Hướng dẫn soạn bài”Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” văn lớp 11

Hướng dẫn soạn bài”Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” văn lớp 11 giúp các em nắm được biểu hiện của cái chung trong ngôn ngữ và cái riêng trong lời nói cá nhân

Soạn bài”Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” số 1

I. Ngôn ngữ – tài sản chung của xã hội

1. Những yếu tố chung trong ngôn ngữ của cộng đồng:

   – Các âm thanh và các thanh (nguyên âm, phụ âm, thanh điệu…)

   – Các tiếng (âm tiết) là sự kết hợp của các âm và thanh.

   – Các từ (từ đơn, từ ghép)

   – Các ngữ cố định (thành ngữ, quán ngữ…)

2. Các quy tắc và phương thức chung:

   – Quy tắc cấu tạo các kiểu câu. Ví dụ: cấu tạo kiểu câu ghép chỉ quan hệ nguyên nhân – kết quả…

   – Phương thức chuyển nghĩa từ (nghĩa gốc sang nghĩa phái sinh)

Bên cạnh đó, còn nhiều quy tắc và phương thức chung khác thuộc các lĩnh vực ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách… của ngôn ngữ.

II. Lời nói – sản phẩm riêng của cá nhân

Cái riêng trong lời nói cá nhân biểu hiện qua:

1. Giọng nói cá nhân

2. Vốn từ ngữ cá nhân

3. Việc sử dụng các từ ngữ quen thuộc một cách sáng tạo

4. Việc cấu tạo ra từ mới

5. Việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo quy tắc chung, phương thức chung.

Biểu hiện rõ nhất của nét riêng trong lời nói cá nhân là phong cách ngôn ngữ cá nhân.

LUYỆN TẬP

Câu 1 (trang 13 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

       Bác Dương thôi đã thôi rồi,

       Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta

          ( Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê)

Từ “thôi” vốn có nghĩa chung là chấm dứt, kết thúc một hoạt động nào đó nhưng trong bài thơ này, Nguyễn Khuyến đã sáng tạo, “thôi” có nghĩa: sự mất mát, sự đau đớn. “Thôi” là hư từ được Nguyễn Khuyến dùng trong câu thơ để diễn tả nỗi đau của mình khi nghe tin bạn mất, đồng thời cũng là cách nói giảm để giảm bớt nỗi mất mát quá lớn không gì bù đắp nổi. Cách dùng này là sự sáng tạo nghĩa mới cho nghĩa của từ thôi. Nó thể hiện rõ dấu ấn lời nói cá nhân của Nguyễn Khuyến.

Câu 2 (trang 13 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Về cách sắp đặt từ ngữ trong hai câu thơ:

       Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

       Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn

          ( Hồ Xuân Hương – Tự tình)

Hai câu thơ của Hồ Xuân Hương dùng toàn những từ ngữ quen thuộc nhưng trật tự sắp xếp cũng như cách phối hợp giữa chúng thể hiện những nét sáng tạo riêng, độc đáo của tác giả:

   – Các cụm danh từ (rêu từng đám, đá mấy hòn) đều đảo danh từ trung tâm lên trước tổ hợp định từ + danh từ chỉ loại.

   – Các câu đều có hình thức đảo trật tự cú pháp: sắp xếp bộ phận vị ngữ (động từ + bổ ngữ: xiên ngang – mặt đất, đâm toạc – chân mây) lên trước chủ ngữ (rêu từng đám, đá mấy hòn)

Sự sắp xếp của Hồ Xuân Hương khiến cho bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong hai câu thơ hiện lên sắc sảo, đầy cá tính. Nó vừa tạo nên âm hưởng, vừa tô đậm các hình tượng thơ đồng thời cũng thể hiện nổi bật tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Câu 3 (trang 13 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Ví dụ

   Trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh, quan Chánh đường sử dụng cách nói riêng của quan liệu trong triều: Thế tử = con vua, thánh thượng = vua, thánh chỉ = lệnh vua…

   Có thể nêu các ví dụ về mối quan hệ giữa giống loài và từng cá thể ( giữa một con cá với một loài cá…)

 

Soạn bài”Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” số 2

Câu 1 (trang 13 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Từ “thôi” nghĩa gốc là chấm dứt, kết thúc một hoạt động, hành động nào đó.

– Từ “thôi”  trong bài “Khóc Dương Khuê” được dùng với nghĩa chuyển chỉ sự mất mát, đau đớn. “Thôi” là hư từ được Nguyễn Khuyến dùng trong câu thơ để diễn tả nỗi đau của mình khi nghe tin bạn mất, đồng thời cũng là cách nói giảm để giảm bớt nỗi mất mát quá lớn không gì bù đắp nổi.

Câu 2 (trang 13 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Cách sắp đặt từ ngữ:

+ Đảo trật tự từ: xiên ngang – mặt đất, rêu – từng đám

+ Biện pháp đối: xiên ngang ><đâm toạc, mặt đất >< chân mây

– Tác dụng: Sự sắp xếp của Hồ Xuân Hương khiến cho bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong hai câu thơ hiện lên sắc sảo, đầy cá tính. Nó vừa tạo nên âm hưởng, vừa tô đậm các hình tượng thơ đồng thời cũng thể hiện nổi bật tâm trạng của nhân vật trữ tình. Thể hiện sự cá tính, sắc sảo của Hồ Xuân HươnG

Câu 3 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

VD: 

              Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về

(Sang thu – Hữu Thỉnh)

=> Từ láy tượng hình chùng chình được Hữu Thỉnh sử dụng thật tinh tế, giúp gợi tả trạng thái ung dung, chậm rãi của sương và cũng là trạng thái chuyển giao của mùa từ hạ sang thu.

=> Các nhà thơ, nhà văn từ kho tàng ngôn ngữ chung của cộng đồng, bằng những cách sử dụng những kết hợp từ lạ, những liên tưởng độc đáo đã tạo nên những lời nói mang dấu ấn riêng của phong cách cá nhân

Soạn bài”Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” số 3

I. Ngôn ngữ – tài sản chung của xã hội

– Khái niệm: Ngôn ngữ là tài sản chung, là phương tiện giao tiếp chung của xã hội và cộng đồng.

– Tính chung trong ngôn ngữ được biểu hiện qua:

+ Các yếu tố ngôn ngữ chung (âm, thanh, âm tiết, từ và ngữ cố định)

+ Các qui tắc chung (qui tắc cấu tạo từ, cấu tạo ngữ, cấu tạo câu, đoạn, văn bản)

+ Các phương thức chung (phương thức chuyển nghĩa, chuyển loại từ)

II. Lời nói – sản phẩm riêng của cá nhân

– Khái niệm: Lời nói là sản phẩm của cá nhân tạo ra trên cơ sở vận dụng các yếu tố ngôn ngữ chung và tuân thủ các qui tắc chung.

– Cái riêng trong lời nói cá nhân được biểu hiện ở:

+ Giọng nói cá nhân

+ Vốn từ ngữ cá nhân

+ Việc chuyển đổi, sáng tạo khi sử dụng các từ ngữ chung, quen thuộc

+ Việc tạo ra từ mới

+ Phong cách ngôn ngữ cá nhân thường gắn với các tác giả văn học nổi tiếng.

B – Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

I. Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân ngắn nhất

Bài 1 trang 13 SGK Ngữ văn 11 tập 1 . Trong hai câu thơ dưới đây, từ thôi in đậm đã được tác giả sử dụng với nghĩa thế nào?

Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

(Nguyễn Khuyến – Khóc Dương Khuê)

Trả lời:

– Chữ thôi nghĩa gốc tức là chấm dứt, kết thúc một hoạt động nào đó (thôi học, thôi việc,…).

– Trong câu thơ của Nguyễn Khuyến, từ thôi (thứ hai) được dùng với nghĩa chấm dứt, kết thúc cuộc đời, cuộc sống. Cách dùng này là sự sáng tạo nghĩa mới cho từ thôi. Nó thể hiện rõ dấu ấn lời nói cá nhân của Nguyễn Khuyến.

Bài 2 trang 13 SGK Ngữ văn 11 tập 1

. Nhận xét về cách sắp xếp từ ngữ trong hai câu thơ sau. Cách sắp đặt như thế tạo được hiệu quả giao tiếp như thế nào?

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

(Hồ Xuân Hương – Tự tình)

Trả lời:

– Ở các câu thơ trên, Hồ Xuân Hương đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ

– Ở trong các tổ hợp cụm danh từ đều đảo danh từ trung tâm lên trước: danh từ + phụ ngữ trước: rêu + từng đám, đá + mấy hòn

– Đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ: “Xiên ngang mặt đắt, rêu từng đám” (Từng đám rêu, xiên ngang mặt đất)

– Đưa các cụm động từ mạnh “Xiên ngang mặt đất”, “đâm toạc chân mây” làm vị ngữ lên trước

⇒ Tạo nên âm hưởng mạnh cho câu thơ, sự dữ dỗi của thiên nhiên cũng như của lòng người.

Bài 3 trang 13 SGK Ngữ văn 11 tập 1Tìm thêm những ví dụ thể hiện được quan hệ giữa cái chung và cái riêng như quan hệ giữa ngôn ngữ chung của xã hội và lời nói riêng của cá nhân.

Trả lời:

Ví dụ trong một loài cá chúng đều có những nét chung giống nhau như sống dưới nước, thở bằng mang. Nhưng mỗi con cá lại có những nét riêng khác nhau về kích thức, màu sắc, khối lượng. Như các loài cá đều đẻ trứng chỉ có cá heo, cá ngựa.. đẻ con..

II. Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân chi tiết

Dưới đây là phần nội dung soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân đầy đủ, chi tiết nhất cho các em tham khảo. Ngoài ra để xem được nhiều cách trình bày câu trả lời cho từng câu hỏi, các em có thể bấm vào từng câu hỏi để chuẩn bị bài thêm nhé.

Bài 1 . Trong hai câu thơ dưới đây, từ thôi in đậm đã được tác giả sử dụng với nghĩa thế nào?

Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

(Nguyễn Khuyến – Khóc Dương Khuê)

Trả lời:

– Từ “thôi” vốn có nghĩa là chấm dứt, kết thúc một hoạt động nào đó

– Từ “thôi” in đậm được Nguyễn Khuyến sử dụng để chỉ sự chấm dứt, kết thúc một cuộc đời

⇒ Đây chính là sự sáng tạo nghĩa mới cho từ “thôi” của Nguyễn Khuyến để làm giảm bớt đi sự đau lòng, xót xa khi mất đi một người bạn tri kỉ là Dương Khuê.

Bài 2. Nhận xét về cách sắp xếp từ ngữ trong hai câu thơ sau. Cách sắp đặt như thế tạo được hiệu quả giao tiếp như thế nào?

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

(Hồ Xuân Hương – Tự tình)

Trả lời:

– Từ ngữ được sắp xếp theo lối đối lập: xiên ngang – đâm toạc; mặt đất – chân mây; rêu từng đám – đá mấy hòn, kết hợp với hình thức đạo ngữ. Thiên nhiên trong hai câu thơ như cũng như đang nổi loạn cùng tâm trạng, nỗi niềm nhà thơ. Rêu là một sinh vật nhỏ bé nhưng cũng không chịu khuất phục; nó phải xiên ngang mặt đất. Đá vốn rắn chắc nhưng giờ cũng nhọn hơn để đâm toạc chân mây.

– Hiệu quả: Nhà thơ sử dụng biện pháp đảo ngữ để làm nội tâm trạng phẫn uất của thiên nhiên mà cũng là sự phẫn uất của nhà thơ. Các động từ mạnh như xiên, đâm kết hợp với các bổ ngữ như ngang, toạc thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh của thi sĩ. Chính biện pháp đối lập và đảo ngữ, cách dùng các từ ngữ tạo hình đó đã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ, làm nên cá tính sáng tạo của Hồ Xuân Hương. Đó cũng là cách miêu tả sáng tạo về thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương: bao giờ cũng chuyển động, căng đầy sức sống ngay cả trong những tình huống bi thảm nhất.

Bài 3 Tìm thêm những ví dụ thể hiện được quan hệ giữa cái chung và cái riêng như quan hệ giữa ngôn ngữ chung của xã hội và lời nói riêng của cá nhân.

Trả lời:

Quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân là quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Trong hiện thực, có rất nhiều hiện tượng cũng có mối quan hệ như vậy:

– Ví dụ: Một chiếc tivi Samsung là sự hiện thực hóa của loại máy thu hình. Nó mang đầy đủ những đặc điểm chung của thể loại máy này (có bóng hình, có loa,…) song nó lại mang những đặc điểm riêng của thương hiệu.

– Có thể nêu ví dụ khác về mối quan hệ giữa giống loài và từng cá thể, chẳng hạn: Giữa chim bồ câu với loài chim, giữa một con cá cụ thể với một loài cá,…

C – Tổng kết bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

  1. Ngôn ngữ là tài sản chung là phương tiện giao tiếp chung của cả cộng đồng xã hội; còn lời nói là sản phẩm được cá nhân tạo ra trên cơ sở vận dụng các yếu tố ngôn ngữ chung và tuân thủ các quy tắc chung.
  2. Ngôn ngữ chung của xã hộlà cơ sở để sản sinh và lĩnh hội lời nói cá nhân.
  3. Lời nói cá nhân vừa có những biểu hiện của ngôn ngữ chung, vừa có những nét riêng. Hơn nữa, cá nhân có thể sáng tạo, góp phần làm biến đổi, phát triển ngôn ngữ chung.

 

Soạn bài”Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” số 4

I. Ngôn ngữ – tài sản chung của xã hội

– Ngôn ngữ là tài sản chung của một dân tộc, một cộng đồng xã hội (có thể bao gồm những người cùng một dân tộc, hoặc thuộc các dân tộc khác nhau).

– Tính chung trong ngôn ngữ của cộng đồng được biểu hiện qua những phương diện sau:

1. Trong thành phần của ngôn ngữ có những yếu tố chung cho tất cả mọi cá nhân trong cộng đồng. Mỗi cá nhân đều cần tích lũy những yếu tố chung đó và biết sử dụng chúng để tạo lời nói, đáp ứng nhu cầu biểu hiện nội dung và giao tiếp với người khác Những yếu tố chung bao gồm:

  • Các âm và các thanh (nguyên âm, phụ âm, thanh điệu)
  • Các tiếng (tức các âm tiết) do sự kết hợp của các âm và thanh theo những nguyên tắc nhất định.
  • Các từ
  • Các ngữ cố định (thành ngữ, quán ngữ)

2. Tính chung còn thể hiện ở các quy tắc và phương thức chung trong việc cấu tạo và sử dụng các đơn vị ngôn ngữ. Các quy tắc và phương thức này được hình thành dần trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ và cần được mỗi cá nhân tiếp nhận và tuân thủ theo, nếu muốn cho sự giao tiếp với cộng đồng được hiệu quả.

  • Quy tắc cấu tạo các kiểu câu.
  • Phương thức chuyển nghĩa từ: chuyển nghĩa gốc sang nghĩa phái sinh.

II. Lời nói – sản phẩm riêng của cá nhân

1. Giọng nói cá nhân

Khi nói, giọng mỗi người có một vẻ riêng không giống người khác, tuy rằng mỗi người vẫn dùng các âm, các thanh chung thuộc ngôn ngữ cộng đồng. Chính vì vẻ riêng trong giọng nói của cá nhân mà ta có thể nhận ra giọng nói của người quen ngay cả khi không nhìn thấy hay không tiếp xúc trực tiếp với người đó.

2. Vốn từ ngữ cá nhân

Mặc dù từ vựng của mỗi ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, nhưng mỗi cá nhân ưa chuộng và quen dùng những từ ngữ nhất định. Vốn từ ngữ cá nhân phụ thuộc vào nhiều phương diện: lứa tuổi, giới tính, cá tính, nghề nghiệp, vốn sống, trình độ hiểu biết, quan hệ xã hội, địa phương, sinh sống…

3. Sự chuyển đổi, sáng tạo khi sử dụng từ ngữ chung, quen thuộc

Từ ngữ là vốn chung, quen thuộc của toàn xã hội, nhưng ở lời nói cá nhân có sự chuyển đổi, sáng tạo trong nghĩa từ, trong kết hợp từ ngữ, trong việc tách từ, gộp từ, chuyển loại từ hoặc trong sắc thái, phong cách… tạo nên những sự biểu hiện mới.

4. Việc tạo ra từ mới

Cá nhân có thể tạo ra từ mới từ những chất liệu có sẵn và theo các phương thức chung.

=> Tổng kết: Ngôn ngữ là tài sản chung, là phương tiện giao tiếp chung của cả cộng đồng xã hội; còn lời nói là sản phẩm được cá nhân tạo ra trên cơ sở vận dụng các yếu tố ngôn ngữ chung và tuân thủ các quy tắc chung.

III. Luyện tập

Câu 1. Trong hai câu thơ dưới đây, từ “thôi” in đậm đã được tác giả sử dụng với nghĩa như thế nào?

Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta

(Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê)

– Từ “thôi” có nghĩa là ngừng hẳn lại, chấm dứt hẳn, không tiếp tục làm việc gì đó nữa.

– Từ “thôi” được sử dụng trong bài “Khóc Dương Khuê” có nghĩa là chết đi, mất đi. Dùng theo cách nói giảm nói tránh.

Câu 2. Nhận xét về cách sắp đặt từ ngữ trong hai câu thơ sau. Cách sắp đặt như thế tạo được hiệu quả giao tiếp như thế nào?

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn

(Hồ Xuân Hương, Tự tình – Bài III)

– Đảo trật từ từ

  • Vị ngữ lên trước chủ ngữ: xiên ngang – mặt đất, đâm toạc – chân mây.
  • Thành phần phụ lên trước danh từ trung tâm: rêu – từng đám, đá – mấy hòn.

– Đối xứng: xiên ngang – đâm toạc, mặt đất – chân mây

– Cách sắp đặt như vậy đã tạo được hiệu quả: tạo nên âm hưởng mạnh cho câu thơ, cho thấy hình ảnh thiên nhiên dữ dội mạnh mẽ.

Câu 3. Tìm thêm những ví dụ thể hiện được quan hệ giữa cái chung và cái riêng như quan hệ ngôn ngữ chung của xã hội và lời nói riêng của cá nhân.

Hình ảnh “trăng” vốn đã rất quen thuộc trong thơ ca, nhưng ở mỗi nhà thơ khác nhau thì hình ảnh ánh trăng lại được khắc họa khác nhau và mang ý nghĩa khác nhau:

– Trong thơ Hồ Chí Minh:

Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

(Ngắm trăng)

Trăng là biểu tượng của cái đẹp, của thiên nhiên. Qua ánh trăng, tác giả bộc lộ tình yêu thiên nhiên đến say mê, phong thái ung dung của Bác Hồ ngay cả trong ngục tù cực khổ tăm tối.

– Trong thơ Hàn Mặc Tử:

Ta hoảng hồn, hoảng vía, ta hoảng điên
Nhảy ùm xuống giếng vớt trăng lên.

(Trăng tự tử)

Trăng là biểu tượng của sự đau đớn, của cái chết. Với ánh trăng, Hàn Mặc Tử đã bộc lộ sự xót xa, đau thương.

 

Soạn bài”Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” số 5

I. Ngôn ngữ – tài sản chung của xã hội

1. Những yếu tố chung trong ngôn ngữ của cộng đồng:

– Các âm thanh và các thanh (nguyên âm, phụ âm, thanh điệu…)

– Các tiếng (âm tiết) là sự kết hợp của các âm và thanh.

– Các từ (từ đơn, từ ghép)

– Các ngữ cố định (thành ngữ, quán ngữ…)

2. Các quy tắc và phương thức chung:

– Quy tắc chung: Quy tắc cấu tạo từ, ngữ (cụm từ, câu, đoạn…)

– Phương thức chuyển nghĩa từ (nghĩa gốc sang nghĩa phát sinh)

II. Lời nói – sản phẩm riêng của cá nhân

– Cái riêng trong lời nói cá nhân biểu hiện qua:

    + Giọng nói cá nhân

    + Vốn từ ngữ cá nhân

    + Việc sử dụng các từ ngữ quen thuộc một cách sáng tạo

    + Việc cấu tạo ra từ mới

    + Việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo quy tắc chung, phương thức chung.

– Biểu hiện rõ nhất của nét riêng trong lời nói cá nhân là phong cách ngôn ngữ cá nhân.

III. Luyện tập (trang 13 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

Câu 1 (trang 13 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Từ “thôi” vốn có nghĩa là chấm dứt, kết thúc một hoạt động nào đó

– Từ “thôi” in đậm được Nguyễn Khuyến sử dụng để chỉ sự chấm dứt, kết thúc một cuộc đời

⇒ Đây chính là sự sáng tạo nghĩa mới cho từ “thôi” của Nguyễn Khuyến để làm giảm bớt đi sự đau lòng, xót xa khi mất đi một người bạn tri kỉ là Dương Khuê.

Câu 2 (trang 13 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Ở các câu thơ trên, Hồ Xuân Hương đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ

– Ở trong các tổ hợp cụm danh từ đều đảo danh từ trung tâm lên trước: danh từ + phụ ngữ trước: rêu + từng đám, đá + mấy hòn

– Đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ: “Xiên ngang mặt đắt, rêu từng đám” (Từng đám rêu, xiên ngang mặt đất)

– Đưa các cụm động từ mạnh “Xiên ngang mặt đất”, “đâm toạc chân mây” làm vị ngữ lên trước

⇒ Tạo nên âm hưởng mạnh cho câu thơ, sự dữ dội của thiên nhiên cũng như của lòng người.

Câu 3 (trang 13 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

Ví dụ trong một loài cá chúng đều có những nét chung giống nhau như sống dưới nước, thở bằng mang. Nhưng mỗi con cá lại có những nét riêng khác nhau về kích thức, màu sắc, khối lượng. Như các loài cá đều đẻ trứng chỉ có cá heo, cá ngựa.. đẻ con..

Nguồn: Tổng Hợp