Hướng dẫn soạn bài”Nỗi thương mình”( Nguyễn Du) văn học 10 chi tiết nhất

Đoạn trích Nỗi thương mình  được học trong chương trình Ngữ văn lớp 10 đã bộc lộ niềm thương thân xót phận cũng như ý thức cao về nhân cách của Thúy Kiều. Tài liệu  sẽ cung cấp tài liệu soạn văn 10: Nỗi thương mình , hy vọng có thể giúp ích cho các bạn học sinh

Soạn văn Nỗi thương mình chi tiết- SỐ 1

I. Tác giả

– Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên.

– Quê gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua thời niên thiếu ở Thăng Long.

– Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học.

– Cuộc đời ông gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XX.

– Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hóa dân tộc và văn chương Trung Quốc.

– Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm nhiều tác phẩm có giá trị bằng chữ Hán và chữ Nôm.

– Một số tác phẩm như:

  • Tác phẩm bằng chữ Hán (3 tập thơ, gồm 243 bài): Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục.
  • Tác phẩm chữ Nôm: Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều)…

II. Tác phẩm

1. Vị trí đoạn trích

– Đoạn trích “Nỗi thương mình” được trích từ câu 1229 đến câu 1248.

– Nội dung: Sau khi Mã Giám Sinh đưa Kiều đến nhà chứa của mụ Tú Bà, Kiều đã quyết liệt chống lại âm mưu biến nàng thành kỹ nữ, nhưng cuối cùng nàng lại rơi vào bẫy của Tú Bà, buộc phải ra tiếp khách. Đoạn trích tả lại tình cảnh trớ trêu mà Thúy Kiều gặp phải cũng như bộc lộ sự thương xót cho thân phận của chính mình.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

– Phần 1. Từ đầu đến “Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”: Tình cảnh của Thúy Kiều ở lầu xanh.

– Phần 2. Tiếp theo đến “Những mình nào biết có xuân là gì”. Sự xót xa cho thân phận của Thúy Kiều.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Tình cảnh của Thúy Kiều ở lầu xanh

– Hình ảnh mang tính ước lệ “bướm, ong, cuộc vui, trận cười” cùng với các điển cố, điển tích: “lá gió, cành chim, Tống Ngọc, Trường Khanh”: khung cảnh sinh hoạt xô bồ, tấp nập chốn lầu xanh.

– Các hình ảnh “bướm lả – ong lơi, cuộc vui – trận cười, sớm – tối”: gợi sự bẽ bàng, tủi hổ của Thúy Kiều, kết hợp với các từ ngữ chỉ mức độ “biết bao, đầy tháng, suốt đêm”: gợi cuộc sống xô bồ ở lầu xanh, Kiều phải tiếp khách làng chơi suốt ngày đêm.

=> Cuộc đời Kiều khi bị vùi dập, chà đạp cả thể xác và nhân phẩm.

2. Niềm thương xót cho thân phận của Kiều

– Không gian: lầu xanh.

– Thời gian: tàn canh, ban đêm.

– Tâm trạng của Thúy Kiều:

  • “Giật mình”: sự bàng hoàng, thảng thốt, không tin vào cảnh sống ở thực tại của bản thân mình.
  • “Thương mình xót xa”: buồn bã, đau đớn cho cảnh ngộ của bản thân.
  • Cặp từ đối lập “khi sao” và “giờ sao”: nhấn mạnh sự khác biệt: quá khứ thì êm đềm, hạnh phúc còn hiện tại thì đau đớn, phũ phàng, bị vùi dập.
  • Thành ngữ chéo “dày gió dạn sương” (dày dạn gió sương), “bướm chán ong chường” (ong bướm chán chường): nhấn mạnh sự ngỡ ngàng, bàng hoàng.
  • Sự đối lập giữa Kiều và khách “mặc người mưa Sở mây Tần”: thái độ dứt khoát chối từ cuộc sống sống như đám khách làng chơi.

– Cuộc sống chốn thanh lâu: có phong, hoa, tuyết, nguyệt (cảnh đẹp bốn mùa), thú vui cầm, kỳ, thi, họa.

– Điệp từ “vui, ai…” và câu hỏi tu từ “Ai tri âm đó mặn mà với ai?”: tiếng kêu đến xé lòng của con người tài hoa bạc mệnh.

=> Khát vọng sống trong sạch của nàng Kiều.

IV. Tổng kết

– Nội dung: Đoạn trích đã bộc lộ niềm thương thân xót phận cũng như ý thức cao về nhân cách của Thúy Kiều.

– Nghệ thuật: nghệ thuật đối xứng, hình ảnh ước lệ, sử dụng điển cố điển tích…

Soạn văn Nỗi thương mình ngắn gọn- SỐ 2

Hướng dẫn trả lời câu hỏi:

Câu 1. Theo anh (chị), đoạn trích trên đây có thể chia thành mấy đoạn nhỏ? Cho biết nội dung của mỗi đoạn.

Gồm 3 phần:

– Phần 1. Từ đầu đến “Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”: Tình cảnh của Thúy Kiều ở lầu xanh.

– Phần 2. Tiếp theo đến “Những mình nào biết có xuân là gì”. Sự xót xa cho thân phận của Thúy Kiều.

Câu 2. Bút pháp ước lệ trong đoạn trích có ý nghĩa như thế nào đối với việc diễn tả thân phận éo le của nàng Kiều? Qua đó, có thể nói gì về tình cảm của tác giả đối với nhân vật?

– Bút pháp ước lệ thể hiện trong hình ảnh “bướm, ong, cuộc vui, trận cười” hoặc trong các điển cố, điển tích: “lá gió, cành chim, Tống Ngọc, Trường Khanh”.

– Hình ảnh ước lệ nhằm khắc họa cuộc sống của chốn thanh lâu, từ đó bộc lộ sự xót xa cho thân phận của Thúy Kiều.

– Tình cảm của tác giả đối với nhân vật:

Câu 3. Cho biết các dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng trong đoạn trích và giá trị nghệ thuật của chúng.

– Các dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng trong đoạn trích:

  • Trong một cụm từ: “bướm lả/ ong lơi ; lá gió/ cành chim; dày gió/ dạn sương; bướm chán/ ong chường; mưa Sở/ mây Tần; gió tựa/ hoa kề”: làm nổi bật thân phận bẽ bàng của người kỹ nữ, và cảm giác đau đớn, xót xa của nhân vật.
  • Trong một câu thơ: “Khi tỉnh rượu/ lúc tàn canh; Nửa rèm tuyết ngậm/ bốn bề trăng thâu”: nhấn mạnh sự liên tục, kéo dài của sự vật hay cái mênh mông của không gian.
  • Hai câu lục bát: tạo nên cái nhìn đa chiều về nỗi niềm thương thân xót phận của nhân vật.

– Giá trị nghệ thuật: tạo sự đối xứng trong hình ảnh để biểu đạt giữa một bên là cuộc sống chốn lầu xanh, một bên là nhân cách của nàng Kiều; bộc lộ tâm trạng đau đớn, bẽ bàng của Thúy Kiều trước cảnh ngộ của bản thân.

Câu 4. “Nỗi thương mình” của nhân vật có ý nghĩa mới mẻ như thế nào đối với văn học trung đại?

– “Nỗi thương mình” của nhân vật Thúy Kiều đã đóng góp vào văn học trung đại về sự tự ý thức của con người.

– Nhân vật Thúy Kiều: “Giật mình mình lại thương mình xót xa” chính là lời thức tỉnh về quyền sống của cá nhân.

Câu 5. Đánh giá chung về tư tưởng đoạn trích. Trong cuộc tái ngộ Kim Trọng nói với Kiều: “Như nàng lấy hiếu làm trinh/Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”. Theo anh (chị) đoạn trích này có thể góp phần lý giải câu nói đó như thế nào?

– Đoạn trích đã thể hiện một tư tưởng nhân văn cao đẹp, đó là lộ niềm thương thân xót phận cũng như ý thức cao về nhân cách của Thúy Kiều.

– Trong cuộc tái ngộ Kim Trọng nói với Kiều: “Như nàng lấy hiếu làm trinh/Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”, đoạn trích “Nỗi thương mình” đã góp phần lý giải câu nói trên: Vì chữ “hiếu”, nàng đã phải hy sinh cả sự trinh trắng, trải qua mười lăm năm sống cuộc đời gió bụi, qua tay Mã Giám Sinh, làm vợ Thúc Sinh rồi Từ Hải, hết rơi vào lầu xanh của Tú Bà lại rơi vào lầu xanh của Bạc Bà, Bạc Hạnh… nhưng “bụi nào cho đục được mình ấy vay?” – nhân cách cao đẹp của nàng Kiều vẫn được gìn giữ nguyên vẹn.

Nguồn: Tổng Hợp

.