Hướng dẫn soạn bài “Con cò”( Chế Lam Viên) văn học 9 chi tiết nhất

Tài liệu xin giới thiệu đến các bạn học sinh lớp 9 tài liệu Soạn bài Con cò của Chế Lan Viên được chúng tôi đăng tải sau đây.Với mẫu bài soạn này giúp các bạn học sinh tổng hợp được kiến thức và gợi ý trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa Ngữ Văn 9 tập 2 trang 48, 49. Ngoài ra các bạn học sinh tham khảo thêm một số dạng đề văn về bài Con cò như :suy nghĩ về tình mẫu tử trong bài con cò , Phân tích bài tơ con cò  để có thêm nhiều tài liệu học tập. Chúc các bạn học tập tốt.

Soạn bài Con cò của Chế Lan Viên đầy đủ

I. Kiến thức cơ bản

1. Về tác giả

– Chế Lan Viên (1920- 1989) tên thật là Phan Ngọc Hoan

– Quê quán: huyện Cam Lộ- tình Quảng Trị nhưng ông lớn lên ở Bình Định

– Sự nghiệp sáng tác:

+ Trước Cách mạng tháng 8 Chế Lan Viên nổi tiếng với phong trào thơ mới với tập thơ “Điêu tàn” (1937)

+ Với hơn 50 năm sáng tác, ông có nhiều tìm tòi ở những tập thơ hay gây được tiếng vang trong công chúng, Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ hiện đại thế kỉ XX

+ Năm 1996 ông được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

– Phong cách sáng tác: Ông được đánh giá là một nhà thơ có phong cách và đặc sắc. Thơ ông lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ, triết lí và khả năng sáng tạo hình ảnh.

2. Tác phẩm

* Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ “Con cò” sáng tác năm 1962, in trong tập “Hoa ngày thường- Chim báo bão” của Chế Lan Viên.

* Bố cục: 3 phần

Khổ 1: Hình ảnh con cò theo lời ru đến với tuổi thơ con, đó là biểu tượng cho cuộc đời lam lũ của mẹ

– Khổ 2: Hình ảnh con cò trong tiềm thức của con và theo con suốt cuộc đời dài rộng

– Khổ 3: Ý nghĩa lời ru qua hình ảnh con cò, con cò là biểu tượng cho tấm lòng người mẹ

* Giá trị nội dung

– Khai thác hình tượng con cò trong những câu hát, lời ru, bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru trong cuộc đời mỗi người

* Giá trị nghệ thuật

– Bài thơ thành công trong với thể thể thơ tự do, nhiều câu mang dáng dấp của thể thơ 8 chữ nên cảm xúc được thể hiện linh hoạt, giọng điệu suy ngẫm mang tính triết lí, vận dụng sáng tạo ca dao

3. Hình tượng bao trùm cả bài thơ là hình tượng con cò. Đó là con cò trong ca dao truyền thống, xuất hiện rất phổ biến và được dùng với nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng ý nghĩa phổ biến nhất là hình ảnh người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng luôn thể hiện được những đức tính tốt đẹp và niềm vui sống.

4. Bài thơ được tác giả chia làm ba đoạn:

– Đoạn 1: hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ.

– Đoạn 2: hình ảnh con cò đi vào tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽ theo con người đi suốt cuộc đời.

– Đoạn 3: từ hình ảnh con cò, nhà thơ suy ngẫm và triết lý về ý nghĩa của lời ru và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người.

5. Trong đoạn đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng những câu ca dao:

Con cò bay lả bay la
Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng

Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng

Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

Trong hai bài ca dao trước, hình ảnh con cò gợi tả không gian và khung cảnh quen thuộc, nhịp điệu nhẹ nhàng, thong thả của cuộc sống thời xưa. Trong bài ca dao sau (Con cò mày đi ăn đêm…), hình ảnh con cò lại tượng trưng cho những con người, nhất là người phụ nữ đang nhọc nhằn, vất vả để kiếm sống nuôi con.

6. Hình tượng trung tâm trong bài thơ là cánh cò nhưng cảm hứng chủ đạo lại là tình mẹ. Hình ảnh con cò đã gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng của người mẹ. Bởi vậy, những câu thơ mang tính khái quát trong bài đều là những câu thơ chan chứa tình cảm yêu thương của người mẹ:

Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

Đó là một quy luật tình cảm bền vững và sâu sắc, thể hiện tình cảm yêu thương vô bờ bến của người mẹ. Dù ở đâu, bên mẹ hay đến phương trời khác, dù còn nhỏ hay đã lớn khôn thì con vẫn được mẹ hết lòng thương yêu, che chở.

Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi.

Lời ru cũng là khúc hát yêu thương. Sự hoá thân của người mẹ vào cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa, kết tụ những hi sinh, gian khổ, nhọc nhằn để những lời yêu thương càng trở nên sâu sắc, đằm thắm. Câu thơ cuối là một hình ảnh rất đẹp. Cánh cò vỗ qua nôi như dáng mẹ đang nghiêng xuống chở che, đang nói với con những lời tha thiết của lòng mẹ.

II. Rèn luyện kỹ năng

Dựa vào đặc điểm nghệ thuật của bài thơ, có thể nhận diện:

1. Về thể thơ:

Trong bài thơ này, tác giả sử dụng thể thơ tự do nhưng các đoạn thường được bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp gợi âm điệu lời ru. Tuy nhiên, trong bài thơ, ta còn nhận thấy giọng suy ngẫm, triết lý.

2. Về hình ảnh:

Hình ảnh con cò trong ca dao trở thành điểm tựa cho những liên tưởng, tưởng tượng của tác giả. Những hình ảnh trong bài thơ vừa rất gần gũi, xác thực nhưng đồng thời cũng giàu ý nghĩa biểu tượng và sắc thái biểu cảm.

Soạn bài Con cò của Chế Lan Viên ngắn gọn

Bố cục:

– Đoạn (I): Hình ảnh con cò qua lời ru đến với con người từ thuở ấu thơ.

– Đoạn (II): Con cò qua lời ru đi vào tiềm thức tuổi thơ và theo đường đời.

– Đoạn (III): Từ hình ảnh con cò, suy ngẫm và triết lí về ý nghĩa lời ru và lòng mẹ.

I. Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 48 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

– Bài thơ được phát triển từ một hình tượng bao trùm là hình tượng con cò trong ca dao. Trong ca dao, hình ảnh con cò thường ẩn dụ với người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống đầy vất vả, nhọc nhằn nhưng giàu phẩm chất tốt đẹp.

– Trong đoạn đầu của bài thơ, tác giả có nhắc lại một số câu ca dao quen thuộc hoặc những từ ngữ về hình ảnh con có và mở rộng ý nghĩa biểu tượng để biểu hiện lòng mẹ lớn lao, sâu nặng đối với con và những lời hát ru.

Câu 2 (trang 48 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

Bố cục như đã chia ở phần trên. Qua bố cục, hình tượng con cò phát triển từ trong lời ru thơ ấu, rồi theo dấu trên những chặng đường đời, cuối cùng khơi nguồn cho những triết lí sâu xa về lòng mẹ và lời ru.

Câu 3 (trang 48 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

Trong đoạn đầu bài thơ, những câu ca dao được vận dụng là:

– Con cò bay lả bay la
Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng

– Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng

– Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong
|Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

Hình ảnh con cò được gợi ra trực tiếp từ các câu ca dao, tác giả chỉ lấy vài chữ trong mỗi câu ca dao nhằm gợi nhớ chứ không lấy nguyên vẹn. Cách vận dụng ấy ít nhiều thể hiện sự phong phú trong ý nghĩa biểu tượng của “con cò”.

Câu 4 (trang 48 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

– Hình tượng con cò là hình tượng người mẹ Việt Nam. Những người mẹ nhọc nhằn, vô danh và thầm lặng, hi sinh và thương yêu con cho đến suốt đời.

– Sự hoá thân của người mẹ vào cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa, kết tụ những hi sinh, gian khổ, nhọc nhằn để những lời yêu thương càng trở nên sâu sắc, đằm thắm. Câu thơ cuối là một hình ảnh rất đẹp. Cánh cò vỗ qua nỗi như dáng mẹ đang nghiêng xuống chở che, đang nói với con những lời tha thiết của lòng mẹ.

Câu 5 (trang 48 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

– Thể thơ tự do, nhịp ngắn, chậm diễn tả vẻ suy ngẫm như giọng tâm sự thầm thì của mẹ bên tai con, làm cho bài thơ truyền cảm, như những lời thủ thi tâm tình của một người mẹ bên chiếc nôi con thơ.

– Hình tượng con cò là hình tượng cũ, được sáng tạo lại mới mẻ trong thơ Chế Lan Viên, Những điệp ngữ như điệp khúc, như lời vỗ về “ngủ yên, ngủ yên, ngủ yên” trong câu hát dân gian làm cho bài thơ có sức lay động. Thí dụ:

Cò đứng ở quanh nôi

Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 48 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Con cò

– Lời ru xuất hiện đan xen với những đoạn thơ khác trong tác phẩm.

– Lời ru thể hiện tình yêu thương của người mẹ dành cho con. Tình yêu này được chuyển hóa, đồng nhất với những tình cảm lớn lao, như tình đồng bào (mẹ thương bộ đội, mẹ thương làng đói), tình yêu quê hương đất nước (mẹ thương đất nước).

– Lời ru thể hiện ước mơ của người mẹ về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tự do song song với nó là niềm tin vào kháng chiến của dân tộc sẽ toàn thắng.

– Lời ru xuất hiện ở Đoạn I của bài thơ.

– Lời ru là dáng nhìn của cội nguồn văn hóa dân gian (những lời ru truyền thống). Lời ru ấy còn nhằm khác họa hình ảnh người mẹ tảo tần, vất vả để chăm lo cho con thơ. Những nỗi vất vả ấy mẹ âm thầm chịu đựng để con có được những giấc ngủ an lành, không phân vân.

– Lời ru mang tinh thần nhân văn, nâng đỡ những tâm hồn trẻ thơ.

Câu 2 (trang 49 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

Đoạn văn tham khảo: Mẫu 1

Dù ở gần con,

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

Tình mẹ là thiêng liêng, cao quý. Bàn tay mẹ che chở, nâng đỡ con trên mỗi bước đường đời. Hình ảnh cò trắng đi từ lời ru ra đời thực, cò mẹ ben con suốt đời, mãi yêu cò con bé bỏng. Dù có lớn khôn, mẹ vẫn dõi theo con, mẹ là hiện thân của sức mạnh diệu kì, với tình thương bao la, một tình cảm không thể thay thế.

Đoạn văn tham khảo: Mẫu 2

Đoạn thơ trên kết tinh những suy ngẫm, triết lý sâu sắc của nhà thơ Chế Lan Viên về tình mẫu tử thiêng liêng. Tình mẹ được nhà thơ đặt trong tương quan so sánh với hình ảnh cò, cánh cò. “Cò sẽ tìm con”, “cò mãi yêu con” cũng như tấm lòng bao la của mẹ dù con ở đâu, dù là lúc nào, dù con làm gì mẹ vẫn luôn ở cạnh bên và trao cho con tình cảm yêu thương không gì có thể thay thế được. Tình yêu của mẹ như cánh cò chở che cho con trước những khó khăn, giông bão của cuộc đời. Hai câu thơ cuối cùng là lời khái quát vừa sâu sắc, lại vừa chân thành của nhà thơ về triết lý của tình mẫu tử. Đối với mẹ, con lúc nào cũng bé nhỏ và cần được nâng đỡ, chở che. Cuộc sống dù có biến chuyển, đối thay như thế nào thì tình yêu thương của mẹ vẫn nồng ấm, đong đầy, chữa lành những vết thương lòng cho con, nâng bước con trên những chặng đường dài. Đoạn thơ với những phép lặp cấu trúc “dù ở”, hình ảnh “cò” mang tính biểu tượng cao được lặp lại hai lần, cùng với những câu văn có dung lượng ngắn, nhịp thơ nhanh, đã góp phần thể hiện thành công, cảm động triết lý về tình mẫu tử của nhà thơ.

Nguồn: Tổng Hợp