Hướng dẫn soạn bài “Tổng kết phần tiếng Việt: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” ngắn gọn nhất

Hướng dẫn soạn bài “Tổng kết phần tiếng Việt: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” ngắn gọn, xúc tích và tiết nhất giúp các em nâng cao năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ ở cả hai quá trình: tạo lập và lĩnh hội văn bản.Hệ thống hoá được những kiến thức cơ bản về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ đã học trong  trong chương trình ngữ văn từ lớp 10 đến lớp 12.

Soạn bài “Tổng kết phần tiếng Việt: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” số 1

I. Hệ thống hóa lại kiến thức

1. Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con người và được tiến hành chủ yếu bằng hai phương tiện ngôn ngữ. Hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình: tạo lập văn bản và lĩnh hội văn bản.

2. Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ được sử dụng ở hai dạng: nói và viết.

3. Hoạt động giao tiếp ngôn ngữ luôn diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định

4. Trong ngữ cảnh, nhân vật giao tiếp là nhân tố rất quan trọng. Các nhân tố giao tiếp đều phải có cả năng lực tạo lập và năng lực lĩnh hội văn bản.

5. Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sử dụng ngôn ngữ chung của xã hội để tạo ra lời nói – những sản phẩm cụ thể của cá nhân.

6. Trong hoạt động giao tiếp, mỗi câu thường có hai thành phần nghĩa: nghĩa sự việc và nghĩa tình thái.

7.Trong hoạt động giao tiếp, các nhân vật giao tiếp cần có ý thức, thói quen và kĩ năng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

 

Luyện tập

Câu 1 (trang 181 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

   Trong đoạn trích trên, sự đổi vai luân phiên lượt lời liên tục diễn ra giữa hai nhân vật lão Hạc và ông giáo. Khi lão Hạc đóng vai người nói thì ông giáo đóng vai người nghe và ngược lại.

   Những đặc điểm của giao tiếp ở dạng ngôn ngữ nói thể hiện qua những chi tiết:

   – Cuộc giao tiếp có ngữ cảnh cụ thể: ở nhà ông giáo, sau khi lão Hạc bán chó.

   – Đoạn trích rất đa dạng về ngữ điệu:

       + Lão Hạc: ban đầu lão Hạc nói với giọng thông báo, tiếp đến là giọng than thở, đau khổ, có lúc nghẹn lời, cuối cùng là giọng đầy chua chát.

       + Ông giáo: lúc đầu ông giáo hỏi lão Hạc với giọn điệu ngạc nhiên, sau là giọng vỗ về an ủi, cuối cùng là giọng bùi ngùi.

   – Từ ngữ dùng trong đoạn trích khá đa dạng nhất là những từ mang tính khẩu ngữ, những từ đưa đẩy, chêm xen.

Câu 2 (trang 181 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

   – Hai nhân vật giao tiếp là những người láng giềng nên có quan hệ thân cận. Về tuổi tác thì lão Hạc ở vị thế trên, nhưng về nghề nghiệp và thành phần xã hội thì ông giáo lại ở vị thế cao hơn. Do vậy, hai người luôn nể trọng nhau.

   – Sự chi phối của những điều đó đến nội dung và cách thức nói trong lượt lời đầu tiên của lão Hạc:

       + Dù hơn tuổi nhân vật ông giáo nhưng để bày tỏ tình cảm quý mến, sự trân trọng đối với nhân vật này, lão Hạc gọi nhân vật này bằng “ông’ – “ông giáo”.

       + Sự thân mật, gần gũi được thể hiện qua việc khi bán chó xong, lão Hạc chạy sang nhà ông giáo để “báo ngay”.

Câu 3 (trang 181 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

   Câu có hai thành phần nghĩa:

   – Nghĩa sự việc: Con chó biết việc nó bị hại.

   – Nghĩa tình thái: lão Hạc bộc lộ sự xót thương và ân hận của lão Hạc khi thấy con chó lâm vào cảnh khốn cùng (gọi con chó là “cu cậu”, lời nói nghẹn ngào như một tiếng khóc).

Câu 4 (trang 181 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

   Sự khác biệt giữa hai hoạt động giao tiếp được thể hiện:

   – Hoạt động giao tiếp giữa hai nhân vật ông giáo và lão Hạc là ở dạng nói và nói trực tiếp. Do vậy, sự luân phiên lượt lời có thể liên tục diễn ra, hoạt động giao tiếp diễn ra theo cả hai chiều.

   – Hoạt động giữa Nam Cao và người đọc là ở dạng viết – đọc và là giao tiếp gián tiếp. Đây là sự giao tiếp một chiều: chỉ có người đọc đọc được những tư tưởng, tình cảm của nhà văn.

 .

Soạn bài “Tổng kết phần tiếng Việt: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” số 2

Câu 1 (trang 181 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

– Tham khảo sơ đồ biểu diễn sự đổi vai và luân phiên lượt lời trong hoạt động giao tiếp giữa lão Hạc và ông giáo.

Lão Hạc (nói)

Ông giáo (nói)

– Cậu vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!

– Cụ bán rồi?

 

– Bán rồi! Họ vừa bắt xong.

– Thế nó cho bắt à?

– Khốn nạn… Nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó.

– Cụ cứ tưởng thế… để cho nó làm kiếp khác.

– Ông giáo nói phải. Như kiếp tôi chẳng hạn

– Kiếp ai cũng thế thôi… Hơn chăng?

– Thế thì ..kiếp gì cho thật sung sướng

 

=>Trong đoạn trích trên, sự đổi vai luân phiên lượt lời liên tục diễn ra giữa hai nhân vật lão Hạc và ông giáo. Khi lão Hạc đóng vai người nói thì ông giáo đóng vai người nghe và ngược lại.

– Những chi tiết thể hiện đặc điểm hoạt động giao tiếp ở dạng ngôn ngữ nói:

+ Cuộc giao tiếp có ngữ cảnh cụ thể: ở nhà ông giáo, sau khi lão Hạc bán chó.

+ Hai nhân vật lão Hạc và ông giáo luôn phiên đổi vai lượt lời.

+ Đoạn trích rất đa dạng về ngữ điệu.

+ Nhân vật giao tiếp còn sử dụng các phương tiện hỗ trợ

+ Từ ngữ dùng trong đoạn trích khá đa dạng, nhất là những từ mang tính khẩu ngữ, những từ đưa đẩy, chêm xen.

+ Về câu, một mặt đoạn trích dùng những câu tỉnh lược. Mặt khác nhiều câu lại có yếu tố dư thừa, trùng lặp.

Câu 2 (trang 181 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Các nhân vật giao tiếp có vị thế xã hội, quan hệ thân sơ và những đặc điểm riêng biệt phân phối đến nội dung và cách thức giao tiếp:

– Ông giáo là người có học thức nếu xét về học vấn, có vị thế xã hội cao hơn lão Hạc; nhưng lão Hạc lại có tuổi tác lớn hơn.

– Quan hệ giữa ông giáo và lão Hạc là quan hệ hàng xóm, láng giềng. Lão Hạc có việc gì cũng tâm sự, hỏi ý kiến ông giáo.

=> Hai người luôn nể trọng nhau.

– Sự chi phối của những điều đó đến nội dung và cách thức nói trong lượt lời đầu tiên của lão Hạc:

+ Dù hơn tuổi nhân vật ông giáo nhưng để bày tỏ tình cảm quý mến, sự trân trọng đối với nhân vật này, lão Hạc gọi nhân vật này bằng “ông’ – “ông giáo”.

+ Sự thân mật, gần gũi được thể hiện qua việc khi bán chó xong, lão Hạc chạy sang nhà ông giáo để “báo ngay”.

 
Câu 3 (trang 181 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

– Nghĩa sự việc: thông báo việc con chó biêt nó chết (cu cậu mới biết là cu cậu chết!). Việc con chó biết nó chết là một bất ngờ.

– Nghĩa tình thái:

+ Người nói rất yêu quý con chó (gọi nó là “cu cậu” – cái cách người ta vẫn gọi con cái rất thân mật).

+ Sự đau xót, dằn vặt của lão Hạc về cái chết của con chó. Bởi vậy, lời nói nghẹn ngào như một tiếng khóc.

Câu 4 (trang 181 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

– Hoạt động giao tiếp ở dạng nói giữa hai nhân vật là hoạt động giao tiếp trực tiếp có sự luân phiên đối vai lượt lời, có sự hỗ trợ bởi ngữ điệu, cử chỉ, ánh mắt…

– Hoạt động giao tiếp giữa nhà văn Nam Cao và bạn đọc là hoạt động giao tiếp gián tiếp (dạng viết).

 

Soạn bài “Tổng kết phần tiếng Việt: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” số 3

I. NỘI DUNG CƠ BẢN

1. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là gì?

– Là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã hội.

– Chủ yếu được tiến hành bằng ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết.

– Nhằm mục đích tác động đến nhận thức, tình cảm, hành động.

2. Các nhân tố chi phối hoạt động giao tiếp

– Nhân vật giao tiếp

– Hoàn cảnh giao tiếp

– Nội dung giao tiếp

– Mục đích giao tiếp

– Phương tiện và cách thức giao tiếp

3. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ được thực hiện ra sao?

– Người nói (viết) tạo lập văn bản

– Người nghe (đọc) lĩnh hội văn bản

– Hai quá trình này diễn ra trong quan hệ tương tác

4. Trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ được sử dụng ở hai dạng: nói và viết.

5. Ngữ eảnh là bổì cảnh ngôn ngữ, ở đó người nói (người viết) sản sinh ra lời nói thích ứng; còn người nghe (người đọc) căn cứ vào đó để lĩnh hội được đúng lời nói.

Ngữ cảnh bao gồm:

– Nhân vật giaọ tiếp

– Bối cảnh ngôn ngữ rộng và hẹp

– Văn cảnh

Ngữ cảnh có vai trò quan trọng cả với quá trình tạo lập và quá trình lĩnh hội.

6. Nhân vật giao tiếp (người nói, người viết, người nghe, người đọc) với những vị thế và quan hệ xã hội, những đặc điểm về cá tính, nghề nghiệp, lứa tuổi, trình độ, quan hệ thần sơ của họ đối với nhau… luôn chi phối nội dung và hình thức lời nói của họ với nhau.

7. Khi giao tiếp các nhân vật giao tiếp sử dụng ngôn ngữ chung của xã hội để tạo ra lời nói, những sản phẩm cụ thể của cá nhân.

8. Trong hoạt động giao tiếp mỗi câu thường có hai thành phần nghĩa: nghĩa sự việc và nghĩa tình thái.

9. Trong hoạt động giao tiếp, các nhân vật giao tiếp cần có ý thức thói quen và kĩ năng giữ gìn sự trong sáng của Tiếng việt.

II. LUYỆN TẬP

Bài tập 1

Trong đoạn trích từ truyện Lão Hạc của Nam Cao có hai nhân vật giao tiếp: một là Lão Hạc, hai là nhân vật xưng tôi. Hai nhân vật này lần lượt đổi vai cho nhau nghĩa là lần lượt đóng vai người nói, người nghe. Ngôn ngữ nói của họ thế hiện qua nhiều mặt: nói phối hợp với cử chỉ điệu bộ (cười như mếu, mặt lão đột nliiên co rúm lại…) sử dụng nhiều từ ngữ thuộc ngôn ngữ nói (đi đời rồi – chết, khốn nạn, có biế gì đâu, cu cậu…), các lượt lời của họ. giao tiếp kế tiếp nhau…

Bài tập 2

Lão Hạc và nhân vật xưng tôi vốn là hàng xóm lân cận nhau nên có quan hệ thân gần. Xét về tuổi tác thì lão Hạc nhiều tuổi hơn nên ở vị thế trên. Nhưng nếu xét về nghề nghiệp và thành phần xã hội, theo cách suy nghĩ thời bấy giờ thì ông giáo có vị thế cao hơn. Nhìn chung, hai người này luôn luôn nể trọng nhau. Lời gọi và cách xưng hộ ông giáo ạ của lão Hạc với nhân xứng tôi (ông giáo) đã thể hiện sự kính trọng của lão với người láng giềng. Hơn nữa việc thông tin về một sự việc rất đời thường: bán con chó đã cho thấy họ có thân tình với nhau.

Bài tập 3

Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết có hai thành phần nghĩa:

– Nghĩa sự việc: con chó biết việc nó bị giết hại.

– Nghĩa tình thái: lão Hạc biểu lộ lòng xót thương con vật yêu quí khi nó bị lâm vào cảnh khốn cùng (lão gọi con chó là “cu cậu” và xem nó cũng có cảm giác như thể con người).

Bài tập 4

Trong đoạn trích có hoạt động giao tiếp ở dạng nói giữa hai nhân vật, đồng thời khi người đọc đọc đoạn trích (hoặc cả truyện Lão Hạc) lại có một hoạt động giao tiếp nữa giữa nhà văn Nam Cao với người đọc.

Sự khác biệt giữa hai hoạt động giao tiếp này là:

– Giao tiếp đầu ở dạng ngôn ngữ nói, hai người đổi vai, giao tiếp trực diện có sự hỗ trợ của cử chỉ, điệu bộ, nét mặt ngữ điệu.

– Giao tiếp sau thông qua văn bản viết, có sự cách biệt về thời gian và sự cách trở không gian giữa nhà văn người đọc không có sự phụ trợ của ngữ điệu nhưng lại có sự hỗ trợ của dấu câu.

 

Soạn bài “Tổng kết phần tiếng Việt: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” số 4

A/ Nội dung cơ bản cần nắm vững:

I/ Hoạt động giao tiếp: Các nhân tố và các quá trình của hoạt động giao tiếp:

1/ HĐGT là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, tình cảm, hành động.

2/ Các quá trình của HĐGT bằng NN:

– Quá trình tạo lập văn bản: do người nói hay người viết thực hiện.

– Quá trình lĩnh hội văn bản: do người nghe hay người đọc thực hiện.

– Hai quá trình này diễn ra trong quan hệ tương tác với nhau.

II/ Dạng nói và dạng viết trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ:

– Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ được sử dụng ở 2 dạng nói và viết.

– Khác biệt:

+ Điều kiện tạo lập và lĩnh hội văn bản:

Dạng nói: trực tiếp

Dạng viết: trực tiếp hoặc gián tiếp

+ Kênh giao tiếp:

Dạng nói: ngôn ngữ nói

Dạng viết: chữ viết

+ Phương tiện phụ trợ:

Dạng nói: ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ…

Dạng viết: dấu câu, kí hiệu văn tự…

+ Dùng từ đặt câu và tổ chức văn bản:

Dạng nói: từ khẩu ngữ, câu tỉnh lược…

Dạng viết: từ chọn lọc, câu rõ ràng và các thành phần.

III/ Ngữ cảnh trong giao tiếp ngôn ngữ:

1/ Ngữ cảnh: là bối cảnh ngôn ngữ, làm cơ sở cho việc sử dụng NN và tạo lập VB đthời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo VB

2/ Các nhân tố của ngữ cảnh:

– Nvật gtiếp: người nói, người nghe

– Bối cảnh giao tiếp:

+ bối cảnh giao tiếp rộng

+ bối cảnh giao tiếp hẹp

+ hiện thực được nói tới

– Văn cảnh

IV/ Nhân vật giao tiếp:

Tổng kết phần tiếng Việt: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

1/ Các NVGT đều có khả năng tạo lập và lĩnh hội VB. Trong gtiếp ở dạng nói họ thường đổi vai cho nhau hay luân phiên trả lời với nhau.

2/ Các NVGT tiếp có vtrí thế ngang hàng hoặc cách biệt, xa lạ hay thân tình. Nhữg đặc điểm đó cùng với nhưng đặc điểm riêng biệt khác của từng người (lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp…) luôn chi phối lời nói của họ về ND lẫn HT ngôn ngữ.

V/ Ngôn ngữ chung của xã hội và lời nói cá nhân của nh vật trong giao tiếp:

Ngôn ngữ là tải sản chung, là phương tiện giao tiếp chung của cả cộng đồng xã hội, lời nói cá nhân là sản phẩm được cá nhân tạo ra trên cơ sở vận dụng các yếu tố ngôn ngữ chung và tuân thủ các quy tắc chung.

VI/ Hai thành phần nghĩa của câu trong hoạt động giao tiếp:

– Nghĩa SV: ứng với sự việc đề cập đến.

– Nghĩa tình thái: thể hiện thái độ, tình cảm, sự nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với sự việc hoặc người nghe.

VII/ Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt khi giao tiếp:

Trong giao tiếp, các nhân vật giao tiếp cần có ý thức, kĩ năng, thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt: nắm vững các chuẩn mực ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ đúng chuẩn mực, vận dụng linh hoạt, sáng tạo ngôn ngữ theo quy tắc chung. Ngoài ra cần phải đề cao phẩm chất văn hóa, lsự trong gtiếp ngôn ngữ, tránh những biểu hiện thô tục làm vẩn đục ngôn ngữ.

B/ Luyện tập:

1/ B1: Đ.trích có 2 NVGT: L.Hạc và “tôi”

– Hai người lần lượt đóng vai người nói, người nghe và chuyển đổi vai cho nhau.

– Ngôn ngữ nói của 2 nhân vật thể hiện qua nhiều phương diện:

+ nói phối hợp với cử chỉ, điệu bộ (cười như mếu, mặt lão đột nhiên co rúm lại…)

+ dùng nhiều thuật ngữ thuộc ngôn ngữ nói: đi đời rồi, khốn nạn, có biết gì đâu…

+  lượt trả lời của các nvật kế tiếp nhau.

2/ B2:   Hai NVGT là những người láng giềng nên có quan hệ thân cận.

Về tuổi tác thì LHạc ở vị thế trên, về nghề nghiệp và thành phần xh theo qniệm lúc đó thì ông giáo có vị thế cao hơn.

-> Hai người luôn nể trọng nhau

Ngay ở lượt đầu tiên, Lão Hạc đã thể hiện sự kính trọng nhưng thân tình đối với người nghe qua lời gọi và cách xưng hô: ông giáo ạ, và sự thân mật khi thông tin về một sự việc đời thường trong cuộc sống: bán con chó.

Tổng kết phần tiếng Việt: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

 

Soạn bài “Tổng kết phần tiếng Việt: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” số 5

1. Giao tiếp là gì?

Giao tiếp là hoạt động trao đổi bằng thông tin của con người, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ, nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức hành động, tình cảm.

2. Thế nào là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ?

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động bao gồm 2 quá trình: quá trình tạo lập văn bản do người nói hay người viết thực hiện, quá trình lĩnh hội văn bản do người nghe hay người đọc thực hiện. Hai quá trình này có thế diễn ra đồng thời tại cùng một địa điểm (hội thoại), cũng có thể ở các thời điểm và khoảng không gian cách biệt (qua bài viết).

3. Phân biệt sự khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ được sử dụng ở 2 dạng nói và viết. Hai dạng đó có sự khác biệt:

–  Về điều kiện đế tạo lập và lĩnh hội văn bản

–  Về đường kênh giao tiếp

–  Về loại tín hiệu (âm thanh hay chữ viết).

–   Về các phương tiện phụ trợ (ngữ điệu, nét mặt, dử chỉ, điệu bộ đối với ngôn ngữ nói và dấu câu, các kí hiệu văn tự, mô hình bảng biểu đối với ngôn ngữ viết)

–  Về cách dùng từ, đặt câu và tổ chức văn bản.

4. Thế nào là ngữ cảnh? Ngữ cảnh bao gồm những nhân tố nào?

Hoạt động giao tiếp luôn diễn ra trong ngữ cảnh nhất định.

–  Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc sử dụng ngôn ngữ và tạo lập văn bản đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo văn bản.

–   Ngữ cảnh bao gồm các nhân tố: nhân vật giao tiếp, bối cảnh rộng (bối cảnh văn hóa), bối cảnh hẹp (bối cảnh tình huống, hiện thực được đề cập đến và văn cảnh).

5. Nhân vật giao tiếp có vai trò và đặc điểm gì?

–   Nhân vật giao tiếp là nhân tố quan trọng nhất trong ngữ cảnh. Các nhân vật giao tiếp đều phải có năng lực tạo lập và năng lực lĩnh hội văn bản. Trong giao tiếp ở dạng nói, họ thường đổi vai cho nhau hay luân phiên lượt lời.

–   Các nhân vật giao tiếp có những đặc điểm và phương diện: vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, vốn sống, văn hóa. Những đặc điểm đó luôn chi phối nội dung và cách thức giao tiếp bằng ngôn ngữ.

6. Tại sao nói ngôn ngữ là tài sản chung của xã hội và lời nói là sản phẩm của cá nhân?

Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sử dụng ngôn ngữ chung của xã hội để tạo ra lời nói – những sản phẩm cụ thể của cá nhân. Trong hoạt động đó, các nhân vật giao tiếp vừa sử dụng những yếu tố của hệ thống ngôn ngữ chung và tuân thủ theo qui tắc, chuẩn mực chung, đồng thời biểu lộ những nét riêng trong năng lực ngôn ngữ của cá nhân. Cá nhân sử dụng tài sản chung đồng thời làm giàu thêm cho tài sản ấy

7. Thế nào là nghĩa của câu? Câu có mấy thành phần nghĩa? Là những thành phần nào? Đặc điểm của mỗi thành phần?

Trong hoạt động giao tiếp, mỗi câu đều có nghĩa.

–  Nghĩa của câu là nội dung mà câu diễn đạt.

–   Mỗi câu thường có hai thành phần nghĩa: Nghĩa sự việc và nghĩa tình thái, nghĩa sự việc ứng với sự việc mà câu đề cập đến, nghĩa tình thái thể hiện thái độ, tình cảm, sự nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với sự việc hoặc đối với người nghe.

8. Làm thế nào để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt?

Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, các nhân vật giao tiếp cần có ý thức, thói quen và kĩ năng giữ gìn trong sáng của tiếng Việt:

–   Mỗi cá nhân cần nắm vững các chuẩn mực ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ đúng chuẩn mực.

–  Vận dụng linh hoạt, sáng tạo ngôn ngữ theo các phương thức chung.

Khi cần thiết có thể tiếp nhận những yếu tố tích cực của các ngôn ngữ khác, tuy nhiên cần chống lạm dụng tiếng nước ngoài.

LUYỆN TẬP

1. Đọc đoạn trích truyện ngắn Lão Hạc (SGK, trang 180). Phân tích sự đổi vai và luân phiên lượt lời của hoạt động giao tiếp trong đoạn trích. Những đặc điểm của hoạt động giao tiếp ở dạng ngôn ngữ nói thể hiện qua những chi tiết nào? (lời nhân vật và lời tác giả).

– Tham khảo sơ đồ biểu diễn sự đổi vai và luân phiên lượt lời trong hoạt động giao tiếp giữa lão Hạc và ông giáo

Lão Hạc (nói)

Ông giáo (nói)

 

– Cậu vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!

– Cụ bán rồi?

– Bán rồi! Họ vừa bắt xong

Khốn nạn… Nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó

– Ông giáo nói phải. Như kiếp tôi chẳng hạn

– Thế thì ..kiếp gì cho thật sung sướng

– Thế nó cho bắt à?

– Cụ cứ tưởng thế… để cho nó làm kiếp khác

– Kiếp ai cũng thế thôi… Hơn chăng

 

–    Những chi tiết thể hiện đặc điểm hoạt động giao tiếp ở dạng ngôn ngữ nói:

+ Hai nhân vật lão Hạc và ông giáo luôn phiên đổi vai lượt lời. Lão Hạc là người nói trước và kết thúc sau nên số lượng nói của lão là 5. Còn số lượng nói của ông giáo là 4. Vì tức thời nên có lúc ông giáo chưa biết nói gì, chi “hỏi cho cho có chuyện” (Thế nó cho bắt à?)

+ Đoạn trích rất đa dạng về ngữ điệu: ban đầu lão Hạc nói với giọng thông báo (Cậu vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!) tiếp đến là giọng than thở, đau khổ, có lúc ngẹn lời (Khốn nạn…. Ông giáo ơi!) cuối cùng thì giọng đầy chua chát (thì ra tôi già bằng này… một con chó). Lúc đầu, ông giáo hỏi với giọng ngạc nhiên (Cụ bán rồi?) tiếp theo là giọng vỗ về an ủi và cuôì cùng là giọng bùi ngùi

+ Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói ở đoạn trích trên, nhân vật giao tiếp còn sử dụng các phương tiện hỗ trợ, nhất là nhân vật lão Hạc:Lão “cười như mếu”, “mặt lão đột nhiên co rúm lại”, “những nếp nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra”…

+ Từ ngữ dùng trong đoạn trích khá đa dạng, nhất là những từ mang tính khẩu ngữ, những từ đưa đẩy, chêm xen (Đi đời rồi, à, ừ, khốn nạn, chả hiểu gì đâu, thì ra…).

+ Về câu, một mặt đoạn trích dùng những câu tỉnh lược (Bán rồi! Khốn nạn… Ông giáo ơi). Mặt khác nhiều câu lại có yếu tố dư thừa, trùng lặp (Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Thì ra tôi bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó…)

2. Các nhân vật giao tiếp có vị thế xã hội, quan hệ thân sơ và những đặc điểm gì riêng biệt? Phân tích sự chi phối của những điều đó đến nội dung và cách thức nói trong lượt lời nói đầu tiên của Lão Hạc.

Các nhân vật giao tiếp có vị thế xã hội, quan hệ thân sơ và những đặc điểm riêng biệt phân phối đến nội dung và cách thức giao tiếp:

–   Lão Hạc là một lão nông nghèo khổ, cô đơn, vợ chết, anh con trai bỏ đi làm ăn xa. Lão Hạc chỉ có “Cậu vàng” là “người thân” duy nhất.

Ông giáo là một trí thức nghèo sống ở nông thôn. Hoàn cảnh của ông giáo cũng hết sức bi đát.

Quan hệ giữa ông giáo và lão Hạc là quan hệ hàng xóm, láng giềng. Lão Hạc có việc gì cũng tâm sự, hỏi ý kiến ông giáo.

–   Những điều nói trên chi phối đến nội dung và cách thức nói của nhân vật. Trong đoạn trích, ở lời thoại thứ nhất của lão Hạc ta thấy rất rõ:

 + Nội dung của lời thoại: Lão Hạc thông báo với ông giáo về việc bán “Cậu Vàng”.

+ Cách thức nói của lão Hạc: “nói ngay”, nói ngắn gọn, thông báo trước rồi mới hô gọi (Ông giáo ạ!) .

+ Sắc thái lời nói: đối với sự việc (bán con chó, lão Hạc vừa buồn vừa đau (gọi con chó là “Cậu Vàng”, coi việc bán là giết nó: “đi đời rồi”). Đối với ông giáo, lão Hạc tỏ ra rất kính trọng vì mặc dù ông giáo ít tuổi hơn nhưng có vị thế hơn, hiểu biết hơn (gọi là “ông” và đệm từ “ạ” ở cuối).

3. Phân tích nghĩa sự việc và nghĩa tình thái trong câu: “Bây giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết!”

–  Nghĩa sự việc: thông báo việc con chó biêt nó chết (cu cậu mới biết là cu cậu chết!. Việc con chó biết nó chết là một bất ngờ.

–  Nghĩa tình thái:

+ Người nói rất yêu quý con chó (gọi nó là “cu cậu”).

+ Sự đau xót, dằn vặt của lão Hạc về cái chết của con chó. Bởi vậy, lời nói nghẹn ngào như một tiếng khóc.

4. Trong đoạn trích có hoạt động giao tiếp ở dạng nói giữa hai nhân vật đồng thời khi người đọc đọc đoạn trích lại có một hoạt động giao tiếp nữa giữa họ và nhà văn Nam Cao. Hãy chỉ ra sự khác biệt giữa hai hoạt động giao tiếp đó.

Trong đoạn trích có hoạt động giao tiếp ở dạng nói giữa hai nhân vật, đồng thời khi người đọc đọc đoạn trích lại có một hoạt động giao tiếp nữa, đó là giữa người đọc và nhà văn Nam Cao. Điều đó thể hiện:

+ Hoạt động giao tiếp ở dạng nói giữa hai nhân vật là hoạt động giao tiếp trực tiếp có sự luân phiên đối vai lượt lời, có sự hỗ trợ bởi ngữ điệu, cử chỉ, ánh mắt… Có gì chưa biết, chưa hiểu, hai nhân vật có thể trao đổi qua lại.

+ Hoạt động giao tiếp giữa nhà văn Nam Cao và bạn đọc là hoạt động giao tiếp gián tiếp (dạng viết). Nhà văn tạo lập văn bản ở thời điểm và không gian cách biệt với người đọc. Vì vậy, có những điều nhà văn muốn thông báo gửi gắm không được người đọc lĩnh hội hết. Ngược lại, có những điều người đọc lĩnh hội nằm ngoài ý định tạo lập của nhà văn.

 

Nguồn: Tổng Hợp