Hướng dẫn soạn bài “Ôn tập phần văn học (Kì 2)” văn học 11 ngắn gọn

Qua phần soạn bài giúp các em nắm được những nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của một số tác phẩm văn học trung đại và hiện đại tiêu biểu.

Soạn bài “Ôn tập phần văn học (Kì 2)” số 1

Câu 1 (trang 116 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Các bình diện Thơ trung đại Thơ mới
Nội dung cảm hứng Thể hiện “cái ta”, đề cao tính cộng đồng, xã hội. Đề cao “cái tôi” một cách tuyệt đối.
Cảm hứng chủ đạo Nói chí, tỏ lòng, bày tỏ lòng yêu nước… Nỗi buồn, cô đơn, thất vọng của cái tôi cá nhân trước thực tại và tương lai của người trí thức trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, tự do.
Hình thức nghệ thuật

Viết bằng chữ Hán, chữ nôm

Sử dụng thể thơ truyền thống: Đường luật, song thất lục bát…

Luật lệ chặt chẽ, gò bó, diễn đạt ước lệ, sử dụng nhiều điển tích, điển cố

Tính quy phạm nghiêm ngặt.

Viết bằng chữ Quốc ngữ.

Thể thơ kết hợp truyền thống và hiện đại: thơ tám chữ, thơ bốn chữ, thơ tự do…

Luật lệ đơn giản, phóng khoáng.

Phá vỡ tính quy phạm.

Câu 2 (trang 116 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Tác phẩm Nội dung cơ bản Cảm hứng chủ đạo
Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu) Lí tưởng của trang nam nhi chủ động xoay chuyển trời đất. Không phụ thuộc vào hoàn cảnh cuộc sống.

Cái tôi hào hoa, phóng túng, khẳng định tài năng văn chương.

Khao khát được thể hiện mình giữa cuộc đời.

Hầu trời (Tản Đà) Xây dựng hình tượng kì vĩ, hào hùng. Thể thơ thất ngôn trường thiên tự do, giọng điệu tự nhiên, ngôn ngữ chọn lọc, cảm xúc bộc lộ tự nhiên, phóng khoáng.

* Tính chất giao thời về nghệ thuật của hai tác phẩm Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu và Hầu trời của Tản Đà:

Lưu biệt khi xuất dương:

   – Dấu ấn cũ:

       + Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.

       + Viết bằng chữ Hán.

   – Nét mới: Phê phán lối học khoa cử của Nho Giáo mạnh mẽ, tư tưởng đổi mới của nhà Nho phong kiến.

Hầu trời:

   – Dấu ấn cũ: Thể thơ thất ngôn trường thiên tự do nhưng vẫn mang dấu ấn của thơ truyền thống, cách dùng từ, diễn đạt, xây dựng hình ảnh vẫn mang dấu ấn văn học trung đại.

Nét mới:

       + Chữ Quốc ngữ, cảm xúc bộc lộ tự nhiên, phóng khoáng.

       + Cái tôi buồn chán, thoát li.

Câu 3 (trang 116 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Quá trình hiện đại hóa thơ ca thời kì đầu thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 qua các bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, Hầu trời của Tản Đà, Vội vàng của Xuân Diệu:

* Giai đoạn thứ nhất từ đầu thế kỉ XX – 1920: Thi pháp trung đại, tư tưởng đổi mới.

   – Được thể hiện qua bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu: quan điểm mới về “chí làm trai” nhưng vẫn mang dấu ấn của văn học truyền thống (viết bằng chữ Hán, thể thơ thất ngôn bát cú đường luật).

* Giai đoạn thứ hai: từ năm 1920 – 1930:

   – Thi pháp trung đại có nhiều yếu tố đổi mới, ngôn ngữ hiện đại, nhưng những yếu tố của thi pháp văn học trung đại vẫn còn tồn tại khá phổ biến.

   – Hầu trời của Tản Đà được thể hiện rất rõ các tính chất nói trên. Bài thơ với ngôn ngữ hiện đại, “cái tôi” ngông của nhà Nho tài tử, chán đời.

→ Bài thơ có thể xem như là gạch nối giữa hai thời đại văn học dân tộc.

* Giai đoạn thứ ba: từ năm 1930 – 1945:

   – Nền văn học nước nhà hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi phương diện.

   – Bài thơ Vội vàng:

       + Sử dụng thi pháp, ngôn ngữ hiện đại.

       + Thể hiện tiếng nói của cái tôi ham sống, khao khát với đời, quan niệm mới mẻ về lẽ sống.

       + “Cái tôi” cá nhân, buồn bơ vơ trước cuộc đời.

Câu 4 (trang 116 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Tác phẩm Nội dung cơ bản Đặc sắc nghệ thuật
Vội vàng (Xuân Diệu) Bài thơ là lời giục giã mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt. Sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch xúc và mạch luân lí, giọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ.
Tràng giang (Huy Cận) Bài thơ bộc lộ nỗi sầu của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín thiết tha. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và hiện đại. Thể thơ thất ngôn với ngôn ngữ giản dị, trong sáng.
Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) Bài thơ vẽ nên một bức tranh đẹp về một miền quê, đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người. Hình ảnh biểu hiện nội tâm kết hợp với bút pháp gợi tả, ngôn ngữ giàu hình ảnh, liên tưởng.
Tương tư (Nguyễn Bính) Bài thơ thể hiện nỗi nhớ thương da diết về một tình yêu đơn phương của chàng trai. Lối ví von, so sánh mộc mạc, duyên dáng, mang phong vị dân gian.
Chiều xuân (Anh Thơ) Bài thơ là một bức tranh mùa xuân yên ả, thanh bình cùng nhịp sống khoan thai nơi đồng quê của tác giả – tiêu biểu cho cảnh xuân nơi đồng quê của miền Bắc nước ta. Bài thơ với bút pháp tả cảnh, kết hợp với việc sử dụng từ láy.

Câu 5 (trang 116 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Tác phẩm Nội dung tư tưởng Đặc sắc nghệ thuật
Chiều tối (Hồ Chí Minh) Bài thơ cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ – chiến sĩ Hồ Chí Minh. Bài thơ đậm sắc thái nghệ thuật cổ điển mà hiện đại. Ngôn ngữ linh hoạt và sáng tạo.
Lai tân (Hồ Chí Minh) Bài thơ cho thấy hiện trạng đen tối, thối nát của xã hội Trung Quốc thời bấy giờ. Cấu tứ đầy bất ngờ, sáng tạo.
Từ ấy (Tố Hữu) Bài thơ là lời tâm nguyện của người thanh niên yêu nước giác ngộ lí tưởng cách mạng. Sự vận động tâm trạng của nhà thơ được thể hiện qua việc sử dụng hình ảnh thơ tươi sáng kết hợp với các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhạc điệu
Nhớ đồng (Tố Hữu) Bài thơ là niềm yêu quý thiết tha và nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với quê hương cùng niềm khát khao tự do, giác ngộ lí tưởng cách mạng. Bài thơ dùng nhiều hình ảnh ẩn dụ, nhiều biện pháp điệp, ngôn từ trong sáng, thiết tha, lôi cuốn.

Câu 6 (trang 116 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Cái hay, cái đẹp, sức hấp dẫn của bài thơ Tôi yêu em của Pu- skin:

* Nội dung:

   – Tôi yêu em là một trong những bài thơ tình nổi tiếng của Pu – skin. Bài thơ cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn của Pu – skin.

   – Bài thơ thể hiện những tình cảm chân thành, cao thượng, nhân ái của tình yêu chứa đựng trong những lời lẽ giản dị, trong sáng nhất. Mặc dù bài thơ thấm đượm nỗi buồn của một mối tình vô vọng nhưng là nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đương chân thành, mãnh liệt, nhân hậu, vị tha.

* Nghệ thuật: cách sử dụng từ ngữ điêu luyện, ngôn từ giản dị. trong sáng. Bài thơ giàu cảm xúc nhưng lại thể hiện một cách đầy lắng đọng, suy tư. Điệp khúc Tôi yêu em là cảm xúc chủ đạo của bài thơ kết hợp với cách ngắt nhịp linh hoạt, sáng tạo.

Câu 7 (trang 116 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Hình tượng nhân vật Bê – li – cốp trong truyện ngắn Người trong bao của Sê – khốp:

* Chân dung:

   – Bộ mặt: giấu trong cổ áo bành tô bẻ cao, mắt đeo kính râm.

   – Trang phục: luôn mặc áo màu đen, đi giầy cao su, mặc áo bông chần, đeo kính râm.

   – Đồ dùng: cái ô, đồng hồ quả quýt, chiếc dao nhỏ để gọt bút chì… đều được để trong bao.

=> Chân dung kì quái, lập dị, được che chắn, bao bọc trong hình thức một cái bao, không dám đối mặt với thực tế, “trốn tránh cuộc sống thực”.

* Tính cách Bê – li – cốp:

   – Nhút nhát, ngại giao tiếp “thu mình vào trong vỏ, tạo cho mình một thứ bao có thể ngăn mình khỏi những ảnh hưởng từ bên ngoài”.

   – Ý nghĩ cũng giấu vào trong bao, không bao giờ dám có ý kiến về một vấn đề nào.

   – Trốn tránh hiện tại, ca ngợi quá khứ – ngợi ca tiếng Hi Lạp cổ.

   – Bảo thủ, giáo điều, sùng bái cấp trên và những chỉ thị thông tư một cách máy móc, rập khuôn.

   – Luôn cô độc, lo lắng sợ hãi.

       + Ở nhà luôn đóng cửa, cài then, buồng ngủ chật như một cái hộp, khi ngủ kéo chăn trùm đầu kín mít.

       + Câu nói cửa miệng: “nhỡ lại xảy ra chuyện gì”.

→ Là một người cô độc, lạc lõng, sợ hãi, thích sống dập khuôn như một cái máy vô hồn và luôn thỏa mãn, hài lòng với cuộc sống của mình.

   – Lối sống của Bê – li – cốp dã ảnh hưởng đến tinh thần và hoạt động của mọi người: mọi người đều sợ hắn, cả thầy hiệu trưởng cũng sợ…, cả thành phố sợ hắn.

=> Bê – li – cốp đại diện cho những chỉ thị, thông tư, điển hình cho một kiếp người, một hiện tượng xã hội đã và đang tồn tại trong cuộc sống của một bộ phận tri thức Nga cuối thế kỉ XIX.

Câu 8 (trang 116 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Hình tượng nhân vật Giăng Van- giăng trong đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền của Huy – gô:

* Tính cách của Giăng Van – giăng qua đoạn trích:

   – Muốn cứu người bị bắt oan, Giăng Van – giăng tự thú.

    – Sẵn sàng bị bắt.

   – Cố gắng kéo dài thời gian để tìm con cho Phăng – tin

* Giăng Van – giăng con người đối lập với cái ác:

   – Giọng nói:

       + Với Gia – ve: tế nhị, nhẹ nhàng nhưng đầy uy quyền.

       + Với Phăng – tin: nhã nhặn, điềm tĩnh, quan tâm.

   – Hành động:

       + Đối với Gia – ve: biết rõ mục đích của Gia – ve → cúi đầu cầu xin → tức giận, cầm lấy thanh sắt trừng trừng nhìn Gia – ve.

       + Đối với Phăng – tin: quan tâm, ân cần, lo lắng.

=> Mục đích: Giăng Van – giăng cố gắng giữ bí mật chuyện chưa tìm được Cô – dét cho Phăng – tin, lo lắng Phăng – tin bị sốc nếu biết tin.

* Giăng Van – giăng qua sự miêu tả gián tiếp:

   – Lời cầu cứu của Phăng – tin.

   – Cảnh bà xơ Xem – pli – xơ chứng kiến cái chết của Phăng – tin: “lúc Giăng Van – giăng thì thầm bên tai Phăng – tin bà trông thất rõ ràng một nụ cười không sao tả được hiện trên đôi môi nhợt nhạt và đôi mắt xa xăm, đầy ngỡ ngàng của chị khi đi vào cõi chết”.

=> Giăng Van – giăng có sức mạnh của một đấng cứu thế, cứu rỗi những con người khốn khổ.

 

Soạn bài “Ôn tập phần văn học (Kì 2)” số 2

Bài 1 (Trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 2)

 
  Thơ trung đại Thơ mới
Nội dung

– Bày tỏ nỗi lòng, chí khí, tinh thần trung quân, ái quốc

– Nặng tính giáo điều, giáo huấn

– Thể hiện tình yêu thiên nhiên con người, diễn tả tâm trạng con người cá nhân

– Không tránh khỏi những nỗi buồn cô đơn, bơ vơ giữa cuộc đời, không gian vô tận

Hình thức

– Tính quy phạm, niêm luật

– Hình ảnh có tính ước lệ tượng trưng, khuôn sáo, công thức

– Tự do (số tiếng, số dòng, vần, nhịp…) ngôn ngữ gần với lời nói cá nhân

– Hình ảnh đời thường, sinh động, đa dạng

Câu 2 (Trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Những đặc điểm cơ bản về nghệ thuật của bài Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu) và Hầu trời (Tản Đà)

Lưu biệt khi xuất dương: Thể thơ Đường luật (Thất ngôn bát cú đường luật), sử dụng hình ảnh có tính ước lệ, tượng trưng diễn tả chí khí nam nhi kiên cường.

   + Nét mới: có chất lãng mạn, hào hùng xuất phát từ nhiệt huyết cách mạng sôi nổi của nhà cách mạng Phan Bội Châu.

   + Bài Hầu trời: Lối thơ cổ, từ ngữ, hình ảnh, cách diễn đạt vẫn mang dấu ấn văn học trung đại.

   + Cách tân: thể thơ tự do, thể hiện cái tôi cá nhân, ý thức được tài năng, khẳng định mình giữa cuộc đời.

Tính chất giao thời (văn học trung đại và hiện đại): văn học hiện đại vẫn mang dấu ấn của văn học trung đại về mặt hình ảnh, từ ngữ, lối diễn đạt nhưng cũng có những nét mới như dám đưa cái tôi cá nhân vào thơ để bày tỏ khát vọng, mục đích sống.

Câu 3 (Trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Qúa trình hiện đại hóa thơ ca từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám

– Giai đoạn đầu ( từ đầu TK XX đến khoảng 1920) chủ yếu thơ ca của chí sĩ cách mạng (Phan Bội Châu), mặt nghệ thuật vẫn ảnh hưởng từ văn học trung đại.

   + Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu vẫn mang hình thức văn học trung đại nhưng nội dung được đổi mới khi nói về lẽ sống mới, quan niệm mới về chí làm trai

– Giai đoạn thứ hai ( 1920 -1930) công cuộc hiện đại hóa văn học đạt thành tựu đáng nghi nhận. Văn học giai đoạn này đổi mới, có tính hiện đại, yếu tố thi pháp trung đại vẫn tồn tại, phổ biến

   + Hầu trời thể hiện cái tôi cá nhân tự do, phóng túng, phảng phất cái ngông của nhà Nho tài tử.

– Giai đoạn 3 (khoảng 1930- 1945) văn học hoàn tất quá trình hiện đại hóa, với nhiều cuộc cách trên sâu sắc trên mọi thể loại. Đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính…thể hiện cái tôi cá nhân được giải phóng khỏi hệ thống ước lệ thơ ca trung đại, trực tiếp quan sát thế giới, lòng mình bằng con mắt của cá nhân.

Câu 4 (trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 2):

  Nội dung tư tưởng Đặc sắc nghệ thuật
Vội vàng Lời giục giã hãy sống mãnh liệt, hết mình những năm tháng tuổi trẻ sống hết mình, cuồng nhiệt

Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc, lý luận

– Giọng điệu say mê, hình ảnh, ngôn từ độc đáo

Tràng giang Nỗi sầu nhân thế, nỗi buồn, nỗi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, thấm đượm tình người – Sử dụng hình ảnh ước lệ tượng trưng
Đây thôn Vỹ Dạ Bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của con người tha thiết với cuộc đời, tình yêu Hình ảnh đẹp thể hiện nội tâm, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng
Tương tư

Trái tim bồi hồi, nhớ mong của người đang yêu.

Vẻ đẹp chân thực của tình yêu đậm chất chân quê, dung dị

– Hình ảnh, ngôn từ, cách ví von, giọng điệu phong thơ trữ tình dân gian

Câu 5 (trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Chiều tối ( Hồ Chí Minh):

   + Tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ chiến sĩ

   + Bài thơ tứ tuyệt vừa cổ điển vừa hiện đại

Lai tân (HCM):

   + Thể hiện thái độ châm biếm, mỉa mai trước cảnh thái bình giả tạo đang diễn ra dưới chế độ Tưởng Giới Thạch

   + bài thơ thất ngôn tứ tuyệt dùng từ, sử dụng hình ảnh đối lập làm nổi bật

Từ ấy (Tố Hữu)

   + Lời tâm nguyện chân thành, tha thiết của người thanh niên tiểu tư sản yêu nước được giác ngộ lý tưởng cách mạng

   + Hình ảnh thơ tươi sáng, biện pháp tu từ, ngôn ngữ giàu nhạc điệu

Nhớ đồng

   + Nỗi lòng tha thiết của người chiến sĩ cách mạng muốn được vượt thoát khỏi nhà tù và nỗi nhớ thể hiện tình yêu với quê hương, đất nước.

   + Hình ảnh thân thuộc, gần gũi, thể thơ bảy chữ tự do

Câu 6 (trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Cái hay, cái đẹp, cái hấp dẫn của bài Tôi yêu em (Puskin):

– Về nội dung: Tình yêu là chủ đề vĩnh cửu trong thơ ca, trong thơ của Puskin, tình yêu có sức hấp dẫn, lay động riêng bởi tác giả diễn tả được những cung bậc cảm xúc sâu xa, phức tạp khó nắm bắt được của tình yêu

Vẻ đẹp bài thơ nằm ở sự chân thành, cao thượng của con người

– Nghệ thuật: Đặc điểm nghệ thuật nổi bật của bài thơ nằm ở cách sử dụng từ ngữ điêu luyện, ngôn ngữ giản dị, trong sáng

   + Bài thơ thể hiện được những suy tư, lắng đọng. Các chi tiết sống động, cụ thể, nhịp thơ được Puskin triệt để phát huy sức mạnh, mang lại thơ nhiều âm điệu về cảm xúc

Câu 7 (trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Hình tượng nhân vật Bê-li-cốp trong truyện ngắn Người trong bao:

– Người trong bao cả trong sinh hoạt và trong tư tưởng

   + Trong sinh hoạt: Bê-li-cốp mang ô, kính râm, áo bành tô dựng cổ lên, đi ủng, buồng ngủ chật như hộp, cửa đóng kín mít, kéo chăn kín đầu…

   + Trong tư tưởng: làm theo chỉ thị, mệnh lệnh, hài lòng, thỏa mãn với lối sống cổ lỗ, kì quái của mình.

– “Cái bao” chụp lên mọi hành động, suy nghĩ Bê-li-cốp cho thấy nhân vật nhỏ bé, yếu đuối, thảm hại

   + Bê-li-cốp đắm chìm trong quá khứ, Bê-li-cốp không hiểu mọi người xung quanh, không hiểu xã hội, cuộc sống đương thời

→ Một kẻ hèn nhát, cô độc, máy móc, giáo điều, thu mình trong bao để yên tâm, hạnh phúc, mãn nguyện trong đó

– Điều đáng lo sợ là lối sống và con người Bê-li-cốp ảnh hưởng mạnh mẽ, dai dẳng đến lối sống, tinh thần của anh chị em trong trường nơi y làm việc

– Khi Bê-li-cốp chết tính cách và lối sống ấy vẫn tiếp tục tồn tại dai dẳng

→ Hình tượng Bê-li-cốp tượng trưng cho một kiểu người, một hiện tượng xã hội tồn tại trong xã hội Nga cuối thế kỉ XIX

Câu 8 (trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Hình tượng nhân vật Giăng Van- giăng:

– Đoạn trích, Giăng Van- giăng trước hết hiện lên qua ngòi bút miêu tả trực tiếp của nhà văn

   + Giăng Van-giăng nói chuyện nhẹ nhàng, điềm tĩnh, khi thì thầm hạ giọng

   + Đối lập với Gia ve hung hãn, sừng sổ, gầm gào như ác thú

– Giăng Van- giăng được miêu tả gián tiếp qua lời cầu cứu của Phăng tin:

   + Trong mắt Phăng tin ông như vị cứu tinh, người anh hùng

   + Hiện lên rất đẹp qua cảnh tượng mà bà xơ chứng kiến “ Giăng Van- giăng thì thầm bên tai Phăng- tin, bà trông thấy rõ một nụ cười không sao tả được hiện lên trên đôi môi nhợt nhạt, đôi mắt xa xăm đầy ngỡ ngàng của chị khi đi vào cõi chết”

– Lời nói, hành động, ý nghĩ Giăng Van giăng chứa đựng vẻ đẹp phi thường, lãng mạn

– Giăng Van- giăng vượt trên cả cái ác, cường quyền, để bênh vực kẻ yếu

→ Trước cường quyền lúc ông nhún nhường, lúc cương nghị, quyết liệt khiến cái ác phải lùi bước. Với người yếu thế ông che chở, bao bọc, gieo tình yêu thương và niềm tin cho họ.

 

Soạn bài “Ôn tập phần văn học (Kì 2)” số 3

âu 1 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Thơ mới khác với thơ trung đại về cả nội dung và hình thức:

Các bình diện

Thơ trung đại Việt Nam

Thơ mới Việt Nam

Nội dung cảm hứng

Thời đại chữ ta nặng tính cộng đồng, xã hội, xem nhẹ tính cá nhân. Thơ trung đại chủ yếu bày tỏ nỗi lòng, chí khí đối với vua, với nước, nặng tính chất giáo huấn.

Thời đại chữ tôi, coi trọng cá nhân, tách biệt với  cộng đồng, xã hội.

 

Cách cảm nhận thiên nhiên, con người, cuộc sống

Cảm nhận bằng con mắt già cỗi, công thức, ước lệ, khuôn sáo

Cảm nhận bằng cặp mắt trẻ trung, xanh non, yêu đời

Cảm hứng chủ đạo

Cảm hứng phò vua giúp nước, tỏ lòng, lúc sục sôi, lúc buồn rầu, bất đắc chí.

Nỗi buồn, tuyệt vọng của cái tôi – cá nhân trước hiện thực đau thương vì mất độc lập chủ quyền của nước nhà

Nghệ thuật

– Chứ Hán, chữ Nôm

– Thể thơ truyền thống: Đường luật, cổ phong, lục bát, song thất lục bát.

– Niêm luật chặt chẽ, diễn đạt ước lệ, nhiều điển tích điển cố.

– Tính qui phạm nghiêm ngặt

– Chữ quốc ngữ.

– Thể thơ kết hợp truyền thống và hiện đại

– Luật lệ đơn giản, diễn  đạt phóng khoáng, tự do, gần gũi với ngôn ngữ hàng ngày.

– Phá bỏ tính qui phạm.

 

Câu 2 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Lưu biệt khi xuất dương– Phan Bội Châu:

+ Nội dung:

– Bài thơ chứa đựng nội dung tư tưởng lớn lao: có ý chí làm trai, có khát vọng xoay chuyển thời thế, có ý thức cá nhân, có trách nhiệm cao cả… Có giá trị giáo dục to lớn đối với thanh niên nhiều thế hệ .

+ Nghệ thuật

– Thể thơ thất ngôn bát cú luật bằng truyền đạt trọn vẹn hoài bão, khát vọng của con người có chí lớn Phan Bội Châu.

– Ngôn ngữ thơ bình dị mà có sức lay động mạnh mẽ…

+ Tính giao thời:

– Cũ: Bài thơ được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật; mang đề tài “lưu biệt” – một đề tài quen thuộc trong thơ cổ trung đại thể thơ Đường luật; hình ảnh ước lệ…

+ Nét mới: chất lãng mạn hào hùng toát ra từ nhiệt huyết cách mạng sôi nổi của nhà cách mạng Phan Bội Châu.

Hầu trời -Tản Đà.

+ Nội dung:

Thể hiện bản ngã cái tôi cá nhân – một cái tôi phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời.

+ Nghệ thuật:

– Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ một cách thoải mái, tự nhiên và phóng túng.

– Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần gũi với đời sống, không cách điệu, ước lệ.

– Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên và lôi cuốn người đọc.

– Từ ngữ nôm na, bình dị, như lấy ở đời sống bình thường

+ Tính chất giao thời:

– Cũ: Hình thức vẫn theo lối thơ cổ, cách dùng từ, hình ảnh, cách diễn đạt vẫn mang dấu ấn văn học trung đại

– Mới: thể thơ trường thiên khá tự do; cảm xúc mới mẻ, phóng túng; cách thể hiện vượt khỏi quy phạm.

Câu 3 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Quá trình hiện đại hóa của thơ ca thời kì đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 được thể hiện khá rõ qua các bài thơ như “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu, “Hầu trời” của Tản Đà, “Vội vàng” của Xuân Diệu.

– Giai đoạn thứ nhất (từ đầu TK XX đến khoảng năm 1920), thành tựu chủ yếu của văn học là thơ của các chiến sĩ cách mạng, tiêu biểu là Phan Bội Châu. Nội dung tư tưởng đã khác với thơ ca thế kỉ XIX, nhưng về nghệ thuật vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.

– Giai đoạn thứ hai (từ 1920 đến 1930), văn học giai đoạn này đã đổi mới, ngôn ngữ có tính hiện đại, cái tôi ngông của nhà nho chán đời, tài tải muốn thoát li lên hầu trời nhưng những yếu tố của thi pháp văn học trung đại vẫn tồn tại.

– Giai đoạn thứ 3 (từ khoảng 1930 đến 1945), nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa trên mọi thể loại. Phong trào Thơ mới là tiếng nói của cái tôi cá nhân tự giải phóng toàn ra khỏi hệ thống ước lệ của thơ ca trung đại, trực tiếp quan sát lòng mình bằng con mắt cá nhân, cảm thấy bơ vơ, cô đơn trước vũ trụ. 

Câu  4 (trang 16 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Tác phẩm Nội dung Nghệ thuật
Vội vàng – Xuân Diệu Sự gia cảm hết mình với thiên nhiên, con người, cuộc đời. Quan niệm mới mẻ về nhân sinh, nỗi buồn về sự trôi chảy của thời gian, kể từ đó có cách sống vội vàng. Thể thơ tự do, hình ảnh thơ mới mẻ, trẻ trung, táo bạo. Giọng điệu say mê, sôi nổi, có nhiều sáng tạo về ngôn ngữ và hình ảnh.
Tràng giang – Huy Cận Nỗi buồn bâng khuâng trước thiên nhiên, tình yêu quê hương. Nỗi sầu vũ trụ- sầu nhân thế bao la, thăm thẳm trong hồn thơ Huy Cận

Vừa cổ điển, vừa hiện đại. Giọng điệu gần gũi, thân thuộc

Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mạc Tử Tình cảm thiết tha với đời, với người. Nỗi buồn bâng khuâng với bao uẩn khúc trong lòng.

Giàu hình ảnh thể hiện nội tâm, ngôn ngữ tinh tế, giàu sức gợi liên tương.

Tương tự – Nguyễn Bính Tâm trạng của chàng trai lúc tương tư, hồn quê hoà lẫn cảnh quê, khát vọng hạnh phúc lứa đôi giản dị. Ngôn ngữ thơ giản dị, ngot ngào, tha thiết, phảng phất ca dao dân gian làm sống dậy hồn xưa đất nước, nét chân quên mộc mạc, giản dị.
Chiều xuân – Anh Thơ Cảnh chiều xuân ở đồng bằng Bắc Bộ, không khí nhịp sống êm ả, tĩnh lặng. Thủ pháp nghệ thuật gợi tả, lấy cái động để tả cái tĩnh lặng của cảnh quê.

 

Câu 5 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Tác phẩm Tư tưởng Nghệ thuật
Chiều tối

Bài thơ tuy viết về cảnh chiều tối nhưng lại thắp sáng lên trong lòng người đọc một ngọn lửa hồng ấm áp của niềm tin yêu đời

+ Thể thơ tứ tuyệt hàm súc

+ Hình ảnh đậm tính ước lệ, tượng trưng,

+ Bút pháp gợi tả chấm phá, cốt ghi lấy linh hồn của tạo vật.

+ Tư thế của nhân vật trữ tình nhàn tản, ung dung

Lai tân Bài thơ vạch trần thực trạng thối nát của xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch. Tả thực bằng bút pháp châm biếm, sự nghịch lí được tạo bởi kết câu của bài thơ làm nổi bật ý châm biếm, mỉa mai.
Từ ấy Bài thơ thể hiện niềm vui sướng, hạnh phúc, say mê của Tố Hữu trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cách mạng, ý thức tự nguyện gắn bó, đấu tranh vì những người lao động nghèo khổ.

+ Hình ảnh tươi sáng, giàu ý nghĩa tượng trưng

+ Ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu.

+ Giọng thơ sảng khoái, nhịp điệu thơ hăm hở.

+ Sự đa dạng của bút pháp: tự sự, trữ tình.

Nhớ đồng Bài thơ thể hiện khao khát tự do, say mê lí tưởng, thể hiện qua nỗi nhớ da diết, cháy bỏng với quê hương, con người. Diễn biến tâm trạng thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, nhạc điệu (điệp từ, điệp kiểu câu), giọng nói thiết tha.

Câu 6 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Cái đẹp, cái hay, sức hấp dẫn của bài thơ “Tôi yêu em ” của Puskin

– Thấm đượm nỗi buồn của mối tình đơn phương, vô vọng nhưng trong sáng của một tâm hồn chân thành, nhân hậu mãnh liệt, vị tha cao thượng.

– Ngôn từ giản dị, tinh tế. Điệp ngữ “tôi yêu em”

– Lời nguyện cầu mang nhiều ý nghĩa.

Câu 7 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Hình tượng nhân vật Bê-li-cốp:

a) Ngoại hình:

– Luôn đi dày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông.

– Giấu mặt sau chiếc áo bành tô bẻ đứng lên, đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông, kéo mui khi ngồi xe ngựa.

b) Lối sống sinh hoạt:

– Câu nói cửa miệng: Nhỡ lại xảy ra chuyện gì.

– Buồng ngủ chật như cái hộp, khi ngủ trùm chăn kín đầu, cửa sổ đóng kín.

– Thích dạy tiếng Hy Lạp => Ngợi ca, tôn sùng quá khứ.

– Luôn sống theo những chỉ thị, thông tư.

– Không ý thức được tình trạng bản thân, tự hài lòng với lối sống cổ lỗ của mình, luôn cho mình là công dân tốt của nhà nước.

– Cách duy trì quan hệ với đồng nghiệp: Kéo ghế ngồi, chẳng nói chẳng rằng, mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm gì, 1 giờ sau ra về.

c) Ảnh hưởng của lối sống Bê-li-côp tới mọi người:

– Đồng nghiệp, mọi người xung quanh y, cả thành phố nơi y sống đều sợ hãi y, họ xa lánh y, không muốn dây với y.

– Khi Bê-li-côp chết rồi lối sống đó vẫn ảnh hưởng tới mọi người, cuộc sống vẫn ngột ngạt, bế tắc tù túng.

Câu 8 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Hình tượng nhân vật Giăng Van – giăng:

a. Hoàn cảnh nhân vật: Từ một thị trưởng giàu có,nhân từ vì cứu một người vô tội,ông đã trở về với thân phận thật của mình- một người tù khổ sai.

b. Phẩm chất, tính cách:

* Trước khi Phăng-tin chết:

– Đối với Phăng-tin: “nói bằng một giọng hết sức nhẹ nhàng và điềm tĩnh”

– Đối với Gia-ve: Hạ mình, nói nhỏ, cầu xin với mục đích: cứu vớt tia hy vọng và sự sống mong manh cho Phăng-tin.

– Cử chỉ điềm tĩnh, ngôn ngữ nhã nhặn, không tỏ ra khiếp sợ

* Sau khi Phăng-tin chết:

– Đối với Gia-ve:

+“cậy bàn tay Gia-ve như cậy bàn tay trẻ con”

+“bẻ thành giường”

+“nhìn Gia-ve trừng trừng”

=> Thái độ mạnh mẽ, quyết liệt .Cử chỉ, thái độ của tình thương, bảo vệ tình thương.

– Đối với Phăng-tin:

  + “bàn tay đỡ lấy trán,ngắm Phăng-tin nằm dài không nhúc nhích”

  +“thì thầm bên tai Phăng-tin”

  + “hai tay nâng đầu Phăng-tin lên,đặt ngay ngắn giữa gối như một người mẹ sửa sang cho con”

  + “ ông thắt lại dây rút cổ áo chị,vén gọn mớ tóc vào trong chiếc mũ vải. Rồi ông vuốt mắt cho chị”

  +”nhẹ nhàng” nâng bàn tay của Phăng-tin và “đặt vào đấy một nụ hôn”

   Tình yêu con người Giăng-van-giăng giành cho Phăng-tin cũng chính là lòng yêu thương của Huy-gô đối với Giăng-van-giăng và Phăng-tin. Giăng-van-giăng giống như mộ

 

Soạn bài “Ôn tập phần văn học (Kì 2)” số 4

Câu 1 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Sự khác nhau giữa thơ mới và thơ trung đại:

Tiêu chí so sánh

Thơ trung đại

Thơ mới

Tinh thần cốt lõi

Cái ta cộng đồng, cái ta dân tộc.

Cái tôi cá nhân tuyệt đối.

Hình thức thể hiện

Tính ước lệ tượng trưng, tính sùng cổ, tính khuôn mẫu.

Cách tân táo bạo, mới mẻ, ảnh hưởng của thơ phương Tây.

Phong thái chủ thể trữ tình

Ung dung, tự tại; Hiên ngang cốt cách.

Cô đơn, tội nghiệp, mang nỗi buồn thế hệ.

 

Câu 2 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Hai bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương” (Phan Bội Châu) và “Hầu trời” (Tản Đà):

– Bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương”:

  + Nội dung: Khắc họa vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX với bầu tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước.

  + Nghệ thuật: giọng thơ tâm huyết, sôi trào; hình ảnh thơ kì vĩ, hào hùng.

– Bài thơ “Hầu trời”:

  + Nội dung: Biểu hiện cái tôi cá nhân ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định giữa cuộc đời.

  + Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái, tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hỉnh.

– Tính chất giao thời trong nghệ thuật của hai bài thơ trên:

  + Bài “Lưu biệt khi xuất dương”: Viết bằng chữ Hán, sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật và thi pháp truyền thống. Nét mới của nằm ở tư tưởng mới mẻ chống lại lối học sáo mòn của Nho học và khát vọng hành động sôi trào của người chí sĩ thời đại mới.

  + Bài “Hầu trời”: Hình ảnh và thể thơ còn mang dấu ấn của văn học trung đại nhưng thể hiện nét mới mẻ là bộc lộ cái tôi ngông, phóng túng với sự tự ý thức cao, bài thơ viết bằng chữ quốc ngữ.

Câu 3 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Qua các bài “Lưu biệt khi xuất dương”, “Hầu trời” và “Vội vàng”, làm rõ quá trình hiện đại hóa thơ ca từ đầu TK XX đến CMT8/1945:

Quá trình hiện đại hóa

GĐ1: 1900 – 1920

GĐ2: 1920 – 1930

GĐ3: 1930 – 1945

Đặc điểm của giai đoạn

Thành tựu nổi bật là thơ văn của các chí sĩ cách mạng, đổi mới về nội dung tư tưởng nhưng hình thức biểu hiện vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.

Văn học đã có tính hiện đại nhưng nhiều yếu tố của văn học trung đại còn phổ biến.

Văn học hoàn tất quá trình hiện đại hóa, sự cách tân thể hiện ở mọi phương diện và thể loại. Thơ mới được coi là cách mạng trong thi ca.

So sánh ba bài thơ

“Lưu biệt khi xuất dương” (Phan Bội Châu)

“Hầu trời” (Tản Đà)

“Vội vàng” (Xuân Diệu)

Ngôn ngữ

Viết bằng chữ Hán.

Viết bằng chữ quốc ngữ.

Viết bằng chữ quốc ngữ.

 

 

 

Nội dung

Tư tưởng mới mẻ: lẽ sống mới, quan niệm mới về chí làm trai, không tuân thủ lối học sáo mòn của Nho giáo.

Bộc lộ cái tôi cá nhân phóng túng, ngông, tự ý thức và khẳng định tài năng, giá trị của mình.

Quan niệm mới về nghề văn.

Cái tôi cá nhân tự do, phóng khoáng với tình yêu đời say mê, cuồng nhiệt.

Quan niệm mới mẻ về thời gian tuyến tính.

Tuyên ngôn sống “vội vàng” hiện đại, nhân bản.

Nghệ thuật

+ Hình ảnh quen thuộc (càn khôn, non sông, sóng, biển)

+ Thi pháp ước lệ, tượng trưng.

+ Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật quy phạm, truyền thống.

+ Hình ảnh chưa mới mẻ.

+ Không còn nặng tính ước lệ, cách điệu.

+ Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do.

+ Tứ thơ mới lạ, cảm xúc phóng túng, tự do, không gò ép.

+ Ngôn từ táo bạo, mới mẻ, phóng túng, diễn đạt có ảnh hưởng của thơ ca phương Tây.

+ Hình ảnh thơ sáng tạo, hấp dẫn, thoát hoàn toàn khỏi tính chất ước lệ, tượng trưng, khuôn mẫu của thơ xưa.

+ Cách nhìn đời, cách cảm nhận tươi mới, “xanh non” gợi cảm.

+ Cách tân trong bút phát nghệ thuật.

 
 
Câu 4 (trang 116 Ngữ văn 11 tập 2)

Nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của các bài thơ:

Tác phẩm

Nội dung

Nghệ thuật

Vội vàng (Xuân Diệu)

Bài thơ là lời giục giã sống mãnh liệt, sống hết mình, quý trọng từng giây từng phút cuộc đời, nhất là những tháng năm tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống cuồng nhiệt.

+ Kết hợp nhuần nhị giữa mạch luận lí và mạch cảm xúc.

+ Giọng điệu say mê, sôi nổi.

+ Nhiều sáng tạo độc đáo về ngôn từ, hình ảnh thơ.

Tràng giang (Huy Cận)

Bày tỏ nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, nỗi sầu nhân thế, niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời và tình cảm đối với quê hương, đất nước.

+ Kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ điển và vẻ đẹp hiện đại.

+ Cảm hứng vũ trụ.

+ Nhiều biện pháp nghệ thuật hấp dẫn, mới mẻ.

Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

Bài thơ là bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, thể hiện nỗi buồn cô đơn của Hàn Mặc Tử trong một mối tình xa xăm, vô vọng. Ẩn phía sau là tấm lòng thiết tha với thiên nhiên và cuộc đời.

+ Hình ảnh giàu gợi hình, gợi cảm, giàu sức biểu hiện nội tâm.

+ Bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng.

Tương tư (Nguyễn Bính)

Bài thơ bày tỏ mối tình đơn phương ý nhị, kín đáo nhưng rất đỗi chân thành, tha thiết của chàng trai thôn quê.

+ Phong vị dân gian độc đáo.

+ Ngôn từ bình dị, so sánh ví von tự nhiên, hấp dẫn.

+ Nhiều câu hỏi tu từ.

Chiều xuân (Anh Thơ)

Khắc họa bức tranh làng quê thơ mộng, thanh bình, khoan thai và tươi đẹp trong một buổi chiều xuân Bắc Bộ đặc trưng.

+ Hình ảnh tươi đẹp, mộc mạc, gợi cảm.

+ Từ ngữ lôi cuốn, nhiều từ láy có sức biểu đạt cao.

 
 

Câu 5 (trang 116 Ngữ văn 11 tập 2)

Nội dung và nghệ thuật đặc sắc của các bài thơ sau:

Tác phẩm

Nội dung tư tưởng

Nghệ thuật

Chiều tối (Hồ Chí Minh)

Qua bức tranh thiên nhiên và đời sống lúc chiều tối trên con đường chuyển lao, Hồ Chí Minh bộc lộ một tâm hồn cao đẹp với tình yêu thiên nhiên, “chất thép”, ý chí vượt lên nghịch cảnh hướng về ánh sáng và sự sống.

+ Kết hợp hài hòa yếu tố cổ điển và yếu tố hiện đại.

+ Bút pháp tả cảnh ngụ tình, tứ thơ vận động khỏe khoắn.

Lai Tân (Hồ Chí Minh)

Bài thơ phơi bày và châm biếm bộ mặt quan lại coi tù ở Lai Tân, qua đó lên án sự mục ruỗng của chế độ Tưởng Giới Thạch.

+ Bút pháp châm biếm, đả kích nhẹ nhàng mà sâu cay.

+ Tứ thơ gây ấn tượng, bất ngờ.

Từ ấy (Tố Hữu)

Niềm vui sướng, say mê mãnh liệt khi giác ngộ lí tưởng cách mạng và những chuyển biến kì diệu trong nhận thức và lẽ sống của nhà thơ.

+ Hình ảnh thơ tươi sáng, gợi cảm.

+ Ngôn ngữ giàu nhạc điệu.

+ Biện pháp tu từ hiệu quả.

Nhớ đồng (Tố Hữu)

Tâm trạng cô đơn, tù túng và nỗi nhớ thương quê nhà, khát khao tự do và trở về với cuộc sống bên ngoài của người chiến sĩ trẻ bị cầm chân trong nhà tù.

+ Bài thơ giàu nhạc điệu, điệp khúc.

+ Biện pháp điệp ngữ, điệp cú pháp.

+ Hình ảnh giản dị, mộc mạc.

 

 

Câu 6 (trang 116 Ngữ văn 11 tập 2)

Cái đẹp, cái hay, sức hấp dẫn của bài thơ “Tôi yêu em” (Puskin):

– Sức hấp dẫn về nội dung, tư tưởng: Bài thơ bày tỏ một tình yêu đơn phương chân thành, trong sáng, giản dị nhưng rất đỗi cao thượng. Qua đó, ta cảm nhận và khâm phục trước một tâm hồn đáng mến, đáng trân trọng.

– Sức hấp dẫn về nghệ thuật: ngôn từ giản dị, chân thành; giọng điệu lúc trầm lắng, lúc dồn nén, lúc lại bùng cháy; điệp khúc “tôi yêu em” đem lại sự nhịp nhàng, đằm thắm.

Câu 7 (trang 116 Ngữ văn 11 tập 2)

Phân tích hình tượng Bê-li-cốp trong truyện “Người trong bao” (Sê-khốp):

– Cơ thể trong bao: đội mũ, đi giày cao su, mặc áo bành tô,…

– Tư tưởng, suy nghĩ trong bao: luôn sợ “nhỡ xảy ra chuyện gì”, yêu quá khứ ghê sợ hiện tại, kinh hãi khi thấy chị em Va-ren-ca đạp xe…

– Sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử kiểu trong bao: mọi đồ dùng đều để trong bao; phòng ngủ như cái hộp, đến nhà đồng nghiệp không nói chuyện mà chỉ ngồi quan sát; luôn đòi mách cấp trên,…

– Niềm hạnh phúc lớn nhất là được ở trong một cái bao vĩnh hằng: vẻ mặt thoải mái, dễ chịu khi ở trong quan tài.

– Ý nghĩa của nhân vật:

  + Bê-li-cốp là nhân vật điển hình cho lối sống trong bao cô độc, hèn nhát, giáo điều, sống cuộc đời nhạt nhẽo, vô nghĩa.

  + “Lối sống Bê-li-cốp”, lối sống trong bao trở thành liều thuốc độc ngấm ngầm ám ảnh, lây nhiễm và đầu độc cộng đồng xã hội.

  + Bê-li-cốp là sản phẩm của xã hội phong kiến chuyên chế tù túng, ngột ngạt đương thời. Từ đó tác giả đặt ra đòi hỏi sự thay đổi cho xã hội và nhân dân.

Câu 8 (trang 116 Ngữ văn 11 tập 2)

– Tình huống éo le: Giăng Van-giăng bị đặt vào hoàn cảnh kịch tính. Phăng-tin đang trong tình trạng nguy kịch, Giăng Van-giăng không muốn Phăng-tin biết sự thật ông là tù khổ sai và muốn tìm Cô-dét để cứu giúp cô nhưng Gia-ve đã đến để bắt ông.

– Hình tượng Giăng Van-giăng:

  + Trước khi Phăng-tin qua đời:

      > Với Gia-ve: Giăng Van-giăng chịu nhún nhường, xưng hô kính trọng ông-tôi, xin Gia-ve cho thêm thời gian, cúi đầu, thì thầm khi nói…

      > Với Phăng-tin: trấn an, tìm mọi cách che chở và giúp đỡ.

  + Sau khi Phăng-tin qua đời:

      > Khôi phục uy quyền trước Gia-ve: cậy bàn tay Gia-ve ra, bẻ thanh giường đe dọa hắn, kết tội Gia-ve, thay đổi xưng hô bình đẳng anh-tôi.

      > Thương xót và tiễn biệt Phăng-tin: sửa sang trang phục, thì thầm vào tai Phăng-tin khiến gương mặt chị rạng rỡ, tiễn chị về cõi vĩnh hằng.

=> Giăng Van-giăng là con người nhân hậu, giàu lòng yêu thương và hi sinh vì người khác. Sức mạnh và uy quyền của Giăng Van-giăng chính là sức mạnh và uy quyền của tình yêu thương cao cả.

 

Soạn bài “Ôn tập phần văn học (Kì 2)” số 5

Câu 1 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Thơ mới khác với thơ trung đại như thế nào?

Tiêu chí so sánh

Thơ trung đại

Thơ mới

Tinh thần cốt lõi

Cái tôi cộng đồng, cái ta dân tộc

Cái tôi cá nhân tuyệt đối

Hình thức thể hiện

Tính ước lệ tượng trưng, tính khuôn mẫu, công thức

Cách tân táo bạo, mới mẻ, ảnh hưởng của văn học phương Tây

Phong thái chủ thể trữ tình

Ung dung tự tại, hiên ngang, cốt cách

Cô đơn, tội nghiệp, mang nỗi buồn thế hệ

Câu 2 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Những nội dung cơ bản và đặc điểm nghệ thuật chủ yếu của các bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, Hầu Trời của Tản Đà? Làm rõ tính chất giao thời (giữa văn học trung đại và hiện đại) về nghệ thuật của các tác phẩm nói trên.

– Bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương”:

  + Nội dung: Khắc họa vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX với bầu tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước.

  + Nghệ thuật: giọng thơ tâm huyết, sôi trào; hình ảnh thơ kì vĩ, hào hùng.

– Bài thơ “Hầu trời”:

  + Nội dung: Biểu hiện cái tôi cá nhân ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định giữa cuộc đời.

  + Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái, tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hỉnh.

– Tính chất giao thời trong nghệ thuật của hai bài thơ trên:

  + Bài “Lưu biệt khi xuất dương”: Viết bằng chữ Hán, sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật và thi pháp truyền thống. Nét mới của nằm ở tư tưởng mới mẻ chống lại lối học sáo mòn của Nho học và khát vọng hành động sôi trào của người chí sĩ thời đại mới.

  + Bài “Hầu trời”: Hình ảnh và thể thơ còn mang dấu ấn của văn học trung đại nhưng thể hiện nét mới mẻ là bộc lộ cái tôi ngông, phóng túng với sự tự ý thức cao, bài thơ viết bằng chữ quốc ngữ.

Câu 3 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Qua việc phân tích, so sánh các bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, Hầu Trời của Tản Đà, Vội vàng của Xuân Diệu, hãy làm sáng tỏ quá trình hiện đại hóa thơ ca thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Quá trình hiện đại hoá của thơ ca thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 được thể hiện khá rõ qua các bài thơ như Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu, Hầu Trời của Tản Đà, Vội vàng của Xuân Diệu.

– Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920), thành tựu chủ yếu của văn học là thơ của các chí sĩ cách mạng, tiêu biểu là Phan Bội Châu. Trong sáng tác của Phan Bội Châu cũng như của nhiều cây bút Hán học yêu nước và cách mạng khác, nội dung tư tưởng đã khác với thơ ca thế kỉ XIX, nhưng về nghệ thuật vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại, các tác giả vẫn viết theo thi pháp của thơ trung đại. Điều đó thể hiện rất rõ trong bài thơ Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu. Trong bài này, Phan Bội Châu đã thể hiện lẽ sống mới, quan niệm mới về “chí làm trai” nhưng bài thơ vẫn được viết bằng thi pháp và ngôn ngữ của văn học trung đại.

– Giai đoạn thứ hai (khoảng từ 1920 đến 1930), công cuộc hiện đại hoá văn học đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Văn học giai đoạn này đã đổi mới, có tính hiện đại, nhưng những yếu tố của thi pháp văn học trung đại vẫn tồn tại khá phổ biến, nhất là trong sáng tác thơ.

   Bài Hầu Trời của Tản Đà thể hiện rất rõ tính chất nói trên. Trong Hầu Trời, đã thấy xuất hiện “cái tôi” cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực cùa mình và khao khát được khẳng định mình. Qua Hầu Trời, Tản Đà cũng bộc lộ rõ một quan điểm khá hiện đại về nghề văn. Cách chia khổ thơ như Tán Đà đã làm trong bài này chưa từng thấy trong thời kì trung đại. Nhưng “cái tôi” cá nhân phóng túng của Tản Đà vẫn phảng phất tinh thần cái ngông của nhà nho tài tử của thơ ca cuối thời trung đại kiểu Nguyễn Công Trứ, Tú Xương,… Vì vậy, Hầu Trời chưa thể xem là thực sự hiện đại. Tản Đà, qua Hầu Trời và những bài thơ khác của ông, “có thể xem như cái gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc”.

– Giai đoạn thứ ba (từ khoảng 1930 đến 1945), nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hoá với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại. Phong trào Thơ mới (được khởi lên từ năm 1932) được xem là “một cuộc cách mạng thơ ca” (Hoài Thanh). Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Tương tư của Nguyễn Bính,… là những bài thơ tiêu biểu, thể hiện rõ những đặc trưng của thơ mới. Đó là tiếng nói nghệ thuật của “cái tôi” cá nhân tự giải phóng hoàn toàn ra khỏi hệ thống ước lệ của thơ ca thời kì trung đại, trực tiếp quan sát thế giới và lòng mình bằng con mắt của cá nhân, đồng thời cảm thấy bơ vơ, cô đơn trước vũ trụ và cuộc đời.

Câu 4 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của các bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Tương tư của Nguyễn Bính, Chiều xuân của Anh Thơ.

Nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của các bài thơ:

a) Vội vàng của Xuân Diệu

– Vội vàng, đúng như cái tiêu đề của nó, là lời giục giã hãy sống hết mình, hãy yêu say từng phút giây của tuổi trẻ, hãy thưởng thức bằng tất cả khát khao những ngon ngọt của cuộc đời.

– Vội vàng là một bài thơ rất Xuân Diệu. Xuân Diệu ở trái tim sôi sục, ở cặp mắt xanh non háo hức, ở sự khẳng định “cái tôi” trong quan hệ gắn bó với đời, ở nhịp thơ hăm hở, cuống quýt, ở hình ảnh rất táo bạo đầy rẫy cảm giác và có tính sắc dục, ở cú pháp “rất Tây” và lối qua hàng hết sức thoải mái.

b) Tràng giang của Huy Cận

– Tràng giang thấm đẫm một nỗi buồn. Mỗi khổ thơ thực chất là một sự triển khai khác nhau của nỗi buồn đó và thường được gợi lên bằng cách đối lập giữa cái mênh mông cao rộng như vô hạn với cái nhỏ bé, mong manh, ơ bài thơ này, có lẽ Huy Cận không miêu tả cảnh vật theo một trật tự nhất định. Dường như tác giả không có ý định khắc hoạ một bức tranh đầy đủ, hài hoà qua các khổ thơ, mà tất cả chỉ nhằm tô đậm ở người đọc ấn tượng về nỗi buồn đìu hiu, xa vắng trải dài vô tận theo không gian và thời gian.

– Tràng giang có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật.

+ Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính với cách ngắt nhịp quen thuộc (4/3) tạo nên sự cân đối, hài hoà. Thủ pháp tương phản được sử dụng triệt để: hữu hạn / vô hạn; nhỏ bé / lớn lao; không / có,…

+ Sử dụng thành công các loại từ láy: láy âm (tràng giang, đìu hiu, chót vót, lơ thơ,…), láy hoàn toàn (điệp điệp, song song, lớp lớp,…). Các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, so sánh,…

c) Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

– Nội dung bài thơ thể hiện nỗi buồn, niềm khao khát của một con người tha thiết yêu đời, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, yêu con người. Bài thơ đẹp như thế, trên thực tế lại được sáng tác khi nhà thơ ở trong một hoàn cảnh thật tối tăm, tuyệt vọng (bệnh tật giày vò, nồi ám ảnh về cái chết, về sự xa lánh của người đời). Điều đó khiến ta thêm thương xót và cảm thông với số phận của tác giả, thêm cảm phục một con người đầy tài năng và nghị lực, con người đã dũng cảm vượt lên trên hoàn cảnh nghiệt ngã để sáng tác ra những vần thơ tài hoa về tình đời, tình người.

   Có thể nói, Đây thôn Vĩ Dạ trước hết là một bài thơ về tình yêu – tình yêu của Hàn Mặc Tử với Hoàng Thị Kim Cúc. Xuyên qua sương khói hư ảo của tình yêu mơ mộng là tình quê, là tình yêu thiết tha đằm thắm với đất nước, quê hương.  Với việc khơi gợi lên tình cảm yêu thương chung của nhiều người như thế, bài thơ diễn tả tâm trạng riêng của tác giả lại tạo được sự cộng hưởng rộng rãi và lâu bền trong tâm hồn của bao thế hệ người đọc.

– Ở bài thơ này, tứ thơ bắt đầu với cảnh đẹp thôn Vĩ bên dòng sông Hương, từ đó khơi gợi liên tưởng thực ảo và mở ra bao nhiêu nỗi niềm cảm xúc, suy tư về cảnh và người xứ Huế với phấp phỏng những mặc cảm, uẩn khúc, niềm hi vọng, niềm tin yêu.

   Bút pháp của nhà thơ sử dụng trong bài thơ này kết hợp hài hoà điệu tả thực, tượng trưng, lãng mạn và trữ tình. Cảnh đẹp xứ Huế đậm nét tả thực mà lại có tầm cao tượng trưng. Sự mơ mộng làm tăng thêm sắc thái lãng mạn. Nét chân thực của cảm xúc làm đậm thêm chất trữ tình.

d) Tương tư của Nguyễn Bính

   Bài thơ thể hiện nỗi nhớ thương đơn phương da diết của một tình nhân. Từ đó, bài thơ gợi sự đáng yêu, đáng quý của tình yêu, đồng thời cũng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người.

   Thơ Nguyễn Bính có một điệu riêng. Bài thơ này cũng vậy. Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang phong vị dân gian, thơ Nguyên Bính đa đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương cùa quê hương đất nước và một tình người đằm thắm, thiết tha.

e) Chiều xuân của Anh Thơ

   Bài thơ là một bức tranh mùa xuân vào buổi chiều – tiêu biểu cho cảnh xuân nơi đồng quê miền Bắc nước ta. Bài thơ mạnh ở lối tả. Không tả tỉ mỉ chi tiết mà quan sát rộng, măc dù thê vẫn muốn thâu tóm từ linh hồn của cảnh. Có thể nhận xét chung rằng bức tranh buổi chiều xuân khá yên ả. Thậm chí có phần hơi vắng lặng nữa.

   Bài thơ tả cảnh nhưng lại gợi ra rất rõ cái không khí và nhịp sống muôn đời, ở nông thôn ta thời trước, đó là sự bình yên. Con đò nằm biếng lười, quán vắng, những cánh bướm rập rờn, những đàn trâu thong thả…tất cả đều có dáng khoan thai. Trong bài thơ, thi sĩ đã sử dụng rất nhiều từ láy để dựng cảnh, hay nói đúng hơn là để gợi cái trạng thái tinh thần của cảnh: mưa thì êm êm, quán tranh đứng im lìm, hoa xoan rụng tơi bời, đàn sáo mô vu vơ, mấy cánh bướm rập rờn, những trâu bò thong thả,… Trong các từ láy đã nêu, trừ từ tơi bời, các từ láy còn lại đều là những từ láy có tính chất giảm nhẹ: êm êm, vu vơ, rập rờn, thong thả,… và hoặc thì diễn tả trạng thái thụ động hoặc thì diễn tả trạng thái thụ động thì diễn tả trạng thái đều đều của chủ thể. Rõ ràng trong tổng thể bài thơ, chính sự kết hợp của những từ láy này đã giúp thể hiện nổi bật vẻ đẹp dịu dàng, yên ả, thanh bình của cảnh chiều xuân cũng như nhịp sống khoan thai nơi đồng quê của tác giả.

Câu 5 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của các bài thơ Chiều tối, Lai Tân của Hồ Chí Minh; Từ ấy, Nhớ đồng của Tố Hữu?

a) Chiều tối của Hồ Chí Minh

   Bài thơ rất tiêu biểu cho thơ trữ tình Hồ Chí Minh: nhà thơ không trực tiếp bộc lộ cảm nghĩ nội tâm mà biểu hiện qua cách cảm nhận hình ảnh, cảnh vật khách quan. Qua bức tranh cảnh vật, ta thấy được những nét đẹp tâm hồn của một nhà thơ – chiến sĩ: lòng yêu thiên nhiên, con người, yêu cuộc sống, phong thái ung dung tự chủ và niềm lạc quan, nghị lực kiên cường vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt, tối tăm.

– Nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ vừa có những nét cổ điển (bút pháp chấm phá, ước lệ với những thi liệu cũ) vừa có nét hiện đại (bút pháp tả thực sinh động với những hình ảnh dân dã, đời thường). Bài thơ chủ yếu là gợi tả chứ không phải là miêu tả, vì thế mà có thể cảm nhận tính chất hàm súc của thơ rất cao.

– Ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng rất linh hoạt và sáng tạo. Một số từ ngữ vừa gợi tả lại vừa gợi cảm (quyện điểu, cô vân). Biện pháp láy âm vắt dòng ở câu 3 và câu 4 tạo nhịp thơ khoẻ khoắn. Ngoài ra bài thơ có những chữ rất quan trọng, có thể làm “sáng” lên cả bài thơ, ví như chữ “hồng” trong câu thơ cuối chẳng hạn.

b) Lai Tân của Hồ Chí Minh

– Bài thơ cho thấy hiện trạng đen tối, thối nát của một xã hội tưởng là yên ấm, tốt lành.

– Bài thơ có một cách cấu tứ bất ngờ. Ba câu thơ đầu chỉ thuần kể việc. Điểm nút chính là câu thơ thứ tư. Nó làm bật ra toàn bộ tư tưởng của bài. Nó làm bung vỡ tất cả cái ý châm biếm mỉa mai hướng đến sự thối nát đến tận xương tuỷ của cái xã hội Tưởng Giới Thạch.

– Bài thơ cũng in đậm cái bút pháp chấm phá của thơ Đường. Lời thư ngắn gọn, súc tích. Không cầu kì câu chữ, nhưng có thể nói: chỉ với bốn câu thơ ngắn, nhà thơ đã vẽ nên cái bản chất của cả một chế độ xã hội mục nát đến vô cùng. Sức chiến đấu, chất “thép” của bài thơ nhẹ nhàng mà quyết liệt chính là ở đó.

c) Từ ấy của Tố Hữu

   Bài thơ là niềm vui sướng, say mê mãnh liệt của Tố Hữu trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cách mạng. Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được thể hiện sinh động bàng’ những hình ảnh tươi sáng, bằng các biện pháp tu từ gợi cảm (nhất là biện pháp tu từ ẩn dụ) và ngôn ngữ giàu nhạc điệu.

   Nhạc điệu của bài thơ trước hết được tạo ra từ thể thơ thất ngôn – vốn mang âm điệu trang trọng. Cách ngắt nhịp trong bài thơ liên tục thay đổi qua các câu thơ, ví dụ: Từ ấy trong tôi/bừng nắng hạ… Hồn tôi/là một vườn hoa lá… Gần gũi nhau/thêm mạnh khối đời… Hệ thống vần cuối của các câu thơ cũng rất phong phú, có sức vang ngân, bởi nó chủ yếu là các âm mở, như: hạ – lá; người – nơi – đời ; nhà – pha,…

d) Nhớ đồng của Tố Hữu

– Bài thơ là niềm yêu quý thiết tha và nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với quê huơng, đồng thời thể hiện niềm say mê lí tưởng và khát khao tự do, khát khao hành động của nhà thơ.

– Bài thơ dùng nhiều hình ảnh ẩn dụ, nhiều biện pháp điệp (điệp từ, điệp cú pháp), điệu thơ nhẹ nhàng, ngôn từ trong sáng, thiết tha, giàu sức lôi cuốn.

Câu 6 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Cái đẹp, cái hay, sức hấp dẫn của bài thơ Tôi yêu em (Pu-skin)?

 Cái đẹp, cái hay và sức hấp dẫn của bài thơ Tôi yêu em (Pu-skin)

– Về nội dung: Tinh yêu là một trong những chủ đề quan trọng trong sáng tác của Pu-skin. Thơ tình yêu của Pu-skin, mà Tôi yêu em là một bài thơ tiêu biểu, thường bắt nguồn từ những cảm xúc cụ thể, chân thực với những trải nghiệm tình cảm sâu xa, do đó, đã thể hiện được những vẻ đẹp đa dạng, tinh tế của thế giới tâm hồn con người. Viết Tôi yêu em, Pu-skin chạm vào mảng đề tài đã trở thành vĩnh cửu, thế nhưng, bài thơ vẫn hay, vẫn đẹp và có sức hấp dẫn không ngờ, ấy là vì qua bài thơ, những cung bậc tình cảm phức tạp, những sắc thái cảm xúc phong phú, những rung động sâu xa và những ấn tượng khó nắm bắt của tình yêu đã được nhà thơ diễn tả một cách hết sức tinh tế, chân thực và cụ thể. Sức hấp dẫn của Tôi yêu em còn thể hiện ở sự chân thành, cao thượng và nhân ái của con người trong tình yêu đôi lứa.

– Về nghệ thuật: Đặc điểm nghệ thuật nổi bật của bài thơ Tôi yêu em là cách sử dụng từ ngữ điêu luyện, ngôn từ giản dị, trong sáng. Bài thơ giàu cảm xúc nhưng lại được thể hiện một cách lắng đọng, suy tư. Bên cạnh đó, các chi tiết cụ thể, sống động và cách nhịp câu thơ cũng được Pu-skin triệt để phát huy sức mạnh, đem lại cho thơ ông sự giàu có, quyến rũ về âm điệu và cảm xúc

Câu 7 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Phân tích hình tượng nhân vật Bê-li-cốp trong truyện ngắn Người trong bao (Sê-khốp).

– Bê-li-cốp là “người trong bao” cả trong sinh hoạt và trong tư tưởng.

+ Trong sinh hoạt: Bê-li-cốp mang ô, kính râm, áo bành tô dựng cổ lên, đi ủng cả khi trời đẹp. Buồng ngủ của Bê-li-cốp chật như cái hộp, cửa đóng kín mít, khi ngủ kéo chăn trùm kín đầu,… Đồ dùng của hắn như: chiếc đồng hồ quả quýt, chiếc dao con,… tất cả đều để trong bao.

+ Trong tư tưởng: Bê-li-cốp chỉ làm theo chỉ thị, mệnh lệnh. Hắn không làm gì để phải động chạm đến ai. Hắn luôn thoả mãn, luôn hài lòng với lối sống cổ lỗ, hủ lậu, kì quái của mình.

– Những “cái bao” chụp lên mọi hành động và suy nghĩ của Bê-li-cốp cho thấy hắn là một con người nhỏ bé, yếu đuối và thảm hại. Y cứ nhởn nhơ, tự nhiên đắm chìm trong quá khứ, trong những xác tín cực kì lạc hậu, đen tối. Bê-li-cốp không hiểu mọi người xung quanh, không hiểu xã hội, cuộc sống đương thời. Đó thực là một kẻ hèn nhát, cô độc, máy móc, giáo điều, thu mình trong bao, trong vỏ ốc và cảm thấy yên tâm, sung sướng, hạnh phúc, mãn nguyện trong đó. 

– Điều đáng lo sợ là lối sống và con người Bê-li-cốp đã ảnh hưởng mạnh mẽ và dai dẳng đến lối sống và tinh thần của anh chị em trong trường nơi y làm việc, trong cả thành phố nơi y sống như một thứ dịch hạch. Ngay cả khi Bê-li-cốp chết, tính cách và lối sống ấy vẫn tiếp tục tồn tại và gây ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống hiện tại và tương lai của cả dân thành phố, không tài nào thoát ra được. Chính bởi thế mà, thực chất hình tượng Bê-li-cốp không phải là một hiện tượng cá biệt. Toàn bộ hình ảnh con người và tính cách của y là điển hình cho một kiểu người, một hiện tượng xã hội đã và đang tồn tại trong cuộc sống của một bộ phận trí thức Nga cuối thế kỉ XIX.

Câu 8 (trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Phân tích nhân vật Giăng Van-giăng trong đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Huy-gô).

– Tình huống éo le: Giăng Van-giăng bị đặt vào hoàn cảnh kịch tính. Phăng-tin đang trong tình trạng nguy kịch, Giăng Van-giăng không muốn Phăng-tin biết sự thật ông là tù khổ sai và muốn tìm Cô-dét để cứu giúp cô nhưng Gia-ve đã đến để bắt ông.

– Hình tượng Giăng Van-giăng:

+ Trước khi Phăng-tin qua đời:

> Với Gia-ve: Giăng Van-giăng chịu nhún nhường, xưng hô kính trọng ông-tôi, xin Gia-ve cho thêm thời gian, cúi đầu, thì thầm khi nói…

> Với Phăng-tin: trấn an, tìm mọi cách che chở và giúp đỡ.

+ Sau khi Phăng-tin qua đời:

> Khôi phục uy quyền trước Gia-ve: cậy bàn tay Gia-ve ra, bẻ thanh giường đe dọa hắn, kết tội Gia-ve, thay đổi xưng hô bình đẳng anh-tôi.

> Thương xót và tiễn biệt Phăng-tin: sửa sang trang phục, thì thầm vào tai Phăng-tin khiến gương mặt chị rạng rỡ, tiễn chị về cõi vĩnh hằng.

=> Giăng Van-giăng là con người nhân hậu, giàu lòng yêu thương và hi sinh vì người khác. Sức mạnh và uy quyền của Giăng Van-giăng chính là sức mạnh và uy quyền của tình yêu thương cao cả.

Nguồn:Tổng Hợp