Hướng dẫn soạn bài “Viết bài làm văn số 2 Nghị luận văn học” mới nhất 2021

Hướng dẫn soạn bài “Viết bài làm văn số 2 Nghị luận văn học” dưới đây sẽ gợi mở cho các em những gợi ý cần thiết và đầy đủ cho các đề bài mẫu trong SGK. Hi vọng từ những gợi ý soạn bài “Viết bài làm văn số 2 Nghị luận văn học’, các em sẽ có thêm những kiến thức thú vị, hay và tự tin hơn đến với bài viết trên lớp.

Soạn bài “Viết bài làm văn số 2 Nghị luận văn học” số 1

Đề 1: Cảm nghĩ của anh (chị) về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh ( trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác)

1. Phân tích đề

– Đề này thuộc dạng đề định hướng rõ về nội dung và thao tác nghị luận.

– Vấn đề nghị luận: Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh.

– Yêu cầu về hình thức: Đây thuộc dạng bài nghị luận văn học (phát biểu cảm nghĩ về giá trị hiện thực của văn bản). Dẫn chứng lấy chủ yếu từ đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh.

2. Lập dàn ý

a. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm của đoạn trích (Nêu luận điểm của đề)

Ví dụ: Không chỉ là một danh y lỗi lạc, Lê Hữu Trác còn là một văn nhân văn nhân tài ba của nước ta ở TKXVIII. Nhắc đến ông không thể không nhắc đến “Thương kinh kí sự”. Tác phẩm phản ánh hiện thực sâu sắc cuộc sống xa hoa, giàu sang, quyền uy tột bậc của nhà chúa. Giá trị ấy đặc biệt được thể hiện qua đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”.

b. Thân bài: Cần triển khai rõ các ý sau:

– Bức tranh hiện thực về cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa:

   + Quang cảnh nơi phủ chúa hiện lên cực kì xa hoa, tráng lệ và không kém phần tôn nghiêm. Cảnh nói lên uy quyền tột bậc của nhà chúa.

   + Cùng với sự xa hoa là cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách.

– Từ bức tranh này, ta nhận thấy thái độ phê phán nhẹ nhàng mà thấm thía của tác giả, đồng thời dự cảm được sự duy tàn của giai cấp thống trị Lê – Trịnh thế kỉ XVIII đang tới gần.

c. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề và liên hệ bản thân.

Ví dụ: Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh mang giá trị hiện thực sâu sắc. Bằng tàỉ quan sát tinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sông xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời cũng bộc lộ thái độ coi thường lợi danh của mình. Đối với ông thì không có gì quý bằng cuộc sống tự do nơi non xanh nước biếc chốn quê nhà, được đem hết tài năng, nhiệt huyết cống hiến cho y thuật và cứu nhân độ thế. Cuộc sống nơi cung vua, phủ chúa dẫu giàu sang phú quý tột bậc nhưng rốt cục cũng chỉ là vào luồn ra cúi, cá chậu chim lồng mà thôi.

Đề 2: Qua các bài thơ Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và bài Thương vợ của Trần Tế Xương, anh (chị) hiểu những gì về người phụ nữ Việt Nam thời xưa.

1. Mở bài: Giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong văn học nói chung.

Ví dụ: Trong kho tàng văn học Việt Nam có rất nhiều bài thơ nói lên thân phận của người phụ nữ phong kiến xưa. Họ phải chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến “Tam tòng, tứ đức” ( tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử và công dung ngôn hạnh). Họ hầu như không có quyền quyết định cuộc đời mình, chỉ biết sống cam chịu và phục tùng. Cảm thông với số phận, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ xưa, hai nhà thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương đã thay họ nói lên tiếng lòng mình qua các bài thơ như: Tự tình, Bánh trôi nước, Thương vợ …

2. Thân bài

   Các ý chính cần đạt là:

* Cảm hứng về người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương và thơ Trần Tế Xương.

* Qua ba bài thơ, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa được thể hiện nổi bật những phẩm chất sau:

  – Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, gian nan, vất vả:

   + Ở bài Bánh trôi nước là thân phận trôi nổi lênh đênh của người phụ nữ. Họ không có quyền lựa chọn quyết định tình duyên, thậm chí là cuộc sống của mình. Đó là hình ảnh người phụ nữ mang dáng dấp của những người phụ nữ cam chịu, nhẫn nhục trong ca dao xưa.

   + Ở bài Thương vợ là hình ảnh người phụ nữ chịu thương chịu khó, lặn lội sớm khuya, vất vả quanh năm vì những gánh nặng cơm áo gạo tiền của gia đình.

   + Ở bài Tự tình là nỗi buồn về thân phận, về chuyện tình duyên, về hạnh phúc gia đình – những điều rất quan trọng và vô cùng có ý nghĩa đối với những người phụ nữ.

  – Người phụ nữ với nhiều phẩm chất tốt đẹp và khao khát yêu thương:

   + Trong hai bài thơ của Hồ Xuân Hương, hình ảnh người phụ nữ còn hiện lên nổi bật với niềm khao khát yêu thương và khao khát được yêu thương mạnh mẽ.

   + Ở bài Thương vợ, hình ảnh bà Tú nổi bật với vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống Việt Nam nhân hậu, đảm đang, giàu đức hi sinh, yêu chồng thương con hết mực.

3. Kết bài: Tổng kết và đánh giá vấn đề nghị luận. Nêu cảm nghĩ của bản thân.

Ví dụ: Ngày nay thân phận người phụ nữ đã chiếm một vị trí quan trọng trong gia đình. Bởi lẽ cái xã hội “Trọng nam khinh nữ” đã bị xóa bỏ mà thay vào đó là một xã hội “công bằng, bình đẳng, nam nữ bình quyền”. Nhưng không vì thế mà người phụ nữ Việt Nam làm mất đi vẻ thuần phong mỹ tục vốn có của mình. Và vẫn giữ được phẩm chất, vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Viêt Nam, đảm đang tháo vác.

Đề 3: Về nhân cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát (hoặc Bài ca ngất ngưởng).

Các ý chính cần triển khai là:

a. Về nhân cách nhà nho trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát.

– Vẻ đẹp nhân cách nhà nho trong bài thơ này chủ yếu được thể hiện ở tầm nhìn xa rộng của Cao Bá Quát.

– Tầm tư tưởng cao rộng của nhà thơ chính là ở chỗ đã nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ. Từ chuyện đi trên cát mà liên tưởng đến chuyện lợi danh, đến chốn quan trường là một sự liên tưởng sáng tạo mà lô-gíc. Người đi trên cát sa lầy vào trong cát chẳng khác nào cái mồi công danh, bổng lộc lôi kéo con người, làm cho con người mê muội.

– Nhìn thấy con đường danh lợi đầy nhọc nhằn, đầy chông gai, tuy chưa thể tìm ra một con đường đi nào khác, song Cao Bá Quát đã thấy không thể cứ đi trên bãi cát danh lợi đó mãi được.

b. Vẻ đẹp nhân cách nhà nho trong bài Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ.

– Vẻ đẹp nhân cách nhà nho trong thơ này chủ yếu được thể hiện ở thú chơi “ngông” của con người cậy tài, hiểu sâu sắc cái tài của mình.

– Trên cơ sở ý thức về tài năng và nhân cách bản thân, Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng đã phô trương sự ngang tàng, sự phá cách trong lối sống của ông, lối sống ít phù hợp với khuôn khổ của đạo Nho.

– Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng khi hành đạo (khi làm quan, thực hiện các chức phận, ông luôn tỏ ra thẳng thắn, thậm chí dám kiến nghị, góp ý cả cho vua). Có được phong cách ngạo nghễ như vậy vì ông có tài năng và tận tâm với sự nghiệp. Không hề luồn cúi để vinh thân phì gia. Trong đời thực, Nguyễn Công Chứ nhiều lần lập công trạng và là người có tài năng nhiều mặt mặc dù vậy ông vẫn phải chấp nhận một cuộc đời làm quan không mấy thuận lợi (ông bị thăng giáng thất thường).

– Sau khi từ quan, cách ông nghỉ và chơi cũng rất ngông, rất khác thường. Ông đeo mo vào đuôi bò nói là để “che miệng thế gian“, ông dẫn các cô gái trẻ lên chùa, ông đi hát ả đào và tự đánh giá cao các việc làm ấy. Ông có quyền ngất ngưởng vì ông về hưu trong danh dự, sau khi đã cống hiến rất nhiều cho đất nước. Theo ông, điều quan trọng nhất của nhà nho là hoạt động thực tiễn chứ không phải nếp sống uốn mình theo dư luận. Ông thích hát nói vì đó là môn nghệ thuật ông say mê từ nhỏ. Vì thế khi về hưu ông vẫn đi hát vì không muốn tỏ ra mình là một bậc phi phàm, khác đời như các thánh nhân.

 

Soạn bài “Viết bài làm văn số 2 Nghị luận văn học” số 2

A. KẾT QUẢ CẦN ĐẠT

1. Biết sử dụng các kĩ năng làm bài văn nghị luận

2. Viết được một bài văn nghị luận văn học về một tác phẩm đã học có sử dụng thao tác lập luận phân tích.

B. GỢI Ý CÁCH LÀM BÀI

Bài tập 1. Phân tích một số khía cạnh nội dung…, sau đó nêu lên cảm nghĩ riêng…
– Phân tích đề xác định yêu cầu của bài viết cảm nghĩ của chính bản thân về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh.

– Nên lưu ý từ: cảm nghĩ. Đây là từ liên quan đến thao tác lập luận phân tích và qua đó nêu cảm nghĩ của mình về đoạn trích trên các phương diện: tài năng của nhà văn trong việc tái hiện lại bức tranh hiện thực; thái độ đồng tình với tác giả về việc coi thường danh lợi…

– Lập dàn ý cho đề bài.

Bài tập 2. Cảm nhận của anh (chị) về phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam

– Phân tích đề, xác định yêu cầu của bài viết:

+ Nội dung: hình ảnh người phụ nữ qua các tác phẩm: Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) – Hồ Xuân Hương, Thương vợ – Trần Tế Xương).

+ Phương pháp làm bài: để bài không yêu cầu thao tác nghị luận cụ thể nhưng người viết cần lưu ý trọng tâm là cảm nghĩ của mình về hình ảnh người phụ nữ qua các tác phẩm: vẻ đẹp tâm hồn, lòng khao khát hạnh phúc…

– Lập dàn ý cho đề bài.

Bài tập 3. Phân tích những biểu hiện của nhân cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngắn đi trên cát…

– Phân tích đề, xác định yêu cầu của bài viết
Đề bài cũng không yêu cầu cụ thể về phương pháp nhưng trọng tâm ở đây là phán tích. Có thể chọn một trong hai bài: Bài ca ngắn đi trên hãi cát (Cao Bá Quát) hoặc Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ) để thấy được những biểu hiện của nhân cách nhà nho chân chính.

– Lập dàn ý cho đề bài trên.

Soạn bài “Viết bài làm văn số 2 Nghị luận văn học” số 3

A- Nhắc lại kiến thức lí thuyết

1. Đọc lại văn bản và bài học ở phần Văn học để nắm được giá trị nội dung, nghệ thuật của những tác phẩm (đoạn trích) đã học từ tuần 1 đến tuần 5 (từ bài Vào phủ chúa Trịnh đến Bài ca phong cảnh Hương Sơn).

2. Ôn lại các bài: Thao tác lập luận phân tích; Luyện tập thao tác lập luận phân tích.

3. Những yêu cầu cơ bản của một bài nghị luận văn học

– Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, ý đồ sáng tác của tác giả từ đó phân tích, làm sáng tỏ các tầng nội dung, ý nghĩa trong ngôn từ cũng như hình ảnh của văn bản.

– Bên cạnh việc phân tích, giảng giải, cần đưa ra những đánh giá, bình luận về các giá trị của tác phẩm, ý nghĩa của vấn đề, hay nhiều khi là các hình tượng, hình ảnh, lời hay ý đẹp trong tác phẩm.

– Bài văn cần có hệ thống luận điểm rõ ràng mạch lạc, những luận chứng, luận cứ cho luận điểm phải sinh động, dễ hiểu, đúng đắn, thuyết phục.

– Lời văn chuẩn xác, trong sáng, giọng văn hợp với vấn đề, với nội dung, ngôn từ diễn tả sát, đúng bản chất của đối tượng mà mình muốn hướng tới.

4. Các dạng đề nghị luận văn học

– Phân tích, cảm nhận về một bài thơ, đoạn thơ, một khía cạnh về nội dung hoặc nghệ thuật của bài thơ

– Nghị luận về một tình huống truyện

– Phân tích, cảm nhận về đoạn văn xuôi

– Phân tích, cảm nhận về  nhân vật hoặc chi tiết trong tác phẩm

– So sánh, đối chiếu: hai nhân vật, hai chi tiết, hai tư tưởng, hai đoạn thơ, hai bài thơ…

– Bình luận về một ý kiến bàn về văn học

– Nghị luận 2 vấn đề bàn về văn học

– Nghị luận về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học

5. Cách làm một bài nghị luận văn học

– Cần nắm vững nội dung kiến thức tác phẩm.

– Đọc kỹ đề, gạch chân dưới những từ ngữ quan trọng trong đề.

– Xác định đề thuộc dạng nào: chứng minh một nhận định hay phân tích một hình tượng, một đoạn thơ, một bài thơ… hay so sánh đối chiếu giữa các tác phẩm với nhau?

– Lập dàn ý chi tiết cho đề bài

+ Mở bài: Giới thiệu thông tin cơ bản về tác giả, tác phẩm và nêu vấn đề cần nghị luận.

+ Thân bài:

  • Tiền đề phân tích: hoàn cảnh, xuất xứ của tác phẩm, giải thích các khái niệm hoặc nhận xét được nêu ra trong đề bài.
  • Phân tích: Xác lập được các luận điểm chính rồi từ đó dựa vào các thao tác: chứng minh, bình luận, phân tích, cảm nhận… để làm rõ luận điểm.
  • Để làm nổi bật lên sự đặc sắc, độc đáo của tác phẩm mình đang phân tích thì người viết cần so sánh tác phẩm đó với những tác phẩm cùng loại.

+ Kết bài: Tổng kết lại toàn bộ vấn đề đã trình bày ở phần thân bài từ đó rút ra kết luận.

B- Hướng dẫn soạn bài Viết bài làm văn số 2 lớp 11

Cùng Đọc tài liệu tham khảo gợi ý cách làm một số đề bài được cho em nhé Đề 1: Cảm nghĩ của em về giá trị hiện thực trong đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” (Trích “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác)

Gợi ý dàn bài:

a) Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả và đoạn trích.

– Đưa ra nhận xét chung về giá trị hiện thực của đoạn trích

b) Thân bài          

– Bức tranh hiện thực sinh động về cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa:

+ Quang cảnh nơi phủ chúa hiện thực lên cực kì xa hoa, tráng lệ và không kém phần thâm nghiêm. Quang cảnh nói lên uy quyền tột bậc của nhà chú.

+ Cung cách sinh hoạt quyền quý đầy kiểu cách ở phủ chúa

+ Bức chân dung Trịnh Cán: vây quanh cậu bé bao nhiêu là vật dụng (gấm vóc lụa là, vàng, ngọc, sập, nến, đèn, hương hoa, màn trướng,…); người hầu hạ, cung tần, mĩ nữ đứng gần hoặc chực ở xa.

=> Bức tranh nơi phủ chúa: xa hoa lộng lẫy nhưng thiếu sinh khí

– Tâm trạng, suy nghĩ của tác giả khi vào phủ chữa bệnh cho Thế tử

– Thái độ và dự cảm của tác giả:

+ Thái độ coi thường danh lợi

+ Phê phán nhẹ nhàng mà thấm thía của tác giả

+ Đồng thời dự cảm được sự suy tàn đang tới gần của giai cấp thống trị Lê – Trịnh thế kỉ XVIII.

c) Kết bài:

– Khẳng định lại giá trị hiện thực mà tác giả nói lên trong đoạn trích.

– Ý kiến cá nhân

 Đề 2Qua các bài thơ Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và bài Thương vợ của Trần Tế Xương, anh (chị) hiểu những gì về người phụ nữ Việt Nam thời xưa.

Gợi ý cách làm:

a. Mở bài:

– Giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong văn học nói chung.

– Tiêu biểu nhất qua các bài thơ: Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và bài Thương vợ của Trần Tế Xương

b. Thân bài            

* Cảm hứng về người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương và thơ Trần Tế Xương nói chung

– Đây là đề tài quen thuộc trong văn học Việt Nam

– Hoàn cảnh sáng tác các bài thơ này

– Khái quát nội dung của từng bài

* Qua ba bài thơ, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa được thể hiện nổi bật những phẩm chất sau:

– Những phẩm chất tốt đẹp và khao khát yêu thương:

+ Trong hai bài thơ của Hồ Xuân Hương: hình ảnh người phụ nữ đẹp “vừa trắng lại vừa tròn” và luôn giữ “tấm lòng son”; nổi bật với niềm khao khát yêu thương và khao khát được yêu thương mạnh mẽ.

+ Ở bài Thương vợ, hình ảnh bà Tú nổi bật với vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống Việt Nam nhân hậu, đảm đang, giàu đức hi sinh, yêu chồng thương con hết mực.

– Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, gian nan, vất vả:

+ “Bánh trôi nước”: thân phận trôi nổi lênh đênh của người phụ nữ, không có quyền lựa chọn quyết định tình duyên, cuộc sống của mình

=> Đó là hình ảnh người phụ nữ mang dáng dấp của những người phụ nữ cam chịu, nhẫn nhục trong ca dao xưa.

+ “Thương vợ” là hình ảnh người phụ nữ chịu thương chịu khó, lặn lội sớm khuya, vất vả quanh năm vì những gánh nặng cơm áo gạo tiền của gia đình.

+ Bài “Tự tình II” là nỗi buồn về thân phận, về chuyện tình duyên, về hạnh phúc gia đình, những điều rất quan trọng và vô cùng có ý nghĩa đối với những người phụ nữ.

=> Những người phụ xưa đều chịu nhiều thiệt thòi, đắng cay và sự cam chịu

=> Họ đại diện cho vẻ đẹp cho nhân cách, tâm hồn của những người phụ nữ Việt Nam xưa.

c. Kết bài:

– Tổng kết chung nhất về những người phụ nữ qua các tác phẩm đó

– Nêu cảm nghĩ của bản thân.

 Đề 3: Nhân cách nhà nho chân chính trong “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” (hoặc “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ).

Dàn ý tham khảo:

a. Mở bài:

– giới thiệu tác giả, tác phẩm

– khái quan nhân cách nhà nho chân chính

b. Thân bài:

– Tầm nhìn xa rộng của Cao Bá Quát.

– Tầm tư tưởng cao rộng của nhà thơ:

+ Nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ.

+ Phân tích hình ảnh người đi trên bãi cát: Đi một bước như luì một bước: nỗi vất vả khó nhọc; Không gian đường xa, bị bao vây bởi núi sông, biển; Thời gian: mặt trời lặn vẫn còn điNước mắt rơi → khó nhọc, gian truân.

=> Từ chuyện đi trên cát mà liên tưởng đến chuyện lợi danh, đến chốn quan trường là một sự liên tưởng sáng tạo mà lô-gíc. Người đi trên cát sa lầy vào trong cát chẳng khác nào cái mồi công danh, bổng lộc lôi kéo con người, làm cho con người mê muội.

– Thực tế: những trăn trở của người đi trên cát: hiện tâm trạng băn khoăn, dây dứt giữa việc đi tiếp hay dừng lại?; “Anh đứng làm chi trên bãi cát?..” câu hỏi mệnh lệnh cho bản thân -> phải thoát ra khỏi bãi cát danh lợi đầy nhọc nhằn chông gai mà vô nghĩa.

=> Nhìn thấy con đường danh lợi đầy nhọc nhằn, đầy chông gai, tuy chưa thể tìm ra một con đường đi nào khác, song Cao Bá Quát đã thấy không thể cứ đi trên bãi cát danh lợi đó mãi được.

– Vẻ đẹp nhân cách nhà nho trong:

+ Nguyễn Công Trứ phô trương sự ngang tàng, sự phá cách trong lối sống của ông, lối sống ít phù hợp với khuôn khổ của đạo Nho.

+ Khi làm quan, thực hiện các chức phận, ông luôn tỏ ra thẳng thắn, thậm chí dám kiến nghị, góp ý cả cho vua). => Phong cách ngạo nghễ như vậy vì ông có tài năng và tận tâm với sự nghiệp. Không hề luồn cúi để vinh thân phì gia.

+ Sau khi từ quan, cách ông nghỉ và chơi cũng rất ngông, rất khác thường. => Ông có quyền ngất ngưởng vì ông về hưu trong danh dự, sau khi đã cống hiến rất nhiều cho đất nước

c) Kết bài

Khẳng định lại vấn đề.

Văn mẫu tham khảo:

—TỔNG KẾT—

  • Trong bài văn nghị luận văn học, người viết thường sử dụng kết hợp nhiều thao tác, kĩ năng bởi khó mà có thể tách bạch một cách rạch ròi từng thao tác một.

  • Để làm được một bài nghị luận văn học hay, người viết ngoài việc phải có các yếu tố cơ bản như kiến thức, năng lực cảm thụ còn cần có kỹ năng kết hợp đồng thời, linh hoạt các phép lập luận để làm sáng tỏ và trình bày vấn đề một cách thuyết phục, hấp dẫn.

 

Soạn bài “Viết bài làm văn số 2 Nghị luận văn học” số 4

Đề 1: Cảm nghĩ của anh chị về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác).

Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận (khẳng định đoạn trích mang giá trị hiện thực sâu sắc).

Thân bài:

Luận điểm 1: Trình bày khái niệm giá trị hiện thực của một tác phẩm văn học.

Luận điểm 2: Biểu hiện của giá trị hiện thực trong đoạn trích

+ Đoạn trích đã phô bày bức tranh cuộc sống xa hoa quá mức nơi phủ Chúa.

– Khung cảnh, bài trí trong phủ Chúa.

– Cung cách sinh hoạt nơi đây.

+ Đoạn trích còn đào sâu cho người đọc nhận ra bản chất của cuộc sống xa hoa giàu có ấy.

– Nơi ở của thế tử.

– Căn bệnh của thế tử.

+ Nghệ thuật khắc họa : tự sự kết hợp miêu tả chi tiết, giọng văn lạnh lùng, không bình luận, cảm thán.

Luận điểm 3: Ý nghĩa, giá trị

+ Phản ánh thực tại xã hội phong kiến thời bấy giờ.

+ Thể hiện thái độ, cách đánh giá, phẩm chất tốt đẹp của tác giả.

Kết bài: Khẳng định lại vấn đề (Văn học luôn phản ánh những bức tranh đời sống,…)

Đề 2: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương.

Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận (Đề tài người phụ nữ là đề tài mà không nhiều các tác giả văn học trung đại nói đến; Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa đã được khắc họa rõ nét qua các bài thơ nói trên).

Thân bài:

Luận điểm 1: Số phận người phụ nữ Việt Nam xưa.

+ Số phận nhiều vất vả, cơ cực, nhiều lo toan, bươn chải (Thương vợ).

+ Số phận hẩm hiu, dở dang (Tự tình II).

+ Số phận long đong, chìm nổi, không có quyền tự định đoạt cuộc sống của mình (Bánh trôi nước).

Luận điểm 2: Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa.

+ Khẳng định: dù số phận nhiều cay đắng nhưng họ vẫn giữ những phẩm chất đẹp đẽ.

+ Đức hi sinh, sự tần tảo.

+ Khao khát yêu thương, khao khát hạnh phúc chính đáng.

+ Thanh cao, son sắt, không bị cay đắng cuộc đời làm vấy bẩn tâm hồn.

Kết bài: Khẳng định vấn đề (Mỗi nhà thơ, mỗi bài thơ có một cách thể hiện nhưng đều bày tỏ thái độ trân trọng, ngợi ca; Khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo của hai tác giả).

Đề 3: Nhân cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát (hoặc bài ca ngất ngưởng) của Nguyễn Công Trứ.

Mở bài: Giới thiệu vấn đề (Thơ ca trung đại luôn đề cập tới hình ảnh những nhà nho, khẳng định nhân cách cao đẹp ở họ , điều này được thể hiện trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát).

Thân bài:

Luận điểm 1: Nhà nho nhận ra được sự tù túng, bế tắc của con đường danh lợi tầm thường.

– Hình ảnh bãi cát dài.

– Hình ảnh người khách bộ hành đầy bế tắc, u uất, đau khổ.

Luận điểm 2: Nhà nho thể hiện thái độ chán ghét, khinh thường, xem nhẹ danh lợi và hành động chạy theo công danh phù phiếm.

Kết bài: Khẳng định vấn đề (Tài năng và tư tưởng của Cao Bá Quát – một nhà nho chân chính).

 

Soạn bài “Viết bài làm văn số 2 Nghị luận văn học” số 5

Đề 1 ( trang 53 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Cảm nghĩ của anh (chị) về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác).

Lời giải chi tiết:

Dàn ý

I. Mở bài

–  Giới thiệu về tác giả Lê Hữu Trác và đoạn trích tiêu biểu Vào phủ chúa Trịnh

–  Khái quát giá trị hiện thực đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

II. Thân bài

1. Giá trị hiện thực là gì?

– Hiện thực: Sự thật đời sống

– Giá trị hiện thực trong tác phẩm văn học: sự phản ánh hiện thực đời sống một cách chân thực, rõ nét, tạo nên ý nghĩa cho tác phẩm.

–  Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh là đoạn trích mang giá trị hiện thực rõ nét bởi Thượng kinh kí sự được viết theo thể kí với đặc điểm ghi chép câu chuyện, sự kiện có thật tương đối hoàn chỉnh mà tác giả trực tiếp chứng kiến.

2. Giá trị hiện thực được biểu hiện trong đoạn trích

a. Phản ánh bức tranh hiện thực về quang cảnh nơi phủ chúa

–  Vào phủ phải trải qua nhiều cửa gác, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau

+ Vườn hoa: “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”

+ Khuôn viên: có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền lệnh

– Trong phủ:

+ Những nhà: “Đại đường”, “Quyền bổng”, “Gác tía” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy.

+ Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là mâm vàng, chén bạc.

– Nội cung thế tử:

+ Phải qua năm sáu lần trướng gấm

+ Trong phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn là che ngang sân, “xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”

=> Quang cảnh nơi phủ chúa vô cùng sa hoa, giàu sang và thâm nghiêm, đây là quang cảnh thường thấy trong lịch sử bởi vua chúa là những người đứng đầu cai trị đất nước

b. Phản ánh hiện thực cuộc sống sinh hoạt nơi phủ chúa

Cuộc sống sinh hoạt nơi phủ chúa với rất nhiều những nhiều lễ nghi, khuôn phép, đầy quyền uy, sa hoa nhưng thiếu sinh khí cũng được tác giả phản ánh chân thực:

– Phủ chúa là nơi sa hoa, thâm nghiêm và cũng là nơi đầy uy quyền: Tiếng quát tháo, truyền lệnh, quy tắc lễ nghi được thực hiện nghiêm ngặt:

+ Khi tác giả được cáng vào phủ: “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường và cáng chạy như ngựa lồng”, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc qua lại như mắc cửi”

+ Khi xem bệnh không được thấy mặt thế tử, chỉ làm theo mệnh lệnh do quan chánh đường truyền tới, trước khi vào xem bệnh cho thế tử phải lạy bốn lạy, muốn xem thân hình của thế tử phải có viên quan nội thần đến xin phép

+ Lắm kẻ hầu người hạ: Chúa Trịnh luôn có phi tần hầu chầu chực xung quanh, thế tử bị bệnh có đến 7, 8 thầy thuốc phục dịch và lúc nào cũng có mấy người đứng hầu hai bên.

– Phủ chúa là nơi thiếu sinh khí:

+ Sự thâm nghiêm kiểu mê cung làm tăng ám khí, lối sống cung cấm khiến con người: Tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi, gân thòi xanh, chân tay gầy gò…”, “Thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”

+ Phản ánh sự thật vị chúa nhỏ Trịnh Cán sống trong sự sa hoa nhưng điều cơ bản nhất lại thiếu, đó là sức sống

=>Cuộc sống sinh hoạt nơi phủ chúa được tác giả khắc họa chân thực phù hợp với cung cách sinh hoạt của vua chúa thời kì bấy giờ, đồng thời cho thấy được uy quyền và sự lộng hành của chúa Trịnh lấn át cả cung vua.

=> Phản ánh sự lộng hành của chúa Trịnh.

3. Nét nghệ thuật thể hiện thành công giá trị hiện thực của đoạn trích

– Thể kí: ghi chép sự thật

– Ghi chép tỉ mỉ, chi tiết, chân thực sự việc

– Kết hợp ghi chép sự việc một cách chính xác với bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc

III. Kết bài

Đề 2 (trang 53 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nướcTự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương.

Lời giải chi tiết:

1. Mở bài: Giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong văn học nói chung.

Ví dụ: Trong kho tàng văn học Việt Nam có rất nhiều bài thơ nói lên thân phận của người phụ nữ phong kiến xưa. Họ phải chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến “Tam tòng, tứ đức” ( tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử và công dung ngôn hạnh). Họ hầu như không có quyền quyết định cuộc đời mình, chỉ biết sống cam chịu và phục tùng. Cảm thông với số phận, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ xưa, hai nhà thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương đã thay họ nói lên tiếng lòng mình qua các bài thơ như: Tự tình, Bánh trôi nước, Thương vợ …

2. Thân bài

* Cảm hứng về người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương và thơ Trần Tế Xương.

* Qua ba bài thơ, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa được thể hiện nổi bật những phẩm chất sau:

– Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, gian nan, vất vả:

+ Ở bài Bánh trôi nước là thân phận trôi nổi lênh đênh của người phụ nữ. Họ không có quyền lựa chọn quyết định tình duyên, thậm chí là cuộc sống của mình. Đó là hình ảnh người phụ nữ mang dáng dấp của những người phụ nữ cam chịu, nhẫn nhục trong ca dao xưa.

+ Ở bài Thương vợ là hình ảnh người phụ nữ chịu thương chịu khó, lặn lội sớm khuya, vất vả quanh năm vì những gánh nặng cơm áo gạo tiền của gia đình.

+ Ở bài Tự tình là nỗi buồn về thân phận, về chuyện tình duyên, về hạnh phúc gia đình – những điều rất quan trọng và vô cùng có ý nghĩa đối với những người phụ nữ.

– Người phụ nữ với nhiều phẩm chất tốt đẹp và khao khát yêu thương:

+ Trong hai bài thơ của Hồ Xuân Hương, hình ảnh người phụ nữ còn hiện lên nổi bật với niềm khao khát yêu thương và khao khát được yêu thương mạnh mẽ.

+ Ở bài Thương vợ, hình ảnh bà Tú nổi bật với vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống Việt Nam nhân hậu, đảm đang, giàu đức hi sinh, yêu chồng thương con hết mực.

3. Kết bài: Tổng kết và đánh giá vấn đề nghị luận. Nêu cảm nghĩ của bản thân.

Ví dụ: Ngày nay thân phận người phụ nữ đã chiếm một vị trí quan trọng trong gia đình. Bởi lẽ cái xã hội “Trọng nam khinh nữ” đã bị xóa bỏ mà thay vào đó là một xã hội “công bằng, bình đẳng, nam nữ bình quyền”. Nhưng không vì thế mà người phụ nữ Việt Nam làm mất đi vẻ thuần phong mỹ tục vốn có của mình. Và vẫn giữ được phẩm chất, vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, đảm đang tháo vác.

Đề 3 (trang 53 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Nhân cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát (hoặc Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ)

Lời giải chi tiết:

Dàn ý

1. Nhân cách nhà nho chân chính của Cao Bá Quát trong bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát

a. Giới thiệu khái quát về Cao Bá Quát

– Một nhà nho tài năng và bản lĩnh, thể hiện nhân cách một nhà nho chân chính.

b. Những nét chung về nhân cách một nhà nho chân chính

– Tư tưởng hành đạo, nhập thể tích cực để trị nước, giúp đời.

– Xem thường bổng lộc, danh hoa phú quý.

– Trong mọi hoàn cảnh đều giữ được khí tiết của một nhà nho.

c. Nhân cách nhà nho chân chính trong “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”

a. Chọn con đường hành đạo của người trí thức xưa: học hành- khoa cử- làm quan để giúp đời.

b. Nhận thức được thực tế xã hội: nhà Nguyễn đang đi vào giai đoạn suy sụp với sự bảo thủ, lạc hậu, trì trệ.

c. Cái nhìn mới về con đường khoa cử- danh lợi:

– Con đường danh lợi là “cùng đồ”.

– Hình ảnh lữ khách đi trên bãi cát: Bãi cát tượng trưng cho đường đời gian nan; sự bế tắc của con đường tiến thân mà Cao Bá Quát đang đi.

– Thấy được tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử.

– Ý thức phải thoát khỏi cơn say danh lợi.

d. Niềm khát khao được thay đổi cuộc sống.

– Trăn trở tìm một lối thoát trong hoàn cảnh bế tắc: “tính sao đây?”, “Còn đứng làm chi trên bãi cát?”.

e. Khẳng định vẻ đẹp nhân cách của nhà nho chân chính Cao Bá Quát.

2. Nhân cách nhà nho chân chính của Nguyễn Công Trứ trong bài Bài ca ngất ngưởng

a. Làm rõ vấn đề “nhân cách nhà nho chân chính”

– Nhân cách: phẩm cách, phẩm đức, phẩm hạnh con người

– Nhà nho chân chính: Nhà nho sống với những nguyên tắc, chuẩn mực, của bản thân, không làm trái với lương tâm, dám khẳng định tài năng và bản lĩnh của mình

b. Nhà nho chân chính là người dám thể hiện bản lĩnh, đem tài năng cống hiến chốn quan trường

– Sự xuất hiện của nhà nho với tài năng, bản lĩnh và cá tính phóng khoáng

+ “ Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: thái độ tự tin khẳng định mọi việc trong trời đất đều là phận sự của tác giả ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai của nhà thơ.

+ “Ông Hi Văn…vào lồng”: Coi nhập thế là việc làm trói buộc nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng của nhà nho chân chính

– Tác giả điểm lại việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình ⇒ Những việc làm mà nhà nho chân chính nên làm, cần làm

+ Tài năng: Giỏi văn chương (khi thủ khoa), Tài dùng binh (thao lược) ⇒ Tài năng lỗi lạc xuất chúng

+ Khoe danh vị, xã hội hơn người: Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

=> Khẳng định tài năng và lí tưởng phóng khoáng của một nhà nho với tài năng xuất chúng

c. Nhà nho chân chính còn là người có phong cách lối sống tự nhiên, ung dung tự tại

– Nhà nho chân chính theo Nguyễn Công Trứ có cách sống theo ý chí và sở thích cá nhân

+ Cưỡi bò đeo đạc ngựa.

+ Đi chùa có gót tiên theo sau.

+ Bụt cũng nực cười: thể hiện hành động của tác giả là những hành động khác thường (lưu ý nhân cách nhà nho chân chính ở đây được chứng minh theo quan điểm nhà nho của Nguyễn Công Trứ)

=> Cá tính người nghệ sĩ mong muốn sống theo cách riêng

– Nhà nho với triết lí tự nhiên , ung dung tự tại, lấy tận hưởng lạc thú làm lẽ tồn tại

+ “ Được mất … ngọn đông phong”: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, không quan tâm đến chuyện khen chê được mất của thế gian

+ “Khi ca… khi tùng” : tạo cảm giác cuộc sống phong phú, thú vị, từ “khi” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên .

+ “ Không …tục”: Khẳng định lối sống riêng độc nhất của bản thân mình

=> Nhà nho chân chính theo Nguyễn Công Trứ là con người thoát mình khỏi những tư tưởng phong kiến siêu hình, bảo thủ

d. Nhà nho chân chính theo quan niệm của Nguyễn Công Trứ còn là người mang trong mình đạo lí trung quân

+ “ Chẳng trái Nhạc.. Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung”: Sử dụng điển cố , ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật…

=> Khẳng định bản lĩnh, khẳng định tài năng sánh ngang bậc danh tướng. Tự khẳng định mình là bề tôi trung thành.

+ “Trong triều ai ngất ngưởng như ông”: vừa hỏi vừa khẳng định vị trí đầu triều về cách sống “ngất ngưởng”

=> Nhà nho chân chính không phải là người khuôn mình vào những quy tắc, nguyên tắc bảo thủ lạc hậu mà là sống chân chính với tài năng và quan niệm của mình

Nguồn:Tổng Hợp