Hướng dẫn soạn bài”Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)”

 Soạn văn 11:Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh) là tài liệu tham khảo hay dành cho quý thầy cô cùng các bạn học sinh. Bài soạn văn 11 này khái quát về tác giả Nguyễn An Ninh, bố cục, nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Mời các bạn tham khảo.

1. Soạn bài Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức mẫu 1

1.1. Tìm hiểu chung

1.Tác giả: Nguyễn An Ninh (1899 -1943).

  • Là nhà báo, nhà văn, nhà yêu nước đầu thế kỉ XX.
  • Từ một trí thức Tây học, ông đến với chủ nghĩa Mác và những người cộng sản.
  • 1908 bị bắt đày đi Côn Đảo.
  • Sự nghiệp và tên tuổi của ông gắn liền với những buổi diễn thuyết.
  • Phê phán đạo Khổng – đề cao tinh thần học hỏi văn hoá châu Âu.
  • Văn phong khúc chiết, trong sáng, có độ sâu về tư duy văn hoá, tràn đầy nhiệt huyết yêu nước gần gũi với đời sống và con người lao động.

2. Tác phẩm

  • Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức là tác phẩm tiêu biểu cho thể văn chính luận, một thể văn coi trọng lí luận, trình bày những vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Ngay ở nhan đề, bài báo đã chỉ ra vai trò quan trọng và thiêng liêng của tiếng Việt, đó là: Nguồn giải phóng của dân tộc.
  • Bài báo có bố cục chặt chẽ, khoa học thể hiện khả năng tư duy lôgíc của một nhà báo hoạt động chính trị; vì vậy, nó vừa có sự hấp dẫn của báo chí, vừa có tính thuyết phục, tư tưởng của một bài diễn thuyết chính trị.
  • Mở đầu bài viết, tác giả phê phán một số người do thiếu hiểu biết, thích khoe khoang nên đã vô tình “từ bỏ văn hoá cha ông và tiếng mẹ đẻ”.
  • Phần tiếp theo, tác giả thuyết minh cho tư tưởng nòng cốt của bài viết: Tiếng mẹ đẻ là nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức. Với lối viết ngắn gọn, súc tích, tác giả đã chỉ ra một cách cụ thể ý nghĩa của tiếng mẹ đẻ, đồng thời khẳng định và chứng minh rằng: Tiếng Việt rất giàu có…
  • Phần kết thúc, tác giả trình bày vai trò hướng đạo của giới trí thức trong việc phát triển ngôn ngữ dân tộc, quan niệm của mình về mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài. Cốt lõi của quan điểm đó là : học tiếng nước ngoài trên tinh thần tiếp thu lựa chọn tinh hoa để làm giàu có hơn cho ngôn ngữ nước mình.

1.2. Đọc – hiểu văn bản

A. Nội dung

1. Phê phán những kiểu học đòi “Tây hoá”

  • Bập bẹ xem vài ba tiếng Tây trong lời nói: Làm tổn thương tiếng mẹ đẻ và tự bộc lộ là người kém văn hoá.
  • Lối sống lai căng từ kiến trúc đến lời ăn tiếng nói. Đó là biểu hiện từ bỏ văn hoá dấu hiệu mất gốc => Mất nước

2. Giá trị và vai trò của tiếng nói trong sự nghiệp giải phóng dân tộc

  • Tiếng nói rất quan trọng với vận mệnh dân tộc

“tiếng nói ……thống trị”
“tiếng nói là tinh thần của dân tộc… từ chối quyền tự do”

  • => Tiếng nói được bảo tồn và phát triển thì nó là nhịp cầu tri thức giúp tiếp xúc nền văn minh, khoa học thế giới, mở mang dân trí.
  • Dẫn chứng để chứng tỏ tiếng nước mình không nghèo nàn
    • Ngôn ngữ của Nguyễn Du giàu hay nghèo
    • Tại sao dịch những tác phẩm Trung Quốc mà không viết tác phẩm tương tự.
    • => Ngôn ngữ nghèo hay người dùng bất tài.

3. Quan niệm của tác giả về mối quan hệ giữa ngôn ngữ nước mình với ngôn ngữ nước ngoài

  • Bên cạnh việc tôn vinh tiếng mẹ đẻ, tác giả còn thấy được vai trò của ngoại ngữ. Người học phải biết một ngoại ngữ để cho đồng bào tiếp cận tri thức nhân loại, đồng thời góp phần bồi đắp làm giàu cho tiếng mẹ đẻ.

B. Nghệ thuật

  • Luận điểm, luận cứ rõ ràng, lập luận chặt chẽ, sử dụng ngôn ngữ chính luận sắc sảo.

C. Ý nghĩa văn bản

  • Từ mối tương quan giữa tiếng mẹ đẻ và nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức, bài viết đã thể hiện lập trường dân tộc và yêu nước của Nguyễn An Ninh. Ngày nay, tư tưởng ấy vẫn còn nguyên giá trị.

1.3. Tổng kết

  • Bài viết bàn về hiện tượng lai căng ngoại ngữ lúc đó và khẳng định tiếng Việt ta rất giàu có, cần được bồi đắp cho phong phú.
  • Qua bài viết, tác giả thể hiện cái nhìn khoa học, khách quan mang đậm tinh thần dân tộc. – Giọng điệu nhẹ nhàng đầy sức thuyết phục.

2. Soạn bài Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức mẫu 2

2.1. Hướng dẫn

Câu 1 (trang 91 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Nguyễn An Ninh phê phán nhiều hành vi trong thói học đòi “Tây hóa”:

– Thích bập bẹ năm ba tiếng Tây hơn diễn dạt cho mạch lạc bằng tiếng nước mình, cóp nhặt và thể hiện những cái tầm thường của phong hóa châu Âu trong khi mù tịt về văn hóa ấy.

– Tạo nên những ngôi nhà có kiến trúc và trang trí lai căng.

– Từ bỏ văn hóa cha ông và tiếng mẹ đẻ.

Câu 2 (trang 91 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Theo tác giả, tiếng nói có tầm quan trọng lớn lao với vận mệnh dân tộc: “Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị”.

Câu 3 (trang 91 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Nhận định tiếng “nước mình” không nghèo nàn, tác giả căn cứ vào các dẫn chứng và lí lẽ.

– Lí lẽ: Khẳng định nhiều người An Nam chỉ biết những từ thông dụng và chính họ còn nghèo vốn từ An Nam hơn cả những người phụ nữ, nông dân An Nam; do sự bất tài của con người.

– Dẫn chứng: Lấy ngôn ngữ của Nguyễn Du chứng minh cho sự giàu có của tiếng Việt; người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc.

Câu 4 (trang 91 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Quan niệm của tác giả về mối quan hệ giữa ngôn ngữ nước ngoài và ngôn ngữ “nước mình”:

– Học tiếng nước ngoài để làm giàu cho ngôn ngữ nước mình.

– Ngôn ngữ là kênh để giúp giới trí thức nước ta hiểu châu Âu, tiếp cận tri thức châu Âu và truyền bá cho đồng bào mình.

Câu 5 (trang 91 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

– Trong hoàn cảnh nước nhà đang bị thực dân thống trị, câu nói “Nếu người An Nam hãnh diện… vấn đề thời gian” đúng nhưng chưa đủ vì để giải phóng dân tộc cần có cuộc cách mạng toàn diện trên mọi mặt trận, trong đó đặc biệt phải có đấu tranh vũ trang đánh đuổi kẻ thù khỏi bờ cõi.

2.2. Tóm tắt

Bài nghị luận Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức là tác phẩm thể hiện lòng tự hào dân tộc, nhiệt tình bảo vệ và xây dựng nền văn hóa Việt Nam của Nguyễn An Ninh.

Mở đầu bài viết, tác giả phê phán một số người do thiếu hiểu biết, thích học đòi lối sống “Tây hóa”. Họ bập bẹ năm ba tiếng Tây để làm cho oai nhưng thực chất họ làm tổn thương tiếng mẹ đẻ và tự bộc lộ là người kém văn hoá. Đó là biểu hiện của dấu hiệu mất gốc văn hóa.

Phần tiếp theo, tác giả tác giả khẳng định tiếng mẹ đẻ là nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức đồng thời chứng minh rằng: Tiếng Việt rất giàu có. Đó là tiếng nói hằng ngày của những con người lao động bình thường, là những tác phẩm văn thơ bất hủ của Nguyễn Du…

Phần kết thúc, tác giả nhấn mạnh quan điểm: nên học tiếng nước ngoài để thu nhận kiến thức và không khinh rẻ, từ bỏ tiếng mẹ đẻ. Học tiếng nước ngoài chính là một cách làm giàu thêm cho ngôn ngữ nước mình.

2.3. Bố cục

– Phần 1 ((Từ đầu đến “người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng”): Nêu hiện tượng học đòi Tây hóa.

– Phần 2 (Tiếp theo đến “hay sự bất tài của con người?”): Vai trò của tiếng mẹ đẻ đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.

– Phần 3 (còn lại): Mối quan hệ giữa ngôn ngữ nước mình với nước ngoài.

2.4. Nội dung chính

– Tiếng nói là tài sản quý giá của dân tộc, phải biết bảo vệ nó và làm cho nó ngày càng phát triển.

– Tiếng mẹ đẻ còn là nguồn giải phóng dân tộc bị áp bức.

– Tầm nhìn chiến lược của Nguyễn An Ninh về vai trò và tiếng nói dân tộc.

3. Soạn bài Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức mẫu 3

Câu 1: Nguyễn An Ninh phê phán những hành vi nào của thói học đòi “Tây hóa” ?

Trả lời:

Trong bài văn, Nguyễn An Ninh đã cực lực phê phán những kiểu học đòi chạy theo “Tây hoá”:

– Đó là việc: “Nhiều người An Nam thích bập bẹ năm ba tiếng Tây hơn là diễn tả ý tưởng cho mạch lạc bằng tiếng nước mình“, bởi họ cho đó là “một dấu hiệu thuộc giai cấp quý tộc”.

– Nhiều người khác lại bắt chước những “kiểu kiến trúc và trang trí lai căng” của phương Tây.

Theo tác giả: “Nhiều người An Nam bị Tây hoá hiện nay tưởng rằng khi cóp nhặt những cái tầm thường của phong hoá châu Âu họ sẽ làm cho đồng bào của mình tin là họ đã được đào tạo theo kiểu Tây phương“. Tuy nhiên, thực tế thì họ “chẳng có được một thứ văn minh nào”. Không những thế, “Việc từ bỏ văn hoá cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng“.

Câu 2: Theo tác giả, tiếng nói có tầm quan trọng như thế nào đối với vận mệnh dân tộc ?

Trả lời:

Theo tác giả, “Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị“. Nhận định của tác giả là hoàn toàn có căn cứ bởi tiếng nói là tinh thần của dân tộc, là văn hoá của dân tộc và như chính tác giả đã khẳng định: “Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi [,..]. Vì thế đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình

Câu 3: Căn cứ vào đâu tác giả nhận định tiếng “nước mình” không nghèo nàn ?

Trả lời:

Tác giả đã đưa ra ba dẫn chứng để khẳng định rằng tiếng nước mình không nghèo nàn:

– “Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?“. Tác giả đặt ra một câu hỏi mang tính khẳng định. Ngôn ngữ của Nguyễn Du là ngôn ngữ nổi bật trong Truyện Kiều – một kiệt tác văn chương được đánh giá là đã thể hiện được một cách sâu sắc và phong phú nhiều mặt của đời sống con người nhất là đời sống nội tâm.

Truyện Kiều là một minh chứng về khả năng biểu đạt tài tình của ngôn ngữ mà không ai có thể phủ định được. Đó là một dẫn chứng hoàn toàn thuyết phục.

– Tác giả tiếp tục đưa ra câu hỏi mang tính khẳng định: “Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?“. Một sự suy luận rất logic và hoàn toàn có lí. Trung Hoa rộng lớn và được coi là một trong những cái nôi văn hoá của thế giới. Tác phẩm văn học của họ phong phú và cũng vô cùng sâu sắc, thế nhưng ngôn ngữ của ta vẫn đủ sức chuyển dịch được tất cả những điều tưởng như quá lớn lao ấy. Tiếng An Nam đã làm được như vậy thì theo tác giả, không có lí gì để chúng ta không thể viết được những tác phẩm tương tự (bởi ngôn ngữ của chúng ta thừa khả năng có thể biểu đạt được những điều đó).

– Dẫn chứng thứ ba được tác giả đưa ra đơn giản hơn tất cả. Nó hướng người ta vào hành động và nếu ai còn hoài nghi, thậm chí có thể kiểm tra lại ngay bất cứ lúc nào: “Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyên tắc này: Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra”.

Câu 4: Tác giả quan niệm như thế nào về mối quan hệ giữa ngôn ngữ nước ngoài và ngôn ngữ “nước mình” ?

Trả lời:

Phê phán những kẻ học đòi Tây học nhưng Nguyễn An Ninh không phủ nhận ngôn ngữ nước ngoài. Theo tác giả:

Chúng ta không thể né tránh châu Âu, vai trò hướng đạo của giới trí thức chúng ta buộc họ phải biết ít nhất là một ngôn ngữ châu Âu để hiểu được châu Âu“.

Như thế, theo tác giả, rõ ràng muốn nước mình độc lập, thì phải hiểu nước ngoài mà muốn hiểu được họ thì trước hết phải nắm được ngôn ngữ của họ. Không phủ nhận, thậm chí, tác giả còn khuyến khích việc để cho “Đồng bào của họ cũng phải được thông phần nữa“. Sự hoà hợp của thế giới là một sự tất yếu. “Tuy nhiên, sự cần thiết phải biết một ngôn ngữ châu Âu hoàn toàn không kéo theo chuyện từ bỏ tiếng mẹ đẻ. Ngược lại, thứ tiếng nước ngoài mà mình học được phải làm giàu cho ngôn ngữ nước mình”.

Câu 5: 

Trong bài viết, Nguyễn An Ninh khẳng định: “Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian“.

Trong hoàn cảnh nước nhà đang bị thực dân thống trị, câu nói trên của tác giả là có lí nhưng không hoàn toàn đúng. Muốn giải phóng dân tộc, chúng ta phải làm một cuộc cách mạng vũ trang với một đường lối đúng đắn, chứ không thể chỉ làm cho ngôn ngữ phong phú được.

Nguồn: Tổng Hợp