Hướng dẫn soạn bài “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng văn học 9 chi tiết

Sau đây, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu đến các thầy cô và các bạn tài liệu soạn văn lớp 9: Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng, đã được đăng tải tại đây.Soạn văn là một công việc khá quan trọng đối với những bạn học sinh trước khi đến lớp, việc này sẽ giúp cho chúng ta hiểu trước một phần nội dung của bài học. Tài liệu soạn văn 9: Bắc Sơn, gồm hai phần chính là: soạn bài chi tiết và soạn bài ngắn gọn. Sau đây, chúng tôi xin mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Soạn văn Bắc Sơn chi tiết

I. Một vài nét về tác giả

– Nguyễn Huy Tưởng( sinh năm 1912)

– Quê quán: làng Dục Tú, từ Sơn, bắc Ninh nay thuộc xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội

– Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác:

+ Năm 1930, ông tham gia các hoạt động yêu nước của thanh niên học sinh ở Hải Phòng

+ Năm 1943 ông gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật và được bầu làm Tổng thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng. Sau đó ông tiếp tục hoạt động ở Hà Nội, Nam Định và Phúc Yên.

+ Năm 1951, ông tham gia chiến dịch biên giới

+ Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996

– Tác phẩm tiêu biểu: Bốn năm sau, An Tư công chúa, Truyện Anh Lục…

II. Kiến thức cơ bản về tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Vở kịch Bắc Sơn được Nguyễn Huy Tưởng sáng tác và đưa lên sân khấu vào đầu năm 1946 trong không khí sôi sục của những năm đầu cách mạng

2. Tóm tắt

Sau cuộc đối thoại với chồng là Ngọc, Thơm đã dần dần nhận ra sự thật về bản chất đê tiện và sự phản động của y. Cô cảm thấy đau xót và ân hận. Hai người cán bộ cách mạng là Thái và Cửu trong khi chạy trốn sự truy lùng của quân Pháp và tay sai (trong đó có Ngọc) đã chạy vào nhà Thơm – Ngọc. Sau phút lo lắng hoảng hốt, Thơm quyết định để hai người cán bộ cách mạng trốn tại nhà của mình. Ngọc đột ngột trở về nhà, Thơm quyết định che giấu và bảo vệ hai cán bộ cách mạng. Ngọc lại sấp ngửa chạy theo bọn lính Pháp tiếp tục truy lùng các chiến sĩ Bắc Sơn.

3. Bố cục

Có 2 phần (Chia theo 2 lớp kịch)

– Lớp 1: Cuộc đối thoại giữa Thơm – Thái – Cửu

– Lớp 2: Cuộc đối thoại giữa Thơm và Ngọc.

4. Giá trị nội dung

– Đoạn trích thể hiện những xung đột diễn ra trong nội tâm nhân vật Thơm, thúc đẩy diễn biến tâm trạng nhân vật để đi tới bước ngoặt quan trọng, làm nổi bật vẻ đẹp và sự chuyển biến trong nhận thức của nhân vật Thơm

5. Giá trị nghệ thuật

– Tác giả thành công trong việc xây dựng tình huống kịch: tình huống éo le, bất ngờ, bộc lộ rõ xung đột và thúc đẩy hành động kịch phát triển, tác giả đã tổ chức được các đối thoại với những nhịp điệu, giọng điệu khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn của hành động kịch.

III. Đọc – Hiểu văn bản

1. Tình huống kịch

– Khi Thái, Cửu bị Ngọc truy đuổi chạy vào đúng nhà Thơm (vợ Ngọc), tình huống này buộc buộc nhân vật Thơm phải có chuyển biến thái độ, dứt khoát đứng về phía cách mạng.

2. Nhân vật Thơm

– Hoàn cảnh:

+ Cha, em trai: hi sinh.

+ Mẹ: bỏ đi

– Còn một người thân duy nhất là Ngọc- chồng

+ Sống an nhàn, được chồng chiều chuộng (sắm sửa, may mặc…).

– Tâm trạng: Luôn day dứt, ân hận về cha, mẹ.

– Thái độ với chồng:

+ Băn khoăn, nghi ngờ chồng làm Việt gian.

+ Tìm cách dò xét.

+ Cố níu chút hi vọng về chồng

– Hành động:

+ Che giấu Thái, Cửu – hai chiến sĩ cách mạng ngay trong buồng của mình.

+ Khôn ngoan, che mắt Ngọc bảo vệ cho 2 chiến sĩ cách mạng.

⇒ Nghệ thuật miêu tả ⇒ Hành động táo bạo, bất ngờ ⇒ Là người có bản chất trung thực, lòng tự trọng, nhận thức về cách mạng nên đã biến chuyển thái độ, đứng hẳn về phía cách mạng.

⇒ Khẳng định chân lý: Cuộc đấu tranh cách mạng ngay cả khi bị đàn áp khốc liệt cũng sẽ không thể bị tiêu diệt, vẫn có thể thức tỉnh quần chúng, cả với những người ở vị trí trung gian như Thơm

3. Nhân vật Ngọc

– Là nhân vật giả nhân giả nghĩa

– Ham muốn địa vị, quyền lực, tiền tài

– Làm tay sai cho giặc (Việt gian)

– Tên Việt gian bán nước đê tiện, đáng khinh, đáng ghét.

⇒ Là một người hám lợi, hám danh

4. Nhân vật Thái, Cửu

– Bị truy đuổi – chạy vào nhà Thơm.

– Thái: giữ lại, tươi cười, định chạy ra cửa ⇒ Hành động bình tĩnh, sáng suốt.

– Cửu: vẻ mặt thất sắc, chĩa súng định bắn thất vọng, hoài nghi ⇒ Nóng nảy, hăng hái nhưng thiếu chín chắn.

⇒ Những chiến sĩ cách mạng kiên cường trung thành đối với Tổ quốc, cách mạng, đất nước…

Soạn văn Bắc Sơn ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi trong sgk

Câu 1 (trang 166 sgk Ngữ văn 9 tập 2)

Sự việc xảy ra trong gia đình nhà Thơm – Ngọc. Xung đột và hành động kịch tập trung vào hai nhân vật Thơm và Ngọc. Trước cái chết của cha, Thơm dần dần nhận ra bộ mặt phản bội của Ngọc. Ngọc đã theo giặc, dẫn đường cho chúng để chúng đàn áp làng Vũ Lăng, và đối xử man rợ đối với những người làm cách mạng. Cô vô cùng đau xót, ân hận trước hành động của chồng mình chính vì thế khi Thái và Cửu bị giặc truy bắt đã chạy nhầm vào nhà Thơm, được Thơm che giấu và cứu thoát họ.

Câu 2 (trang 166 sgk Ngữ văn 9 tập 2)

Tình huống đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong vở kịch. Nó thúc đẩy nhanh diễn biến sự việc, buộc nhân vật phải hành động, bộc lộ tính cách, phẩm chất, tư tưởng, quan điểm…

Xung đột kịch: Ngọc (chồng Thơm) dẫn lính đi lùng bắt cán bộ, du kích. Thái và Cửu chạy đúng vào nhà Ngọc. Tình huống ấy buộc Thơm phải có sự lựa khoát: hoặc là để cho Ngọc bắt cán bộ sẽ được yên, hoặc che giấu họ ngay trong nhà mình, vô cùng nguy hiểm. Thơm quyết định che dấu cán bộ, chiến sĩ và đứng hẳn về phía cách mạng

– Sự xuất hiện của Thái, Cửu đẩy mâu thuẫn kịch phát triển theo hướng khác: Trong hoàn cảnh nguy kịch, lòng tin của người cán bộ với nhân dân có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định tới thành bại của cách mạng

Câu 3 (trang 166 sgk Ngữ văn 9 tập 2)

Hoàn cảnh Thơm: quen cuộc sống an nhàn, được chồng chiều chuộng, mặc dù cha và em trai theo cách mạng thì cô vẫn đứng ngoài khởi nghĩa. Cha và em trai hi sinh, mẹ hóa điên, chỉ còn Ngọc là người thân nhưng y lại chính là phản động.

– Tâm trạng:

+ Sự ân hận, day dứt của Thơm: người cha lúc hi sinh, những lời cuối cùng của ông, khẩu súng trao lại cho Thơm, sự hi sinh của em trai, hình ảnh người mẹ hóa điên ám ảnh cô

+ Sự nghi ngờ của cô đối với Ngọc tăng: Thơm dò xét nhưng Ngọc lảng tránh, cô không dễ gì từ bỏ cuộc sống nhàn nhã mà chồng tạo ra

+ Tình huống bất ngờ xảy ra: Thái và Cửu chạy trốn vào nhà cô, cô phải lựa chọn giữa việc báo cho chồng biết hoặc che dấu cho hai chiến sĩ cách mạng

→ Đặt nhân vật vào tình huống gay cấn, căng thẳng để bộc lộ đời sống nội tâm, nỗi day dứt, đau xót, ân hận của Thơm để nhân vật lựa chọn đứng hẳn về phía cách mạng

– Tác giả khẳng định ngay cả khi cuộc đấu tranh bị đàn áp khốc liệt, cách mạng vẫn không bị tiêu diệt do sự bảo vệ, che chở của người dân.

Câu 4 (trang 166 sgk Ngữ văn 9 tập 2)

Tác giả để cho Ngọc bộc lộ bản chất của ý qua hành động truy lùng các cán bộ cách mạng, trong việc y tính toán tiền thưởng khi bắt được cán bộ, qua việc y định tậu ruộng, chạy hàm cửu phẩm, định trị cho thằng Tốn nào đó đã mua tranh ruộng của y. Ngọc quyết tâm làm tay sai để có tiền, đồng thời hắn ta cũng cố tỏ ra chiều vợ. Chính vì thế mà Thơm đã khéo léo đẩy Ngọc đi cùng với đồng bọn, kín đáo báo cho hai cán bộ biết bọn tay sai đứng ở sau nhà, lối đi từ buồng ra. Ngọc là người ham tiền, quyết tâm bắt hai cán bộ, y còn ngụy biện rằng y không bắt, người khác cũng bắt và bắt sớm cho dân đỡ khổ.

Hai nhân vật Thái và Cửu đều lâm vào tình cảnh nguy khốn. Trong khi Cửu xốc nổi, muốn hành động liều lĩnh ngay, hối hận vì đã đưa Thái vào chỗ nguy hiểm (vào nhà vợ Việt gian, chắc là chị ta cũng Việt gian) thì Thái lại hết sức bình tĩnh. Thái tin vào dòng máu nhà cụ Phương. Thái nghe giọng nói biết là Thơm không bao giờ làm việc bán rẻ hai người. Chính nhờ sự tin tưởng tuyệt đối của Thái mà Thơm mới đủ bình tĩnh để cứu họ, đề nghị hai người nói nhỏ, không ra xem xét tình hình và lánh vào buồng.

Nét nổi bật của Thái và Cửu là bình tĩnh, không sợ chết, với Thái còn là sự nhạy cảm, tin rằng người như Thơm không thể làm điều xấu, điều ác.

Câu 5 (trang 166 sgk Ngữ văn 9 tập 2)

Nguyễn Huy Tưởng đã thành công trong việc xây dựng tình huống, tổ chức đối thoại, biểu hiện tâm lí và tính cách nhân vật trong lớp kịch này:

  • Tác giả thành công trong việc xây dựng xung đột truyện kịch tính. Xung đột cơ bản của vở kịch đến hồi bốn đã bộc lộ gay gắt trong sự đối đầu của Ngọc với Thái, Cửu, trong hoàn cảnh cuộc khởi nghĩa bị đàn áp và Ngọc cùng đồng bọn đang truy lùng những người cách mạng. Đồng thời xung đột kịch cũng diễn ra trong nội tâm nhân vật Thơm, thúc đẩy diễn biến tâm trạng nhân vật để đi tới bước ngoặt quan trọng.
  • Xây dựng tình huống truyện đặc sắc: Tình huống gay cấn, bất ngờ, bộc lộ rõ xung đột và thúc đẩy hành động kịch phát triển.
  • Về tổ chức đối thoại: Tác giả là tổ chức được các đối thoại với những nhịp điệu, giọng điệu khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn của hành động kịch (đối thoại giữa Thái, Cửu với Thơm ở lớp II có nhịp điệu căng thẳng, gấp gáp, giọng lo lắng, hồi hộp). Đối thoại đã bộc lộ nội tâm và tính cách nhân vật (đặc biệt ở lớp III).
  • Về biểu hiện tâm lí và tính cách nhân vật: Tâm lí nhân vật diễn ra khá phức tạp, chân thật (nhân vật Thơm), tính cách nhân vật được thể hiện khá rõ nét và thống nhất trong lời nói, hành động (nhân vật Ngọc).

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 167 sgk Ngữ văn 9 tập 2)

Học sinh tự phân vai và đóng lại vở kịch này.

Câu 2 (trang 167 sgk Ngữ văn 9 tập 2)

Xác định thể loại những vở kịch đã học:

Có thể có nhiều loại kịch dựa trên những tiêu chí phân chia khác nhau:

– Dựa theo nội dung và tính chất của nội dung có thể chia thành bi kịch, hài kịch, chính kịch.

– Dựa theo tính chất trình diễn có thể chia thành kịch hát, kịch nói.

– Dựa trên cách tổ chức ngôn ngữ tác phẩm có thể chia thành kịch hát, kịch thơ, kịch nói.

Những loại kịch mà em đã học gồm kịch hát (sân khấu dân gian: kịch hát – chèo Quan Âm Thị Kính); hài kịch (Ông Giuốc- đanh mặc lễ phục – trích “Trưởng giả học làm sang”- Mô-li-e); kịch nói (Bắc Sơn – Nguyễn Huy Tưởng).

Nguồn: Tổng Hợp