kì lạ, cái tình yêu ấy làm cho thơ ông, ở những câu bình dị nhất, vẫn có sức lôi cuốn, vẫn có cái duyên xao động lòng người:

Báo rằng cách trở đò ngang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

   Dưới mắt ông, những cảnh sắc thông thường ở thôn quê cũng rất gợi cảm, đâu chỉ ánh trăng mới đẹp, mà cảnh mưa phùn gió bấc, hoa xoan, đường lầy hay nắng lửa trưa hè vẫn cứ làm ta xúc động, nhớ thương. Đó là tài năng của ông. Giọng ông vừa cất lên, người ta đã nhận ngay ra hình bóng quê hương làng mạc. Cách ăn nói nghĩ ngợi của bà con làng xóm đã thấm vào Nguyễn Bính. Nhiều khi không hẳn là nghĩa chữ, ý câu mà chỉ bằng cái giọng nói, cái cách nói, Nguyễn Bính đã gửi gắm, giao hoà tâm hồn chúng ta vào trong hồn của quê hương dân dã.

 

Nguồn: Tổng Hợp