Hướng dẫn soạn bài”Cảm xúc mùa thu”( Đỗ Phủ ) văn học 10 chi tiết nhất

Các em học sinh thân mến! Để giúp các em học tốt ngữ văn lớp 10 đã tổng hợp nội dung bài thơ: Cảm xúc mùa thu (Thu hứng) thuộc chương trình  ngữ văn lớp 10 với nội dung đầy đủ và kèm theo những tài liệu liên quan để giúp các em học tập một cách tốt nhất. Mời các em học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Cảm xúc mùa thu (Thu hứng

Soạn bài”Cảm xúc mùa thu” số 1

Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Dịch nghĩa

Móc ngọc tơi bời ở rừng phong,
Khí ở núi Vu và kẽm Vu ảm đạm mịt mờ.
Trên sông, nước và trời cùng trôi chảy,
Ngoài ải, gió và mây liên tiếp mù đất.
Cúc từng chòm nở hai lần dòng lệ xưa,
Thuyền lẻ loi buộc chặt mối tình quê cũ.
Nơi nơi giục giã dao thước may áo rét,
Tiếng chày chiều dồn dập thành cao Bạch Đế.

(Năm 766)

Bài thơ này được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 10 giai đoạn 1990-2006, SGK Ngữ văn 10 giai đoạn từ 2007.

I. Đôi nét về tác giả Đỗ Phủ

– Đỗ Phủ sinh năm 712, mất năm 770, tự là Tử Mĩ.

– Quê quán: huyện Củng, tỉnh Hà Nam.

– Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học và thơ ca lâu đời. Ông sống trong nghèo khổ và chết trong bệnh tật.

– Sự nghiệp sáng tác: Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, thơ Đỗ Phủ hiện còn khoảng 1500 bài.

– Nội dung thơ Đỗ Phủ: phản ánh hiện thực và bày tỏ cảm xúc, thái độ, tâm trạng đau khổ trước hiện thực đời sống của nhân dân trong chiến tranh, trong nạn đói chan chứa tình yêu nước và tinh thần nhân đạo.

– Phong cách thơ Đỗ Phủ: điêu luyện, trầm uất, nghẹn ngào.

II. Đôi nét về tác phẩm Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)

1. Hoàn cảnh ra đời:

Bài thơ được sáng tác năm 766, khi nhà thơ đang ở Quỳ Châu. Đỗ Phủ sáng tác chùm “Thu hứng” gồm 8 bài thơ, trong đó cảm xúc mùa thu là bài thơ thứ nhất.

2. Bố cục (2 phần)

– Phần 1 (4 câu đầu): Cảnh mùa thu.

– Phần 2 (4 câu còn lại): Tình thu.

3. Giá trị nội dung

Bài thơ vẽ nên bức tranh mùa thu hiu hắt, mang đặc trưng của núi rừng, sông nước Quỳ Châu. Đồng thời, bài thơ còn là bức tranh tâm trạng buồn lo của nhà thơ trong cảnh loạn li: nỗi lo cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận mình.

4. Giá trị nghệ thuật

– Tứ thơ trầm lắng, u uất.

– Lời thơ buồn, thấm đẫm tâm trạng, câu chữ tinh luyện.

– Bút pháp đối lập, tả cảnh ngụ tình.

– Ngôn ngữ ước lệ nhiều tầng ý nghĩa.

III. Dàn ý phân tích Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)

1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Đỗ Phủ: Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc với những vần thơ phản ánh hiện thực và bày tỏ cảm xúc, thái độ, tâm trạng đau khổ trước hiện thực đời sống của nhân dân trong chiến tranh, trong nạn đói chan chứa tình yêu nước và tinh thần nhân đạo.

– Giới thiệu về bài thơ “Cảm xúc mùa thu”: Cảm xúc màu thu là bài thơ đầu tiên trong chòm 8 bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ thể hiện nỗi lòng của nhà thơ với quê hương, đất nước.

2. Thân bài

a. Bốn câu thơ đầu: Cảnh thu

Hai câu đề:

– Hình ảnh thơ cổ điển, là những hình ảnh được dùng để miêu tả mùa thu ở Trung Quốc: “ngọc lộ”, “phong thụ lâm”.

+ Ngọc lộ: Miêu tả hạt sương móc trắng xóa, dầy đặc làm tiêu điều, hoang vu cả một rừng phong.

+ Phong thụ lâm: hình ảnh được dùng để miêu tả mùa thu.

– “Vu sơn Vu giáp”: tên những địa danh nổi tiếng ở vùng Quỳ Châu, Trung Quốc, vào mùa thu, khí trời âm u, mù mịt.

– “Khí tiêu sâm”: hơi thu hiu hắt, ảm đạm.

→ Bức tranh thu ở vùng rừng núi lạnh lẽo, xơ xác, tiêu điều, hiu hắt.

Hai câu thực

– Hướng nhìn của bức tranh của nhà thơ di chuyển từ vùng rừng núi xuống lòng sông và bao quát theo chiều rộng.

– Hình ảnh đối lập, phóng đại: sóng – vọt lên tận trời (thấp – cao), mây – sa sầm xuống mặt đất (cao – thấp), qua đó không gian được mở rộng ra nhiều chiều:

+ Chiều cao: sóng vọt lên lưng trời, mây sa sầm xuống mặt đất.

+ Chiều sâu: sâu thẳm.

+ Chiều xa: cửa ải.

→ Không gian hoành tráng, mĩ lệ.

⇒ Bốn câu thơ vẽ nên bức tranh mùa thu xơ xác, tiêu điều, hoành tráng, dữ dội.

⇒ Tâm trạng buồn lo và sự bất an của nhà thơ trước hiện thực tiêu điều, âm u.

b. Bốn câu còn lại: Tình thu

Hai câu luận

– Hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng:

+ Hoa cúc: hình ảnh ước lệ chỉ mùa thu.

+ Khóm cúc đã hai lần nở hoa: Có hai cách hiểu khóm cúc nở ra làm rơi giọt nước mắt, khóm cúc nở ra giọt nước mắt.

→ Dù hiểu theo cách nào thì cũng giúp chúng ta thấy được tâm sự buồn của tác giả.

+ “Cô phàm”: là phương tiện đưa tác giả trở về “cố viên”, đồng thời gợi thân phận lẻ loi, cô đơn, trôi nổi của tác giả.

– Cách sử dụng từ ngữ độc đáo, hàm súc, cô đọng:

+ “Lưỡng khai”: Nỗi buồn lưu cữu trải dài từ quá khứ đến hiện tại.

+ “ Nhất hệ”: Dây buộc thuyền cũng là sợi dây buộc mối tình nhà của tác giả.

+ “Cố viên tâm”: Tấm lòng hướng về quê cũ. Thân phận của kẻ tha hương, li hương luôn khiến lòng nhà thơ thắt lại vì nỗi nhớ quê.

– Tác giả đã đồng nhất giữ tình và cảnh trong hai câu thơ.

→ Hai câu thơ diễn tả nỗi lòng da diết, dồn nén nỗi nhớ quê hương của tác giả.

Hai câu kết

– Hình ảnh:

+ Mọi người nhộn nhịp may áo rét.

+ Giặt áo rét chuẩn bị cho mùa đông.

– Âm thanh: tiếng chày đập vải.

→ Âm thanh báo hiệu mùa đông đến, đồng thời đó là âm thanh của tiếng lòng, diễn tả sự thổn thức, mong ngóng, chờ đợi ngày được trở về quê.

⇒ Bốn câu thơ diễn tả nỗi buồn của người xa quê, ngậm ngùi, mong ngóng ngày trở về quê hương.

IV. Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ: Bài thơ là nỗi lòng riêng tư của tác giả Đỗ Phủ nhưng cũng chan chứa tâm sự yêu nước, thương đời. Nghệ thuật thơ Đường được tác giả sử dụng đạt tới trình độ điêu luyện, mẫu mực.

– Mở rộng: Đề tài mùa thu và cảm xúc về quê hương là đề tài quen thuộc, thu hút ngòi bút của nhiều nhà thơ lớn.

Soạn bài”Cảm xúc mùa thu” số 2

Câu 1 (Trang 146 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Có thể chia bài thơ thành 2 phần:

   + Phần 1 (4 câu thơ đầu): tả thiên nhiên ảm đạm, hiu hắt của mùa thu

   + Phần 2 (4 câu thơ cuối): cái tình của nhà thơ nhớ nước, thương dân

Câu 2 (trang 147 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Sự thay đổi bốn câu đầu cảnh được nhìn bao quát rộng và xa:

   + Sương trắng rừng phong,

   + Núi Vu, núi Kẽm hiu hắt

   + Lòng sông, sóng tận chân lưng trời

   + Mây sà xuống đất

– Bốn câu thơ sau, không gian bị thu hẹp lại: con thuyền, khóm cúc buộc tấm lòng nhà thơ với quê hương

   + Có sự vận động của khôn gian do thời gian buổi chiều buông, tầm nhìn hạn hẹp

   + Sự thay đổi phù hợp với tứ thơ, từ cảnh đến tình

→ Sự thay đổi phù hợp với tâm trạng và mạch cảm xúc, cấu tứ của bài thơ

Câu 3 (trang 147 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Mối quan hệ của bốn câu thơ đầu là bốn câu thơ cuối: cả hai góp phần tọa nên không gian bức tranh thu trầm buồn, sâu lắng

   + Bốn câu thơ đầu: miêu tả cảnh thu ở không gian rộng lớn, mênh mông

   + Bốn câu thơ sau: cảnh thu chi tiết, rõ nét, có tình

– Mối quan hệ tạo nên sự vận hành trong tứ thơ, đi từ cảnh tới tình, cảnh khởi sinh tình, tình thấm sâu vào cảnh

Nhan đề bài thơ là Thu hứng, trong toàn bộ bài thơ, hình ảnh, câu chữ phản ánh tình cảm của thi nhân trước cảnh sắc mùa thu.

   + Bốn câu thơ đầu dù miêu tả cảnh thu nhưng phảng phất nỗi buồn

   + Bốn câu cuối là nỗi lòng của tác giả nhớ nước, thương đời

Luyện tập

Bài 1 (trang 147 sgk ngữ văn 10 tập 1)

So với bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ (phiên âm và dịch nghĩa):

– Ưu điểm: Bản dịch thơ khá sát với tinh thần của bài thơ, thể hiện được sự sắc sảo khi sử dụng ngôn ngữ

Nhược điểm: Một số chênh lệch so với bản phiên âm:

   + Câu đầu tiên, tác giả chưa dịch sát nghĩa từ “điêu thương- đây là tính từ nhưng lại đóng vai trò làm động từ trong câu thơ. Cần phải diễn đạt được sắc thái tàn phá khắc nghiệt của sương đối với rừng phong.

   + Chữ “thẳm” diễn đạt chưa trọn vẹn nghĩa, nó khiến âm hưởng bài thơ bị kéo xuống

   + Câu 5, khi dịch tác giả làm mất từ “lưỡng khai” quan trọng, từ này có ý nghĩa nhấn mạnh vào sự lặp lại

   + Câu 6, tác giả không truyền tải được hết sự trống trải, cô đơn của kẻ li hương trong chữ “cô” phần phiên âm

Bài 2 (trang 147 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Chữ “lệ” trong câu “Tùng cúc lưỡng khai tha nhạt lệ” được hiểu theo cả hai cách nước mắt của nhà thơ và nước mắt của “hoa cúc”:

   + Mỗi khi ngắm nhìn hoa cúc, lòng tác giả lại bồi hồi nhớ về quê cũ, nước mắt rơi không ngăn lại được

   + Hoa cúc “lưỡng khai” nở gợi lên sự ra đi không trở lại nhưng cũng gợi liên tưởng về dòng lệ chứa chan ân tình không chỉ rơi một lần

   + Nhìn cúc nở mà tưởng như cúc đã nhỏ lệ

Bài 3 (trang 147 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Học thuộc lòng bài thơ.

Nguồn: Tổng Hợp