Hướng dẫn soạn bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” ngắn gọn, súc tích

Soạn bài Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ – Ngữ văn 11. Câu 2. b) Không cần đọc nhiều sách, không cần học thuộc nhiều thơ văn, chỉ cần luyện nhiều về tư duy, về cách nói, cách viết là có thể học giỏi môn Ngữ Văn

Soạn bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” số 1

Bài 1 (trang 31 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn văn của A. L. Ghéc xen:

– Nội dung: bác bỏ lối sống chủ nghĩa cá nhân

– Cách bác bỏ:

Sử dụng việc so sánh, lí lẽ để bác bỏ. Tác giả so sánh lối sống cá nhân như khu vườn được chăm sóc cẩn thận nhưng không chống được bão táp

– Tác giả cho rằng chẳng ai thèm muốn cuộc sống đầy đủ tiện nghi nhưng chỉ ở trong hàng rào.

– Con người chỉ hạnh phúc khi trải qua gian nan, thử thách

b, Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn trích Ngô Thì Nhậm:

– Nội dung: Bác bỏ quan điểm kẻ sĩ không nên phụng sự việc thiên triều

– Cách bác bỏ: Không phê phán trực tiếp mà phân tích những khó khăn trong sự nghiệp chung nỗi lo lắng và lòng mong đợi người tài của nhà vua

   + Khẳng định đất nước ta có nhiều người tài có thể ra giúp nước

   + Đưa ra những lập luận có tính lựa chọn để người nghe đến những lựa chọn đúng đắn, hợp lí, lời lập luận chặt chẽ, giàu cảm xúc

   + Tính thuyết phục của đoạn văn rất cao bởi tác giả sắp xếp hệ thống luận điểm và luận cứ chặt chẽ.

Diễn đạt:

   + Từ ngữ trang trọng, giọng điệu chân thành, khiêm nhường, sử dụng câu tường thuật, câu hỏi tu từ, dùng lí lẽ dẫn chứng kết hợp với hình ảnh so sánh

– Đoạn văn vừa có tính bác bỏ, vừa có tính động viên, khích lệ người hiền tại

Bài 2 (trang 33 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Hai ý kiến được trích dẫn đều cần bác bỏ

– Phân tích nguyên nhân:

   + Cả hai đều xuất phát từ suy nghĩ phiến diện, thái độ học tập, ý thức, động cơ phấn đấu hạn chế

– Những tác hại nhận thức sau lệch đó ảnh hưởng tới thái độ học tập, kết quả, phẩm chất đạo đức của lớp học sinh

– Một số ý kiến giúp nâng cao khả năng viết văn:

   + Tôn trọng cảm xúc cá nhân

   + Đọc nhiều sách, đa dạng các loại sách

   + Trải nghiệm cuộc sống, quan sát, học hỏi

→ Viết văn cũng chính là hành trình sống và học hỏi nên đòi hỏi sự kiên trì, chăm chỉ luyện tập.

Câu 3 (Trang 31 sgk ngữ văn 11 tập 2):

MB: Bác bỏ quan niệm sống “Thanh niên, học sinh thời nay phải biết nhuộm tóc, uống rượu, hút thuốc, vào vũ trường, thế mới là sống sành điệu

TB: Nêu tình trạng của quan niệm sống thanh niên, học sinh phải biết nhuộm tóc, hút thuốc, vào vũ trường mới là sành điệu …

– Chỉ ra nguyên nhân của lối sống này

– Vấn đề cần bác bỏ: bản chất của quan niệm sống ấy thực ra là lười biếng, muốn thụ hưởng, sống vô trách nhiệm

– Cách bác bỏ: nêu ra lý lẽ, trích dẫn thực tế

– Nêu ra quan niệm sống đúng đắn, khoa học

KB: Phê phán lối sống, quan niệm sống sai trái

 

Soạn bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” số 2

Câu 1 (trang 31 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

a.      * Nội dung bác bỏ: một quan niệm sống sai lầm – sống bó hẹp trong cửa nhà mình.

* Cách bác bỏ:

– Dùng lý lẽ bác bỏ trực tiếp “Cuộc sống riêng khôn biế gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn dù có đầy đủ tiện nghi.”

– Kết hợp so sánh tạo bằng hình ảnh sinh động để vừa bác bỏ vừa nêu ý đúng, động viên người đọc.

* Diễn đạt :

– Từ ngữ giản dị

– Phối hợp câu tường thuật và câu miêu tả.

b.* Nội dung bác bỏ:

– Vua Quang Trung bác bỏ thái độ e ngại né tránh của những hiền tài trong buổi đầu nhà vua dựng nghiệp

* Cách bác bỏ:

– Không phê phán trực tiếp mà phân tích những khó khăn trong sự nghiệp chung.

– Đi từ lòng mong mỏi , nỗi lo lắng của nhà vua đến việc nhà vua phân tích những khó khăn trong sự nghiệp.

– Khẳng định trên dải đất văn hiến của nước ta không hiếm người tài.

* Diễn đạt

– Từ ngữ vừ trang trọng, giản dị.

– Giọng điệu chân thành, khiêm tốn.

– Sử dụng câu tường thuật kết hợp câu hỏi tu từ.

– Dùng lý lẽ kết hợp với hình ảnh.

– Vừa bác bỏ, vừa động viên khích lệ.

Câu 2 (trang 32 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Bác bỏ quan niệm “Muốn học giỏi môn Ngữ văn chỉ cần… nhiều thơ văn”.

* Cách bác bỏ:

– Chỉ ra nguyên nhân: quan niệm trên bắt nguồn từ suy nghĩ và thái độ học tập phiến diện, đơn giản của học sinh.

– Tác hại của quan niệm này:

+ Kết quả học tập không tiến bộ do sai phương pháp.

+ Lãng phí thời gian.

+ Dễ nản chí do không hiểu yêu cầu của bộ môn và không đạt hiệu quả khi học.

– Đề xuất kinh nghiệm học tốt môn Ngữ Văn:

+ Đọc nhiều tài liệu để có kiến thức sâu rộng về môn học, đọc đa dạng các loại sách để mở rộng vốn từ và hiểu biết xã hội.

+ Thường xuyên rèn luyện các kĩ năng viết, rèn diễn đạt và rèn tư duy giải quyết vấn đề.

+ Vun đắp đời sống tinh thần, nâng cao khả năng cảm nhận.

+ Chú ý quan sát học hỏi và có ý thức trải nghiệm cuộc sống.

* Cả hai quan niệm đều chưa đúng, có phần phiến diện, cực đoan

– Nội dung cần bác bỏ:

+ Quan niệm a: Muốn học giỏi môn Ngữ văn chỉ cần đọc nhiều sách, học thuộc nhiều thơ văn

+ Quan niệm b: Không cần đọc nhiều sách, không cần học nhiều thơ văn, chỉ cần luyện nhiều về tư duy, về cách nói, cách viết là có thể học giỏi môn Ngữ văn

– Tác hại:

+ Quan niệm a: Chỉ có kiến thức sách vở mà thiếu kiến thức thực tế

+ Quan niệm b: Chỉ có kiến thức về phương pháp chứ chưa có kiến thức về bộ môn và đời sống

– Nguyên nhân:

+ Những suy nghĩ lệch lạc…

+ Lối sống buông thả, hưởng thụ, vô trách nhiệm…

– Vấn đề cần bác bỏ: Bản chất của cái gọi là “ sành điệu” chính là lối sống buông thả, hưởng thụ, đua đòi, vô trách nhiệm

– Cách bác bỏ: Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng để phân tích, chứng minh. Đưa ra một vài kinh nghiệm để học tốt môn Ngữ Văn.

Câu 3 (trang 32 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

* Mở bàiCó thể giới thiệu ít nhất hai quan niệm sống khác nhau

* Thân bài:

a. Thừa nhận đây là một trong những quan niệm về cách sống hiện nay đang tồn tại trong thanh niên

=> quan niệm trên là hoàn toàn sai

=> Phân tích ngắn gọn nguyên nhân phát sinh ra quan niệm ấy

b. Bác bỏ quan niệm về cách sống ấy:

– Vấn đề cần bác bỏ: Bản chất của cái gọi là “sành điệu” chính là lối sống học đòi, buông thả, hưởng thụ và vô trách nhiệm.

– Cách bác bỏ: dùng lý lẽ để phân tích và lấy dẫn chứng để chứng minh.

c. Khẳng định một quan niệm về cách sống đúng đắn.

* Kết bài : Phê phán và nêu bài học rút ra.

 

Soạn bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” số 3

Câu 1:

a.* Nội dung bác bỏ: Tác gỉa bác bỏ một quan niệm sống sai lầm- sống bó hẹp trong cửa nhà mình.

* Cách bác bỏ:

– Dùng lý lẽ bác bỏ trực tiếp “Cuộc sống riêng khôn biế gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn dù có đầy đủ tiện nghi.”

– Kết hợp so sánh tạo bằng hình ảnh sinh động để vừa bác bỏ vừa nêu ý đúng ,động viên người đọc:

+ Tác giả ví lối sống bó hẹp như một mảnh vườn rào kín

+ nêu tác hại của lối sông bó hẹp bằng một so sánh logic

+ Tác giả đưa ra kết luận: Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mỏng manh như thế.

+ Chỉ ra quan niệm đúng: Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng,… (hình tượng mang ý nghĩa đối lập để bác bỏ được quyết liệt và chắn chắn hơn).

* Diễn đạt :

+ Từ ngữ giản dị

+ Phối hợp câu tường thuật và câu miêu tả khi so sánh khiến đoạn văn sinh động , có sức thuyết phục cao.

b.*Nội dung bác bỏ:

Vua Quang Trung bác bỏ thái độ e ngại né tránh của những hiền tài trong buổi đầu nhà vua dựng nghiệp

*Cách bác bỏ:

+ Không phê phán trực tiếp mà phân tích những khó khăn trong sự nghiệp chung.

+ Đi từ lòng mong mỏi , nổi lo lắng của nhà vua đến việc nhà vua phân tích những khó khăn trong sự nghiệp

+ Khẳng định trên dải đất văn hiến của nước ta không hiếm người tài để bác bỏ thái độ e ngại, né tranh của những người hiền tài, động viện người hiền tài ra giúp nước.

* Diễn đạt

+ Từ ngữ vừ trang trọng, giản dị.

+ Giọng điệu chân thành, khiêm tốn.

+ Sử dụng câu tường thuật kết hợp câu hỏi tu từ.

+ Dùng lý lẻ kết hợp với hình ảnh.

+ Vừa bác bỏ , vừa động viên khích lệ.

Câu 2:

Cả hai quan niệm đều chưa đúng, có phần phiến diện, cực đoan, bắt nguồn từ thái độ học tập, ý thức, động cơ, rèn luyện, phấn đấu còn hạn chế trong việc học tập môn Ngữ văn.

– Nội dung cần bác bỏ:

+  Quan niệm a: Muốn học giỏi môn Ngữ văn chỉ cần đọc nhiều sách, học thuộc nhiều thơ văn

+  Quan niệm b: Không cần đọc nhiều sách, không cần học nhiều thơ văn, chỉ cần luyện nhiều về tư duy, về cách nói, cách viết là có thể học giỏi môn Ngữ văn

– Nguyên nhân: bắt nguồn từ những suy nghĩ phiến diện, từ thái độ học tập, ý thức, động cơ rèn luyện, học tập… hạn chế

– Tác hại:

+ Quan niệm a: Chỉ có kiến thức sách vở mà thiếu kiến thức thực tế

+ Quan niệm b: Chỉ có kiến thức về phương pháp chứ chưa có kiến thức về bộ môn và đời sống

=>   Một quan niệm hiện đang tồn tại trong một bộ phận thanh niên

Là một quan niệm sai lầm cần bác bỏ

 – Nguyên nhân:

+ Những suy nghĩ lệch lạc…

+ Lối sống buông thả, hưởng thụ, vô trách nhiệm…

 Vấn đề cần bác bỏ: Bản chất của cái gọi là “ sành điệu” chính là lối sống buông thả, hưởng thụ, đua đòi, vô trách nhiệm

– Cách bác bỏ: Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng để phân tích, chứng minh. Đưa ra một vài kinh nghiệm để học tốt môn Ngữ Văn:

+ Đọc nhiều sách, học thuộc nhiều thơ văn

+ Luyện viết nhiều về tư duy, về cách nói, cách viết.

+ Trang bị những kiến thức lí luận cần thiết

+ Trau dồi vốn ngôn ngữ, hiểu biết trong cuộc sống và những kiến thức thực tế.

+ Luyện viết thường xuyên.

Câu 3:

* Mở bài:

 Có thể giới thiệu ít nhất hai quan niệm sống khác nhau ( một quan niệm như đề bài; một quan niệm về cách sống của tuổi trẻ thời hội nhập : phải có trí tuệ, có khát vọng làm giàu, có lòng nhân ái, có ý thức trách nhiệm …)

* Thân bài :

a.Thừa nhận : đây là một trong những quan niệm về cách sống hiện nay đang tồn tại trong thanh niên

=> khẳng định tính đúng sai của quan niệm: quan niệm trên là hoàn toàn sai

=> phân tích ngắn gọn nguyên nhân phát sinh ra quan niệm ấy

b. Bác bỏ quan niệm về cách sống ấy:

– Vấn đề cần bác bỏ: Bản chất của cái gọi là “sành điệu” chính là lối sống học đòi, buông thả, hưởng thụ và vô trách nhiệm.

– Cách bác bỏ: dùng lý lẽ để phân tích và lấy dẫn chứng để chứng minh.

c. Khẳng định một quan niệm về cách sống đúng đắn.

– Cách sống “sành điệu” của tuổi trẻ thời hội nhập là không ngừng học tập để có tri thức hiện đại, không ngừng rèn luyện để có sức khoẻ tốt, trung sống hài hoà với môi trường thiên nhiên và xã hội xung quanh mình

– Nêu tác hại của quan niệm và cách sống sai trái trên.

* Kết bài :

Phê phán và nêu bài học rút ra.

 

Soạn bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” số 4

Câu 1 trang 31 – SGK Ngữ văn 11 tập 2: Phân tích cách thức bác bỏ trong hai đoạn trích (SGK Ngữ văn 11, tập hai, trang 31).

 

Trả lời: 

 

a) Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn văn của A. L. Ghéc-xen:
– Nội dung: Bác bỏ lối sống theo chủ nghĩa cá nhân.
– Cách bác bỏ: Dùng hình thức so sánh và lí lẽ để bác bỏ. Tác giả đã khéo léo so sánh lối sống cá nhân như là một khu vườn thơm được chăm sóc cẩn thận nhưng lại không thể chống được bão táp. Theo tác giá, người ta chẳng có gì “đáng thèm muốn” một cuộc sống như thế. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mỏng manh. Nó cần phải được trải qua những gian nan, thử thách.
b) Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn trích của Ngô Thì Nhậm:
– Nội dung: Bác bỏ quan điểm kẻ sĩ không nên ra phụng sự công việc của thiên triều.
– Cách bác bỏ: Tác giả đưa ra hàng loạt những lập luận có tính chất lựa chọn, để từ đó hướng người nghe đến những lựa chọn đúng đắn, hợp lí. Lời lập luận vừa rất chặt chẽ, lại vừa giàu cảm xúc. Vì thế mà tính thuyết phục của đoạn bác bỏ rất cao.

 

Câu 2 trang 32 – SGK Ngữ văn 11 tập 2: Trong buổi hội thảo về kinh nghiệm học môn Ngữ Văn của lớp có hai quan niệm:

 

a) Muốn học giỏi môn Ngữ Văn chỉ cần đọc nhiều sách, học thuộc nhiều thơ văn.
b) Không cần đọc nhiều sách, không cần học thuộc nhiều thơ văn, chỉ cần luyện nhiều về tư duy, về cách nói, cách viết là có thể học giỏi môn Ngữ Văn.
Anh (chị) hãy bác bỏ một trong hai quan niệm đó, rồi đề xuất một vài kinh nghiệm học Ngữ Văn tốt nhất.

 

Trả lời:

* Triển khai viết đoạn văn theo bố cục dưới đây:

– Nêu ý kiến cần bác bỏ.
– Phân tích nguyên nhân (cả hai quan niệm trên đều bắt nguồn từ những suy nghĩ phiến diện, từ thái độ học tập, ý thức, động cơ,… rèn luyện, phấn đấu hạn chế,…)
– Chỉ ra những tác hại của những nhận thức sai lệch đó (ảnh hưởng xấu tới kết quả học tập, tới sự rèn luyện phẩm chất đạo đức của thanh niên, học sinh,…).
– Đề xuất một vài suy nghĩ và hành động đúng đắn về vấn đề bàn luận.
* Bài viết (đoạn văn) cần viết sao cho luận cứ sáng sủa, rành mạch, sắp xếp hợp lí, dẫn chứng khoa học và chặt chẽ.
Ví dụ:  Có ý kiến cho rằng: “Muốn học giỏi môn Ngữ Văn chỉ cần đọc nhiều sách, học thuộc nhiều thơ văn”. Đó là ý kiến chưa hoàn toàn đúng. Quan niệm trên hẳn nảy sinh từ những người có suy nghĩ phiến diện, có thái độ học tập không nghiêm túc. Hoặc cũng có thể do người có suy nghĩ đó hạn chế về hiểu biết, đặc biệt là với việc học văn. Nếu chỉ cần đọc nhiều sách, học thuộc nhiều thơ thì việc học văn sẽ trở nên lệch, nhạt nhẽo. Một người chăm chỉ đọc sách, còn cần rèn luyện tư duy, cách nói, cách viết để việc học văn thực sự khoa học, có hiệu quả. Hơn nữa vừa đọc nhiều sách, vừa kết hợp rèn luyện tư duy, cách nói, cách viết cũng chính là chúng ta đang vừa học vừa hành. Nhờ vậy việc học văn sẽ trở nên thú vị hơn, văn có thể phục vụ chúng ta trong cuộc sống…

Câu 3 trang 32 – SGK Ngữ văn 11 tập 2: Có quan niệm cho rằng: “Thanh niên, học sinh thời nay phải biết ăn diện, nhuộm tóc, hút thuốc lá, uống rượu, vào các vũ trường,… thế mới là cách sống “sành điệu” của tuổi trẻ thời hội nhập“. Anh (chị) hãy lập dàn ý và viết bài nghị luận bác bỏ quan niệm trên.

 

Trả lời: 
 

* Lập dàn ý; bài văn cần triển khai được các ý sau:

   – Dẫn dắt đưa ra quan niệm
–  Giải thích thế nào là “sành điệu”
– Những biểu hiện của cách sống sành điệu
– Nguyên nhân dẫn đến lối sống ‘sành điệu” của giới trẻ
– Hậu quả của lối sống đó
– Giải pháp, cách khắc phục
– Liên hệ bản thân.
* Viết văn
  Gần đây có nhiều bạn đua đòi theo những lối ăn chơi không lành mạnh. Họ quan niệm rằng: “Thanh niên, học sinh thời nay phải biết ăn diện, nhuộm tóc, hút thuốc lá, uống rượu, vào các vũ trường,… thế mới là cách sống “sành điệu” của tuổi trẻ thời hội nhập “. Đây là một vấn đề chúng ta rất cần quan tâm và cảnh báo mọi người.
  Vậy như thế nào là “sành điệu”.  Nhiều người nghĩ sành điệu là phải khác người. Cái áo phải quái dị hơn người, phải ngắn hơn người một tí, cái quần phải rộng thùng thình hay những lọn tóc phải vừa xanh vừa đỏ lại hoe vàng, thế mới là “sành điệu” Thực ra “sành điệu” là từ có nguồn gốc từ phương tây, ý chỉ những người hiểu biết cách ăn mặc phù hợp và tinh tế. Như thế, chắc hẳn “sành điệu” không phải là phải biết ăn diện, nhuộm tóc, hút thuốc lá, uống rượu, vào các vũ trường,…Vậy,  hẳn quan niệm trên là một quan niệm phiến diện, sai lầm cần phải chấn chỉnh lại.
  Nhưng cách ăn mặc sành điệu thực sự tinh tế, phù hợp là như thế nào? Sành điệu theo thuần phong mĩ tục không có nghĩa chúng ta phải mặc áo dài hay áo the khăn xếp mà đến lớp. Cái áo dài hay áo the khăn xếp giờ đã trở thành quốc phục nen chỉ cần mặc trong các ngày lễ. Thế đấy các bạn ạ! Sự sang trọng và văn minh đâu chỉ hiểu đơn thuần là ta đang mặc cái gì, mà còn phải hiểu thêm, ta mặc nó theo cách nào. Cách mặc ấy cần phù hợp với lứa tuổi, với đặc trưng của dân tộc và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế gia đình! Không hiểu biết vể những điều này, chúng ta không bao giờ văn minh được, càng không thể nào vươn tới một cách ăn mặc vừa đẹp vừa lịch sự, lại vừa văn hóa nữa”. Chẳng hạn, nếu một cơ quan, một công ty mặc đồng phục lịch sự, kín đáo thì chúng ta cũng mặc như vậy; đến trường, là học sinh chúng ta nên mặc đồng phục, đeo thẻ… Khi đi chơi chúng ta có thể ăn mặc thoải mái hơn những cũng cần chú ý hoàn cảnh xung quanh để ăn mặc sao cho phù hợp. Chẳng hạn 
không ai vô duyên đến mức mặc váy đỏ ngắn đến dự một đám tang, hoặc không nên mặc đồ hở hang vào chùa…
  Lối sống sành điệu sai chuẩn đó có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do cách giáo dục của gia đình, do bản thân bạn đó thích ăn chơi, đua đòi. Quan trọng hơn cả là do sự thiếu hiểu biết hoặc cố tình hiểu sai về cách ăn mặc sành điệu.
  Là một học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường chúng ta cần có cách hiểu đúng đắn về một khái niệm, biết cách ăn mặc phù hợp, chọn lối sống lành mạnh…như vậy là sành điệu. Cùng với đó, chúng ta cần biết tuyên truyền, giải thích cho các bạn chưa hiểu về lối sống sành điệu để các bạn lựa chọn được lối sống phù hợp.
 
 

Soạn bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” số 5

Bài 1 (trang 31 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn văn của A. L. Ghéc xen:

– Nội dung: bác bỏ lối sống chủ nghĩa cá nhân

– Cách bác bỏ:

Sử dụng việc so sánh, lí lẽ để bác bỏ. Tác giả so sánh lối sống cá nhân như khu vườn được chăm sóc cẩn thận nhưng không chống được bão táp

– Tác giả cho rằng chẳng ai thèm muốn cuộc sống đầy đủ tiện nghi nhưng chỉ ở trong hàng rào.

– Con người chỉ hạnh phúc khi trải qua gian nan, thử thách

b, Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn trích Ngô Thì Nhậm:

– Nội dung: Bác bỏ quan điểm kẻ sĩ không nên phụng sự việc thiên triều

– Cách bác bỏ: Không phê phán trực tiếp mà phân tích những khó khăn trong sự nghiệp chung nỗi lo lắng và lòng mong đợi người tài của nhà vua

   + Khẳng định đất nước ta có nhiều người tài có thể ra giúp nước

   + Đưa ra những lập luận có tính lựa chọn để người nghe đến những lựa chọn đúng đắn, hợp lí, lời lập luận chặt chẽ, giàu cảm xúc

   + Tính thuyết phục của đoạn văn rất cao bởi tác giả sắp xếp hệ thống luận điểm và luận cứ chặt chẽ.

Diễn đạt:

   + Từ ngữ trang trọng, giọng điệu chân thành, khiêm nhường, sử dụng câu tường thuật, câu hỏi tu từ, dùng lí lẽ dẫn chứng kết hợp với hình ảnh so sánh

– Đoạn văn vừa có tính bác bỏ, vừa có tính động viên, khích lệ người hiền tại

Bài 2 (trang 33 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Hai ý kiến được trích dẫn đều cần bác bỏ

– Phân tích nguyên nhân:

   + Cả hai đều xuất phát từ suy nghĩ phiến diện, thái độ học tập, ý thức, động cơ phấn đấu hạn chế

– Những tác hại nhận thức sau lệch đó ảnh hưởng tới thái độ học tập, kết quả, phẩm chất đạo đức của lớp học sinh

– Một số ý kiến giúp nâng cao khả năng viết văn:

   + Tôn trọng cảm xúc cá nhân

   + Đọc nhiều sách, đa dạng các loại sách

   + Trải nghiệm cuộc sống, quan sát, học hỏi

→ Viết văn cũng chính là hành trình sống và học hỏi nên đòi hỏi sự kiên trì, chăm chỉ luyện tập.

Câu 3 (Trang 31 sgk ngữ văn 11 tập 2):

MB: Bác bỏ quan niệm sống “Thanh niên, học sinh thời nay phải biết nhuộm tóc, uống rượu, hút thuốc, vào vũ trường, thế mới là sống sành điệu

TB: Nêu tình trạng của quan niệm sống thanh niên, học sinh phải biết nhuộm tóc, hút thuốc, vào vũ trường mới là sành điệu …

– Chỉ ra nguyên nhân của lối sống này

– Vấn đề cần bác bỏ: bản chất của quan niệm sống ấy thực ra là lười biếng, muốn thụ hưởng, sống vô trách nhiệm

– Cách bác bỏ: nêu ra lý lẽ, trích dẫn thực tế

– Nêu ra quan niệm sống đúng đắn, khoa học

KB: Phê phán lối sống, quan niệm sống sai trái

 

Nguồn: Tổng Hợp