Hướng dẫn soạn bài “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” văn học 9 chi tiết nhất

Mời quý thầy cô cùng các bạn học sinh lớp 9 tham khảo tài liệu Soạn bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Vũ Khoan được đăng tải sau đây.Tài liệu bao gồm 2 mẫu bài soạn: đầy đủ và ngắn gọn, được chúng tôi biên soạn theo nội dung sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 tập 2 trang 30. Với tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh ôn tập, hiểu bài từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn để đạt được kết quả trong bài thi học kì 2 sắp tới. Mời các bạn cùng theo dõi và tải bài soạn tại đây.

Soạn bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới đầy đủ

I. Về tác giả, tác phẩm

1. Vài nét về tác giả

– Vũ Khoan (sinh năm 1937)

– Quê quán: huyện Phú Xuyên, Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội)

– Cuộc đời và sự nghiệp:

+ Vũ Khoan được biết đến là một nhà chính trị và ngoại giao xuất sắc của Việt Nam

+ Ông từng bắt đầu công việc ngoại giao cho quốc gia từ 1956 với công việc phiên dịch

+ Năm 1990, ông làm Thứ trưởng Bộ ngoại giao

+ Từ 28 tháng 1 năm 2000 đến ngày 8 tháng 8 năm 2002 ông làm Bộ trưởng Bộ Thương mại

+ Ông là Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ tháng 8 năm 2002 đến cuối tháng 6 năm 2006

+ Với rất nhiều những đóng góp của mình cho nền ngoại giao quốc gia, ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, hai Huân chương Lao động hạng Nhì

2. Về tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

– Bài viết này đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001, in trong tập Một góc nhìn của trí thức, NXB Trẻ, Thành phố HCM, 2002

b. Hoàn cảnh sáng tác

– Phần 1 từ đầu đến “thiên niên kỷ mới”: Sự chuẩn bị bản thân con người là sự chuẩn bị quan trọng nhất trong hành trang bước vào thế kỉ mới

– Phần 2: tiếp theo cho đến “kinh doanh và hội nhập”: Tình hình thế giới và những nhiệm vụ của đất nước

– Phần 3: tiếp theo cho đến hết. Những điểm manh, điểm yếu của con người Việt Nam và nhiệm vụ của con người khi bước vào thế kỉ mới

c. Giá trị nội dung

– Tác phẩm đã nêu ra bình luận cụ thể về những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách và thói quen của người Việt Nam, từ đó, đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi con người Việt Nam phải khắc phục điểm yếu để bước vào thế kỉ mới

d. Giá trị nghệ thuật

– Bài viết đặt ra vấn đề nóng hổi, cấp thiết với cách nhìn nhận khách quan kết hợp với lí lẽ lập luận giản dị, chặt chẽ và thái độ tôn trọng đối tượng, tinh thần trách nhiệm của tác giả. Việc sử dụng ngôn ngữ báo chí gắn với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, cách nói giản dị, dễ hiểu, sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ sinh động, cụ thể và hàm súc cũng là những nét tiêu biểu về nghệ thuật của tác phẩm.

II. Kiến thức cơ bản

1. Người Việt Nam chúng ta có nhiều phẩm chất tốt đẹp, đó là: lòng yêu nước, là đức tính cần cù, dũng cảm, là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”… Đó là những phẩm chất không ai có thể phủ nhận bởi chúng đã được kiểm nghiệm và khẳng định trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên, không ai có thể toàn vẹn, cùng với những phẩm chất cần luôn được phát huy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những mặt hạn chế cần sửa đổi. Nhận thức được những mặt mạnh để phát huy, đồng thời cũng nhận thức được những mặt còn yếu kém cần khắc phục là điều hết sức cần thiết để mỗi con người nói riêng và cộng đồng Việt Nam nói chung vươn lên tự hoàn thiện mình, không ngừng tiến bộ để đáp ứng những yêu cầu mới của lịch sử đất nước.

2. Bài viết của Phó Thủ tướng Vũ Khoan trong dịp mở đầu thế kỷ mới đã nêu ra một cách chính xác và kịp thời những vấn đề thiết thực đối với con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, lực lượng quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng đất nước trong thế kỷ mới.

3. Có thể xác định lại dàn ý của bài viết như sau:

– Để chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, việc chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Đây là luận cứ quan trọng mở đầu, có ý nghĩa đặt vấn đề.

– Mở ra hướng lập luận cho toàn bài.

– Những lí lẽ xác minh cho luận cứ này:

+ Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử.

+ Trong thế kỉ mà nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò con người lại càng nổi trội.

4. Tác giả đã nêu ra và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu nào trong tính cách, thói quen của người Việt Nam qua? Những điểm mạnh, điểm yếu ấy có quan hệ như thế nào với nhiệm vụ đưa đất nước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại ngày nay?

a) Những điểm mạnh, điểm yếu của ta:

– Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành, sức sáng tạo bị hạn chế do lối học nặng về lí thuyết.

– Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu tính tỉ mỉ, chưa có thói quen coi trọng nghiệm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ khẩn trương.

– Đoàn kết, đùm bọc nhất là trong công cuộc chiến đấu chống ngoại xâm nhưng lại thường đố kị trong việc làm ăn, trong lối sống.

– Thích ứng nhanh giúp ta tận dụng cơ hội ứng phó với thách thức, đối với tiến trình hội nhập nhưng kì thị kinh doanh, quen bao cấp, khôn vặt, không coi trọng chữ tín trong kinh doanh.

b) Những điểm mạnh, điểm yếu nêu trên có quan hệ đến nhiệm vụ đưa đất nước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại ngày nay. Nhận thức được điều đó, chúng ta có thể lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu.

Lớp trẻ là những người làm chủ đất nước trong thế kỉ XXI phải nhận thức điều đó đã hình thành những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất.

5. Trong hành trang vào thế kỷ mới, sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất, bởi vì:

– Con người bao giờ cũng là động lực phát triển của lịch sử.

– Trong thời kỳ nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, con người lại càng có vai trò nổi bật.

6. Trong sự phát triển chung của thế giới, khi khoa học, kỹ thuật có tốc độ phát triển vô cùng mạnh mẽ, sự giao thoa, hội nhập ngày càng sâu rộng giữa các nền kinh tế, đất nước ta nói chung và các thế hệ hiện tại nói riêng đang đứng trước những nhiệm vụ vô cùng trọng đại, đó là đồng thời giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồng thời nhanh chóng tiếp cận với nền kinh tế tri thức.

7. Khi nêu ra những ưu điểm và nhược điểm của người Việt Nam, tác giả đã không làm một phép liệt kê giản đơn từ ưu điểm đến nhược điểm mà cứ mỗi khi nêu một ưu điểm, tác giả lại đề cập đến một nhược điểm. Điều đáng chú ý là những ưu điểm và nhược điểm đó luôn được đặt trong yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Cụ thể:

+ Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng lại thiếu kiến thức cơ bản, kiến thức thực hành.

+ Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ lao động khẩn trương.

+ Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau nhưng đồng thời lại cũng thường đố kị nhau trong công việc.

+Bản tính thích ứng nhanh nhưng lại có nhiều hạn chế trong thói quen, nếp nghĩ, quen bao cấp, rất sùng ngoại nhưng có khi lại bài ngoại đến mức cực đoan, khôn vặt, ít giữ chữ “tín”.

8. Thông thường, trong sách báo và trong các phương tiện thông tin đại chúng, khi nói đến phẩm chất của người Việt Nam, người ta chỉ đề cập đến cái tốt, đến yếu tố tích cực, đáng biểu dương, học tập. Cách ca ngợi một chiều như vậy không phải không có yếu tố tích cực, thậm chí còn rất cần thiết khi chúng ta muốn phát huy sức mạnh của dân tộc trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, thống nhất Tổ quốc.

Tuy nhiên, điều đó nếu lặp đi lặp lại mãi sẽ khiến chúng ta không thể đánh giá đúng năng lực và phẩm chất của mình, dẫn đến thái độ ngộ nhận, tự thoả mãn, không chịu học hỏi người khác. Bài viết này đã mang đến cho bạn đọc cảm giác rất bất ngờ. Tác giả không ca ngợi một chiều, cũng không chỉ toàn phê phán một cách cực đoan mà nhìn nhận song song, đối chiếu và đánh giá những điểm mạnh cũng như những điểm yếu của người Việt Nam trong quan hệ với công việc, trong yêu cầu của sự phát triển xã hội. Đó là sự đánh giá rất khách quan và khoa học, xuất phát từ thiện chí của tác giả muốn để chúng ta nhìn nhận về mình một cách đúng đắn, chân thực, ý thức được những mặt tốt cũng như mặt chưa tốt của mình để phát huy hoặc sửa đổi.

III. Rèn luyện kỹ năng

Rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ: Trong văn bản, tác giả đã sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ: “nước đến chân mới nhảy”, “trâu buộc ghét trâu ăn”, “liệu cơm gắp mắm”, “bóc ngắn cắn dài”… Việc sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ dân gian như vậy khiến cho bài viết thêm phần sinh.

Soạn bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới ngắn gọn

Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu … càng nổi trội): Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới.

– Phần 2 (tiếp … điểm yếu của nó): Bối cảnh thế giới và những yêu cầu của nó.

– Phần 3 (tiếp … và hội nhập): Điểm mạnh, điểm yếu của người Việt Nam.

– Phần 4 (còn lại): Nhiệm vụ cấp thiết của thế hệ trẻ.

I. Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 30 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

– Tác giả viết bài này vào đầu năm 2001, chuyển giao giữa hai thế kỉ của toàn thế giới, với nước ta là tiếp bước công cuộc đổi mới từ cuối thế kỉ trước.

– Vấn đề: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới → Tính thời sự nóng hổi, có ý nghĩa lâu dài với sự phát triển hội nhập của đất nước.

– Nhiệm vụ: Nhìn nhận những hạn chế cần khắc phục để không bị tụt hậu và bắt kịp bước đi của thời đại. Đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp cận nền kinh tế tri thức.

Câu 2 (trang 30 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

a) Mở bài

– Để bước vào thế kỉ mới, lớp trẻ Việt Nam cần nhận ra cái mạnh, cái yếu của mình, để rèn luyện những thói quen tốt, thích ứng với đà phát triển của thế giới

b) Thân bài

– Tết Tân Tị là thời gian chuyển tiếp của hai thế kỉ và hai thiên niên kỉ.

– Con người là động lực phát triển của lịch sử, không gì bằng ta hãy chuẩn bị hành trang cho con người.

– Thế giới đang phát triển nhanh chóng về khoa học công nghệ thông tin, chúng ta cần thật nhiều nỗ lực mới hội nhập được vào nền kinh tế và văn hoá thế giới. Người Việt chúng ta có mặt mạnh, mặt yếu. Cần phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu mới hội nhập được vào nền kinh tế thế giới.

– Muốn hội nhập vào nền kinh tế thế giới phải giải quyết 3 nhiệm vụ:

+ Thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu của nền kinh tế cũ.

+ Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

+ Cần phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của người Việt Nam.

– Cái mạnh của người Việt ta là thông minh, nhạy bén với cái mới.

– Điểm yếu của chúng ta là những lỗ hổng về kiến thức do lối học vẹt, học chay

– Tuy có cần cù nhưng chúng ta thiếu tỉ mỉ. Trong lúc ấy người Nhật cũng cần cù nhưng còn biết tính toán cẩn trọng. Chúng ta thiếu lo xa, “nước đến chân mới nhảy”.

– Ảnh hưởng phong cách làm ăn cũ, chúng ta thiếu khẩn trương, thiếu tôn trọng những quy định nghiêm ngặt của công việc.

– Chúng ta cần tăng cường đoàn kết, bỏ thói đố kị, nhỏ nhen, khôn vặt, không coi trọng chữ tín trong thời đại in – tơ – nét toàn cầu như ngày nay.

c) Kết bài

– Mỗi người cần cố gắng rèn điểm mạnh, bỏ điểm yếu nếu muốn “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”

Câu 3 (trang 30 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

“Sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”. Vì máy móc và các yếu tố khác có tân tiến hiện đại đến bao nhiêu cũng là do con người sản xuất, sáng tạo ra, không thể thay thế được con người, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức.

Câu 4 (trang 30 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

Điểm mạnh yếu của con người Việt Nam và tác động tới nhiệm vụ đất nước:

– Thông minh nhạy bén với cái mới, song thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành → Không thích ứng với nền kinh tế mới.

– Cần cù sáng tạo nhưng thiếu tính tỉ mỉ, không coi trọng/quy trình → Ảnh hưởng nặng nề của phương thức sản xuất nhỏ và thôn dã, là vật cản ghê gớm.

– Đùm bọc, đoàn kết trong chiến đấu nhưng đố kị trong làm ăn và cuộc sống → Ảnh hưởng tới đạo đức, giảm đi sức mạnh và tính liên kết

– Bản tính thích ứng nhanh dễ hội nhập nhưng có tính kì thị trong kinh doanh, khôn vặt → Cản trở kinh doanh và hội nhập.

Câu 5 (trang 30 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

– Nhận xét của tác giả với các sách lịch sử và văn học:

+ Điểm giống: Phân tích, nhận xét những ưu điểm của người Việt: Thông minh, cần cù, sáng tạo, nhạy bén với cái mới, đoàn kết trong chiến đấu…

+ Điểm khác: Còn phê phán những khuyết điểm, hạn chế như thiếu kĩ năng thực hành, đố kị, khôn vặt, thiếu cẩn trọng…

– Thái độ tác giả: Khách quan khoa học, chân thực đúng đắn.

Câu 6 (trang 30 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

Những thành ngữ, tục ngữ được sử dụng: Nước đến chân mới nhảy, liệu cơm gắp mắm, trâu buộc ghét trâu ăn, bóc ngắn cắn dài… → Tác dụng: Cho bài viết sinh động, cụ thể, vấn đề mang tính uyên bác trở nên gần gũi dể hiểu.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 31 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

* Những dẫn chứng trong thực tế xã hội và nhà trường để làm rõ một số điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam.

– Một số điểm mạnh:

+ Đoàn kết xây dựng tập thể

+ Có chí tiến thủ, chịu khó học hỏi…

– Một số điểm yếu:

+ Thấy người khác có thể mạnh hơn mình thường hay ghen tị

+ Không muốn người khác giỏi hơn mình vì thế tìm cách để kìm hãm, hoặc làm giảm uy tín của họ

+ Một số bạn học sinh hay ăn cắp vặt, sẵn sàng quên đi việc học để sa vào bàn bi – a, trò chơi điện tử…

Nguồn: Tổng Hợp