Hướng dẫn phân tích tác phẩm “Số phận con người (M. Sô-lô-khốp)” chi tiết nhất 2021

Top 5 bài  phân tích tác phẩm “Số phận con người (M. Sô-lô-khốp)” chi tiết nhất 2021, giúp các em hiêủ rõ tính cách Nga kiên cuòng và nhân hậu. Đồng thời nắm được nghệ thuật kể chuyện, khắc họa tính cách và  sử dụng chi tiết của Sô-lô-khốp

Bài phân tích ” Số phận con người” số 1

  Sô-lô-khốp nhà văn Nga lỗi lạc, ông được nhận giải thưởng Nô-ben văn học năm 1965. Ông để lại số lượng tác phẩm đồ sộ, những bộ tiểu thuyết lớn và những truyện ngắn hay với cái nhìn chân thực về cuộc sống và chiến tranh. Số phận con người được sáng tác dưới sự chỉ đạo của Đảng cộng sản Liên Xô, khôi phục tinh thần dân chủ, chống sùng bái cá nhân và trong xu thế quan tâm đến số phận con người sau chiến tranh. Tác phẩm của Sô – lô – khốp mang tinh thần thời đại rất rõ nét.

    Xô-cô-lốp bị thương, anh bị bắt làm tù binh trong trại tập trung của phát xít Đức với những cực hình vô nhân đạo. Không chỉ vậy anh còn mất đi tất cả người thân, gia đình vì bom đạn phát xít: vợ và hai con gái. Đây có lẽ là nỗi đau đớn lớn nhất cuộc đời anh, những vết thương về thể xác có thể lành theo năm tháng, còn những mất mát, đau thương về tinh thần thi năm tháng cũng không thể chữa lành. Và niềm an ủi duy nhất, cuối cùng cho tầm hồn đầy đau thương ấy là đứa con trai xuất sắc, là đại úy pháo binh, là học sinh học giỏi toán lại bị tên thiện xạ Đức bắn trúng ngay trong khoảnh khắc chiến thắng. Anh phải chôn niềm hi vọng cuối cùng của cuộc đời mình. Bước ra khỏi cuộc chiến, anh không còn lấy một người thân ở bên cạnh, nỗi cô đơn, trống trãi, hụt hẫng bủa vây lấy người đàn ông này.

    Bởi vì quá đau thương, anh không dám trở về quê hương. Mảnh đất quê hương gắn với biết bao kỉ niệm đẹp đẽ của anh và gia đình, nếu anh trở về đó, từng mảnh kí ức ùa về, có lẽ anh sẽ không thể sống nổi. Chính vì vậy Xô-cô-lốp lựa chọn cách đến ở nhờ nhà bạn, đề vợi bớt nỗi đau đớn và u buồn. Tại anh anh làm nghề lái xe để mưu sinh và trong những ngày đó anh bắt đầu nghiện rượu, anh tìm đến rượu để quên đi quá khứ, chạy trốn những kí ức đeo bám anh. Nhưng anh càng chạy trốn, càng tìm đến rượu thì quá khứ càng ám ảnh anh bấy nhiêu. Sau đó Xô-cô-lốp bị mất bằng lái, anh thất nghiệp nên đã di chuyển đến một vùng đất khác để sinh sống. Những vết tích mà chiến tranh để lại đã hằn in trên đôi mắt màu tro đượm buồn của anh.

    Bé Va-ni-a cũng là một số phận bất hạnh khác, bố mẹ em chết vì bom đạn phát-xít. Va-ni-a trở thành một đứa trẻ mồ côi, không nơi tương tựa, em sống lang thang trên đường phố, cuộc sống hết sức cơ cực “bạ đâu ngủ đấy, ai cho gì thì ăn nấy”. Cả Va-ni-a và Xô-cô-lốp đều là những nạn nhân của chiến tranh phát-xít, họ bị mất gia đình, người thân, sống cuộc đời cô đơn, trơ trọi, nếu thiếu bản lĩnh, nghị lực họ sẽ bị cuộc đời vùi dập.

    Số phận đau thương, bất hạnh đã khiến cho hai con người người ấy gặp nhau, bằng tình yêu thương Xô-cô-lốp đã quyết định nhận bé Va-ni-a làm con. Xô-cô-lốp mang hạnh phúc vô bờ bến cho bé Va-ni-a. Em “nhảy chồ lên cổ, hôn vào má vào môi vào trán, như con chim chích ó ríu rít líu lo vang rội cả buồng lái…”. Quyết định ấy không chỉ mang lại niềm vui cho bé Va-ni-a mà còn đem lại sự bình yên, hạnh phúc cho Xô-cô-lốp, sau biết bao nhiêu năm lấy rượu để quên đi, để chìm vào giấc ngủ, thì đây là lần đầu tiên sau nhiều năm anh được ngủ một cách ngon lành… Bằng tình yêu thương, hai con người bị khuyết thiếu tình yêu thương ấy đã bù đắp, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho nhau. Anh luôn quan tâm, dành tình yêu thương và sự quan tâm chăm sóc cho Va – ni – a: lấy xà phòng rửa tay trước khi đặt ngồi vào bàn ăn, đưa tới hiệu cắt tóc tắm rửa, chạy ra cửa hàng tạp hóa mua một chiếc quần dạ vào lúc trời đang rất nóng… Bởi khi mang hạnh phúc đến cho Va-ni-a cũng chính là mang lại hạnh phúc cho chính anh.

    Không chỉ tình yêu thương, mà cả nghị lực kiên cường đã giúp Xô-cô-lốp vượt lên số phận đầy đau thương của mình. Gia đình anh đều bị bom đạn phát-xít cướp mất tính mạng, chỉ con một mình anh cô độc trong cuộc đời, trái tim đã dần trở nên yếu đuối, chán nản, có những lúc tưởng như bỏ cuộc. Sức khỏe của anh ngày một đi xuống, con tim bỗng nhiên nhói lên, thắt lại giữa ban ngày, khiến anh tối sầm mặt lại. Anh lo lắng rồi một ngày không xa cái chết sẽ đến và anh còn lo hơn cho bé Va-ni-a, anh chết, bé sẽ rơi vào cảnh cô đơn, lang thang, điều này còn làm anh lo lắng gấp bội. Không chỉ vậy, những ám ảnh quá khứ vẫn đeo bám anh, dù đã cố gắng nhưng nó vẫn lẩn khuất hiện về. Hầu như đêm nào anh cũng gặp lại những giấc chiêm bao về vợ con. Tuy nhiên luôn phải giấu diếm, che đậy nỗi đau, không muốn để Va-ni-a nhìn thấy mình khóc, để giữ niềm vui trọn vẹn cho Va- ni- a. Ý chí nghị lực của anh còn thể hiện trong lần anh mất bằng lái, thay vì chán nản, bi quan, than vãn, đổ lỗi cho số phận, anh lại mang đứa con trai của anh đến những vùng đất mới để giải quyết việc trước mắt là mưu sinh bằng nghề nghiệp khác, và cũng là để quên đi nỗi đau quá khứ. Ý chí nghị lực đã giúp anh vượt qua nỗi đau, những trớ trêu của số phận để tiếp tục sống, nuôi dưỡng bé Va-ni-a trưởng thành. Ý chí nghị lực của anh cũng chính là bản tính tiêu biểu của con người Nga.

    Tác phẩm dùng lối kể truyện, truyện lồng trong truyện vô cùng đặc sắc. Giúp cho câu chuyện vừa chân thật, vừa dạt dào tình cảm. Đặc biệt với mỗi lối kể sẽ đem đến những hiểu quả khác nhau. Khi Xô-cô-lốp kể chuyện giọng điệu, ngôn ngữ sẽ nương theo đặc điểm của người lính, người lái xe, giúp cho nhân vật hiện lên sinh động, tự nhiên hơn. Khi chọn ngôi kể là tác giả câu chuyện sẽ được thuật lại khách quan, chân thực hơn.

    Dù chỉ là trích đoạn nằm ở cuối tác phẩm nhưng đã gửi gắm những thông điệp sâu sắc của tác giả. Sô-lô-cốp kêu gọi, nhắc nhở sự quan tâm cả toàn xã hội đối với những cá nhân, những số phận con người như Xô-cô-lốp đã hi sinh tất cả để giữ gìn độc lập cho dân tộc. Đồng thời lên án bão tố chiến tranh phi nghĩa với sức mạnh phũ phàng của nó và nó vẫn có ý nghĩa thời sự tới tận ngày nay.

Bài phân tích ” Số phận con người” số 2

 Số phận con người là một trong những tác phẩm nổi bật, làm nên tên tuổi của Sô-lô-khốp. Hình ảnh Xô-cô-lốp cùng bé Va-ni-a đã khiến người đọc biết bao xúc động, về tình yêu thương, về lòng nhân đạo giữa con người với con người.

   Chiến tranh xảy ra, là một chàng thành niên trẻ tuổi, Xô-cô-lốp cũng nhưng hàng triệu thanh niên khác cũng cảm lên đường cầm vũ khí chiến đấu. Trong những năm tháng chiến tranh anh cũng phải trải qua biết bao gian truân, cực khổ thậm chí cả thất bại. Bị chiến tranh tàn phá thân thể, anh bị thương hai lần vào chân và tay, rồi bị giặc bắt và đày đọa gần hai năm ở những trại tập trung khác nhau. Xô-cô-lốp giữ được mạng sống quả là một điều thần kì khi có hàng trăm người bỏ mạng.

   Sau năm năm chiến chiến tranh, gia đình Xô-cô-lốp cũng nhưng rất nhiều gia đình khác chịu cảnh li tán và mất mát. Vợ và hai con gái bị giặc ném bom giết hại. Người con trai duy nhất, niềm hi vọng cuối cùng của anh cuối cùng cũng ngã xuống trong trận chiến cuối cùng. Chiến tranh kết thúc cũng cuốn phăng gia đình anh, cuốn phăng khao khát được trở về nhà. Bởi nhà anh đầu còn nữa. Bé Va-ni-a cũng là hiện thân tiêu biểu khác của thảm họa chiến tranh: cha chết ở mặt trận, mẹ “bị bom chết trên tài hỏa khi mẹ con cháu đang đi tài”. Cuộc sống Va-ni-a cực khổ thiếu thốn tình thương, lấm lem, bẩn thỉu

   Cuộc đời của họ được tác giả miểu tả thật sự chân thật và đầy xúc động. Đã lên án tố cáo chiến tranh phi nghĩa, lột tả bộ mặt thật của nó. Cướp đi gia đình, cướp đi tương lai của một thanh niên, cướp đi hi vọng của người bố. Chỉ để lại một khoảng trống rỗng đến vô cùng.

   Sau chiến tranh, sức khỏe của Xô-cô-lốp yếu đi rất nhiều, “tự nhiên nó nhói lên, thắt lại giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi”, những giấc mơ kinh hoàng cứ quẩn quanh lấy tâm trí hai con người tội nghiệp. Bé Va-ni-a đôi lúc thất thần, tư lự, rồi thở dài. Thật chẳng giống tâm tư của một đứa bé. Còn Xô-cô-lốp đêm nào cũng mo wthaays những người đã mắt, gặp lại vợ con sau hàng dây thép gai, gối đẫm nước mắt anh hàng đêm. Cả hai đều trở thành “côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của báo tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ”.

   Xô-cô-lốp sống trong đau đớn, khổ sở sau chiến tranh, tưởng chừng như không có gì có thể cứu vớt anh được nữa, thì tình cờ Xô-cô-lốp gặp được bé Va-ni-a “đầu tóc rối bù, rách bươm xơ mướp” sống bơ vơ, vất vưởng. Đặc biệt là khi Xô-cô-lốp nhìn thấy cặp mặt của em “như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm”. Xô-cô-lốp đã nảy sinh tình cảm với bé Va-ni-a đó là thích là nhớ, khi đi đâu anh cũng đi thật nhanh để về gặp nó. Và cuối cùng anh quyết định: “không thể cho nó chìm nghỉm riêng rẽ được! Mình sẽ nhận nó làm con”. Một quyết định tràn đầy tình yêu thương. Và quyết định đó đã đêm đến một cuộc sống khác cho cả hai con người tội nghiệp này.

   “Trái tim đã suy kiệt, đã bị chai sạn và đau khổ, nay mềm dịu hơn”. Và-ni-a chính là liều thuốc hữu hiệu đem đến hạnh phúc cho Xô-cô-lốp. Cậu như chú chim sẻ non khẽ rúc vào nách bố, đêm lại hạnh phúc cho con người này.

   Truyện được viết với những tình tiết chân thực, mô tả bộ mặt thật của chiến tranh. Kết cấu truyện lồng trong truyện đã tô đậm những đau khổ, bất hạnh, cũng như phẩm chất sáng ngời của nhân vật Xô-cô-lốp.

   Cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa hai con người này đã để lại biết bao dư âm cho người đọc. Đó là tình yêu thương, là sức mạnh để vượt qua mọi khó khan trong cuộc đời. Tác phẩm cũng là bài ca ca ngợi hững người lao động sau khói lửa chiến tranh. Tác phẩm thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác giả.

Bài phân tích ” Số phận con người” số 3

Nhà văn Sô-lô-khốp (1905 – 1984), ông là một nhà văn Xô Viết lỗi lạc, vinh dự hơn khi ông được nhận giải thưởng Nô- Ben về văn học năm 1965. Đồng thời ông được liệt vào danh sách những nhà văn lớn. Tác phẩm của ông để lại gồm những tập truyện, tiểu thuyết lớn và tiêu biểu trong số đó có tác phẩm số phận con người. Qua tác phẩm ấy ta thấy được những số phận bất hạnh của con người sau chiến tranh. Từ khi ra đời có trên mặt báo Sự Thật cho đến nay tác phẩm vẫn còn nguyên những giá trị ý nghĩa của mình.

   Nhân vật chính trong truyện chính là nhân vật Xô cô lốp. Anh là một người rơi vào bi kịch sau khi chiến tranh kết thúc. Trước đó anh phải đi lính và sau khi hòa bình thì anh không còn gì cả, người thân, nhà cửa, bạn bè không còn ai hết. Đối với anh mà nói một lòng chiến đấu vì quê hương đất nước cũng chính là bảo vệ người thân của mình vậy mà giờ đây những người thân yêu của anh đều từ bỏ anh mà đi, bom đạn kia đã cướp họ khỏi anh.

   Chính vì thế mà anh phải sống một cuộc sống đau khổ. Trong chiến đấu anh cũng phải chịu những bất hạnh đó là hai lần anh bị thương và tiếp tục bị đày đọa hai năm trong trại tập trung của phát xít Nhật. Vợ và hai người con gái của anh bị bom phát xít cướp đi tính mạng. Anh chỉ còn niềm hi vọng vào người con trai cả là A- na-tô-li thì anh ấy cũng bị chết trận năm 1945.

   Như vậy có thể thấy số phân của anh rất bất hạnh, khi chiến đấu đã chịu những khổ cực về thể xác rồi mà đến khi chiến tranh kết thúc mọi nhà sống trong độc lập thì với anh lại là niềm đau khổ về tinh thần vì những người thân yêu của anh đều bị chiến tranh cướp đi mất rồi. Anh tuyệt vọng trước những đau khổ của cuộc đời. từ đó ta thấy được hậu quả của chiến tranh để lại thật sự rất đau lòng.

   Sau chiến tranh anh không còn nhà cửa, không còn người thân cho nên anh phải ở nhờ một người đồng chí cũ. Anh phải tìm đến rượu để dịu bớt nỗi đau của mình. Tóm lại sau chiến tranh anh phải sống một cảnh sống cô đơn và bế tắc.

   Và trong một lần tình cờ hay do duyên trời run rủi cho anh gặp bé Va ni a. Nhà văn miêu tả ngoại hình của chú bé bằng những lời văn chân thực nhất để từ đó thấy được hậu quả kinh khủng của chiến tranh để lại. Chú bé khoảng năm đến sáu tuổi. Chú hiện lên trong bô dạng quần áo rách bươm xơ mướp, mặt mũi thì bê bết lem luốc…duy nhất chỉ có căp mắt là sáng ngời. Cậu bé ấy cũng có một hoàn cảnh vô cùng thương tâm. Cả cha và mẹ của cậu bé đều chết trong chiến tranh. Cùng có người thân bị mất nhưng ít ra Xô cô lốp còn có sức mà lao động còn cậu bé kia làm sao có thể lao động được. Cậu còn quá nhỏ. Cậu sống vạ vật, ai cho gì ăn đấy, bạ đâu ngủ đấy. Và duyên phận như cho họ gặp nhau để bù đắp cho nhau những tình thương mà mình đã mất đi. Xô cô lốp cảm thương tình cảnh của Va ni a cho nên anh quyết định nhận cậu làm con nuôi. Cả hai người chủ nhà của xô cô lốp cũng đồng tình với hành động nhân ái ấy. Và anh như quên đi mọi đau khổ mà dành cho bé Va ni a những tình thương sự tận tình chu đáo. Anh mua quần áo cho cậu bé, một chiếc áo bành tô rất đẹp. Chính lòng nhân ái đã đem hai trái tim gần nhau sưởi ấm cho nhau.

   Thế rồi anh cố gắng kiếm sống để nuôi bé Va ni a nhưng cuộc sống hay số phận anh khổ đau. Anh vượt lên những nỗi đau, xe anh quệt nhẹ người ta mà anh bi tước bằng lái, anh mất việc nên phải đi lang bạc kiếm sống. Đã thế thể chất sức khỏe của anh cũng giảm đi trông thấy. Anh đau đến khóc thế nhưng anh vẫn cố gắng không để cho bé Va ni a biết. Trước mặt cậu anh vẫn tỏ ra bình thường. Dường như nhà văn đang nhìn anh với một ánh mắt nhân đạo, anh đã không để cho bé Va ni a phải khóc, điều đó thể hiện một sự hi sinh của người cha.

   Đến đoạn cuối tác phẩm thì nhà văn như thể hiện sự đồng cảm thương xót của mình với nhân vật. Tác giả không thể nào giấu được những cảm xúc của bản thân mình trước những tình cảnh cũng như tình cảm của hai cha con mà thốt lên: ” Với nỗi buồn thấm thía, tôi nhìn theo hai bố con…” Hai người côi cút đã tìm đến nhau chia sẻ cho nhau những niềm yêu thương trong cuộc sống. Đoạn văn thể hiện sự khâm phục những tính cách con người Nga kiên cường trước những khó khăn của cuộc sống. Trong hoàn cảnh đói nghèo đau khổ nhưng vẫn trao cho nhau những tình yêu thương nhân ái để chạm tay đến hạnh phúc.

   Như vậy có thể nói qua đây ta thấy được số phận con người sau chiến tranh đau khổ như thế nào. Người lính đã trải qua những khó khăn trên chiến trường rồi tưởng rằng chiến tranh kết thúc sẽ được đoàn tụ thì người thân cũng bị chiến tranh cướp đi. Xô cô lốp cùng bé Va ni a chính là hiện thân của những số phận bất hạnh đó. Đồng thời qua tác phẩm này nhà văn kêu gọi mọi người nên có trách nhiệm với số phận của những con người như thế.

Bài phân tích ” Số phận con người” số 4

Đề tài về sự đau thương, mất mát của chiến tranh được nhiều độc tác giả lựa chọn để sáng tạo, nhưng chưa mấy ai quan tâm đến cuộc sống của những con người ấy sau chiến tranh như thế nào. Nắm bắt được sự cần thiết phải có những tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội của sau chiến tranh nhà văn Sô Lô Khốp viết nên truyện ngắn “số phận con người” với nhân vật chính là Xô-cô-lốp, một người có những đức tính khiến ai cũng phải tôn trọng.

Sô Lô Khốp đã khắc họa tính cách và phẩm chất của một con người anh hùng, kiên cường, một phẩm chất tốt đẹp của người dân Nga, có thể nói cuộc đời của Xô-cô-lốp gắn liền với những thăng trầm, biến cố của lịch sử nước Nga. Nhắc tới chiến tranh là nhắc tới những nỗi đau, những mất mát về cả vật chất và tinh thần, Sô Lô Khốp không hề né tránh sự đau thương đó mà ông khắc họa nó trên chính cơ thể của những người lính sau ngày trở về. Tuy nhiên ông viết một cách đầy chân thật chứ không dùng những lời lẽ hay giọng điệu chua chát, cay đắng để nói về cái thực tế sau chiến tranh. Nhà văn không hề sử dụng những thủ pháp nghệ thuật phô trương, phóng đại hay là bi hài mà vẫn vạch trần được tội ác của chiến tranh và những đau thương mà những người ra đi và ở lại đều phải gánh chịu.

Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh chính quyền của nước Nga còn quá non trẻ, chưa đủ nhiều kinh nghiệm để gánh vác những sự kiện hệ trọng của quốc gia, mà còn phải đối mặt với rất nhiều kẻ thù. Nhưng đổi lại họ lại có những con người như Xô-cô-lốp, một con người đại diện cho ý chí quật cường của người dân Xô viết, anh từng làm rất nhiều nghề khác nhau để sinh sống, ngay cả đi làm thuê, chứng kiến quá nhiều hoàn cảnh khác nhau và số phận đau thương đã phải bỏ mạng vì chết đói. Chính vì điều này anh đã đầu quân tham gia vào hồng quân Liên Xô

Khi phát xít Đức bất ngờ tấn công Liên Xô thì đứng trước tình hình đó, hàng triệu người dân Xô Viết yêu nước đã đứng lên đấu tranh chống lại kẻ thù. Chứng tỏ rằng chỉ cần đất nước bị kẻ thù xâm lược và tìm cách chiếm đoạt thì lúc đó tinh thần yêu nước mới được phát huy một cách triệt để nhất. Và Xô-cô-lốp, cũng tham gia trong cuộc chiến đó và dĩ nhiên anh đã không tránh khỏi thương tích: hai lần anh bị thương ở vào chân và tay mà những vết thương ấy đâu chỉ ngày một ngày hai là hết mà nó theo anh đến hết cả cuộc đời. Nó không chỉ là vết thương về thể xác mà còn động tới tâm hồn, nỗi nhục, sự căm thù khi bị chúng tra tấn. Không những thế anh còn bị bắt đi đày khổ sai và tra tấn hành hạ một cách dã man diễn ra trong thời gian dài, chúng cho anh ăn những đồ tồi tệ nhất mà đó không phải là thức ăn dành cho con người: súp thì lõng bõng còn bánh mì thì lẫn cả mạt cưa. Cảnh thiếu thốn về vật chất cũng như nỗi đau thể xác đang hành hạ anh cũng chính là hoàn cảnh chung của những người con dân Xô Viết khi bị phát xít tra tấn và đày đọa.

Sau khi chiến tranh kết thúc, thiệt hại về người và của là không thể tưởng tượng được. Hàng triệu thành phố làng mạc của đất nước Xô Viết bị phá đổ, con người chết hàng triệu, chưa thống kê được hết mà trong số đó có vợ và con của xocolop và cha mẹ của bé vania. Những con người đấy, sau chính tranh, họ không còn nhà để ở, gia đình để nương tựa chính vì thế họ đã sát cánh bên nhau, che chở cho nhau, cùng nhau sưởi ấm qua cái mùa đông giá rét bằng tình yêu và hơi ấm của cơ thể. Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi đau trong tâm hồn của Xô Cô Lốp vẫn vẹn nguyên, mỗi khi nhớ về vợ và con lòng anh lại nhói đau nhưng anh vẫn cố gắng để sống giống như cha Vania vậy.

Điều tuyệt vời nhất mà anh có được sau cuộc chiến là anh sống với những giấc mơ của những người lính hồng quân Liên Xô. Phải thật dũng cảm và có lòng quyết tâm lắm người ta mới có thể vượt lên nỗi đau, nỗi đau mất đi gia đình, nhưng cũng giống như bao nhiêu người đàn ông khác, nỗi đau ấy của anh bị trỗi dậy khi men rượu làm anh lại phải nhớ, nó cứ hiện diện trước mắt anh, làm anh không sao có thể quên đi được. Chiến tranh không có mắt, chỉ có những người gây nên chiến tranh mới là người có lỗi, hậu quả ấy để lại không thể nào nguôi ngoai, nhưng tác giả dường như không để cho khán giả phải trải qua hết bi thảm này đến bi kịch kia để con người thấy cuộc sống vô nghĩa, mà ông đặt nhân vật và bé Vania gặp nhau như một định mệnh, định mệnh của người cùng cảnh ngộ, họ hiểu và thông cảm, thương yêu nhau, đùm bọc lẫn nhau.

Nhưng thật sự điều đó không thể nào Xô Cô Lốp quên đi mất máy, đau thương, nỗi đau ấy vẫn hiện diện, làm cho con người mà chúng ta thấy hãnh diện kia vẫn cứ bị tình cảm gia đình lấn át, ai cũng thế mà thôi, điều đó không ai trách ông, chỉ có ông dễ dàng quên đi thì ta mới thấy giận chứ ông còn nhớ nghĩa là ông vẫn luôn nhớ thương da diết và gia đình của mình, về quê hương, về đất nước mà ông đang sống, hai con người ấy đến với nhau thật hợp tình hợp lý, đã đến lúc họ phải tiếp tục hành trình mới cho mình, những khó khăn và thách thức mới đang ở phía trước chờ đợi họ.

Như vậy, ta có thể thấy rằng qua “số phận con người” của nhà văn Xô lô khốp nhân vật Xô Cô lốp hiện lên tiêu biểu cho số phận của người lính Nga nói riêng và số phận của người nhân dân Nga nói chung sau chiến tranh. Sau những ngày kinh hoàng ấy họ sống với nỗi đau mất mát gia đình và trở thành ám ảnh. Và những con người ấy định mệnh đã đưa họ đến với nhau để lấp đầy những khoảng trống trong con người họ.

Bài văn phân tích tác phẩm

 

Bài phân tích ” Số phận con người” số 5

Tác phẩm là lời tự sự của nhân vật trung tâm – anh lính hồng quân Xôcôlôp, người đàn ông đã chịu bao giông tố khắc nghiệt của cuộc đời đổ ập lên số phận. Đó là cuộc đời gắn liền với một trang sử bi tráng hào hùng của nhân dân Nga, với chế độ Xô-viết đã tạo thành phẩm chất của những con người Nga kiên cường. M.Sôlôkhôp đã dựng lên chân dung một con người Nga bình thường nhất, một người xô viết chân chính. Số phận ấy tiêu biểu cho bao người con ưu tú đã viết nên trang sử thời đại hào hùng của đất nước Liên Xô cũ.

Cuộc sống hiện lên trần trụi như nó vốn có – không khoa trương hào nhoáng, không bi kịch hoá mà cứ đều đều như giọng kể của người đàn ông Nga có cái họ bình thường như bao người Nga: Xôcôlôp. Nhưng trong số phận anh có sức nặng của nỗi đau dân tộc Nga qua các thời kỳ khốc liệt nhất. Không tránh né sự thật – đó là phẩm chất hàng đầu của các cây bút Nga – xô viết mà M. Sôlôkhôp chính là một tấm gương. Sự thật đó không phải được kể bằng giọng lạnh lùng thản nhiên mà còn hằn nguyên nỗi đau trong giọng văn thấm thía, trong những ám ảnh kí ức hằn sâu trong tâm trí của người cựu binh xô viết – chính là phản chiếu một mảng hiện thực rộng lớn và xuyên suốt các chặng đường của nhân dân Nga.

Trước hết là kí ức những ngày nội chiến, khi chính quyền xô viết non trẻ phải đối mặt với lũ bạch vệ, thổ phỉ và can thiệp. Người đọc có thể nhận ra những dấu ấn quen thuộc làm nên tên tuổi của M.Sôlôkhôp trong Sông Đông êm đềm. Nạn đói, cuộc sống cùng cực không quật ngã nổi ý chí của người dân xô viết. Xôcôlôp từng trải qua cuộc đời làm thuê, từng chứng kiến gia đình gục chết trong cái đói, nhưng chính sự tàn khốc ấy là một sự lý giải vì sao anh trở thành chiến sĩ hồng quân, vì sao anh lại có một hạnh phúc từ đau thương bất hạnh. Đó là hạnh phúc của những người nghèo khổ được xây lên từ bất hạnh để họ khẳng định tư thế làm chủ cuộc đời.

Có lẽ kí ức nhân loại mãi mãi không phai mờ bao ám ảnh khủng khiếp của Chiến tranh thế giới lần thứ II. Nhưng nhà văn không theo cách thông thường để ca ngợi vào những đóng góp xương máu của hơn hai mươi triệu người xô viết làm nên thắng lợi của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. bi kịch chiến tranh hiện hữu ngay trong từng số phận, từng gia đình. Sức hủy diệt của nó khiến cho Xôcôlôp mất vợ và hai con; bé Vania mồ côi cả cha lẫn mẹ. Mất mát là điều không tránh khỏi nhưng với người trong cuộc còn kinh khủng hơn rất nhiều, khi sức ám ảnh của nó vẫn trở về trong những giấc ngủ nặng nề, để Xôcôlôp mỗi lần tỉnh giấc lại đầm đìa nước mắt. Nhưng vào thời điểm đối mặt quyết liệt với kẻ thù, nước mắt không thể rơi! Chỉ có thể là ánh mắt rực lửa căm hờn và khinh bỉ với kẻ thù, với những tên phản bội. Anh đã sống đúng với tư cách người lính ngay cả khi “chiến bại”, bị bắt làm tù binh. 

Cảm hứng về cuộc chiến tranh của M.Sôlôkhôp có phần gần gũi với Alêcxây Tônxtôi với “Tính cách Nga”, với “Người xô viết chúng tôi”… Nhưng người đọc hiểu đó chính là lúc con người đang chiến đấu vì danh dự dân tộc, vì những niềm hy vọng không tắt về tương lai. Xôcôlôp đã là người chiến thắng, ngẩng cao đầu trong trại tập trung của kẻ thù, mưu trí dũng cảm trở về đội ngũ, chiến đấu bằng tất cả lòng căm thù sục sôi với kẻ đã hủy hoại hạnh phúc gia đình, và cả “niềm hy vọng cuối cùng” – người con trai đã thành đại úy pháo binh Anđrây Xôcôlôp. Trớ trêu thay, vào ngày cờ đỏ thắm trên nóc nhà Quốc hội Đức , anh đã phải tiễn đưa con mình. Dẫu biết sự hy sinh ấy là anh hùng, là cần thiết, nhưng quả thật đó là một cú đập phũ phàng của định mệnh khiến bất cứ ai yếu lòng cũng có thể quị ngã. Có lẽ đó cũng là những trang viết gợi nhắc cho chúng ta nhiều nhất về ý nghĩa tàn khốc của chiến tranh, vinh quang và cay đắng, hạnh phú và bất hạnh, niềm vui chung và nỗi đau riêng để từ đó suy ngẫm và hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của từ “hy sinh”.

Thế nhưng tuyệt nhiên ta không nhận thấy tâm trạng của những con người – nhân dân Nga trở về sau chiến tranh lại nặng nề bi thảm như của “thế hệ vứt đi” trở về sau Đại chiến I ở Mỹ hay châu Âu. Bởi lẽ hy sinh sẽ là vô ích nếu như sự sống sẽ tê liệt sau bao mất mát. Bởi thế, Xôcôlôp đã sống, làm việc như bao người lính xô viết trở về sau chiến trận. Nỗi đau lắng vào trong và chỉ thật sự hiện hữu khi Xôcôlôp tìm quên trong men rượu. Áp lực đời thường và hậu quả chiến tranh quá nặng nề tưởng chừng có thể làm cho con người gục ngã. Sự tình cờ, ngỡ như ngẫu nhiên mà tất yếu đã gắn chặt cuộc đời Xôcôlôp với bé Vania. 

Chú bé Vania – đôi mắt đen lay láy, cuộc sống vất vưởng là một hình tượng nghệ thuật có thể làm mềm những trái tim sắt đá nhất. Chú bé chính là hiện thân của thế hệ tương lai nước Nga, là vẻ đẹp của sự thơ ngây thánh thiện cần phải chở che, bảo bọc. Cuộc gặp gỡ của hai con người ấy là tất yếu. Không chỉ cảm động vì khoảnh khắc thì thầm của Xôcôlôp với bé Vania: “Ta là bố của con”, lúc nhận bố con cũng là lúc người đọc chứng kiến sự trở lại của những giọt nước mắt ở con người tưởng như trái tim đã khô héo vì đau khổ. Nước mắt – hạnh phúc và xót xa cứ đan quyện vào nhau, thấm vào lòng tất cả mọi người.

Ngỡ rằng hạnh phúc đã thật sự trở lại, ngỡ rằng từ đây đầy ắp tiếng cười và những tiếng ríu rít như chim của bé Vania, nhưng kí ức vẫn hiện về đấy ám ảnh. Người đọc phải chứng kiến những lời nói dối – nhưng lạ thay đó lại là lời đẹp hơn trăm lần sự thật. Bởi sự đồng cảm số phận và tình thương yêu đã gắn chặt cuộc đời hai bố con – một người đang cần nén chặt nỗi đau quá khứ và một người cần được bảo đảm tương lai tốt đẹp. Vậy mà định mệnh lại trêu cợt để cho bố con Xôcôlôp lại tiếp tục hành trình giữa đời thường với bao thử thách đón chờ phía trước.

Số phận con người là câu chuyện kể chân thực về một con người bình thường. Nhưng cuộc sống bao dồn đẩy sóng gió đã tôi luyện cho anh một phẩm chất kiên cường, một tình thương yêu bao la. Gương mặt người đàn ông ấy đã sắt lại vì đau khổ, nhưng trái tim tổn thương ấy vẫn đập những nhịp thương yêu nồng nàn với con người. Nhà văn đã lên tiếng thay nhân vật ở cuối tác phẩm, bằng tất cả niềm xúc động sâu xa và lòng cảm phục vô hạn trước nhân cách một Con Người chân chính. Bức thông điệp của nhà văn giúp ta nhận ra rõ hơn chân dung của nhân dân Nga, vẻ đẹp của tâm hồn Nga và sức mạnh của con người vượt lên bao bi kịch bất hạnh.

Đó là sự khẳng định tuyệt đối của nhà văn thể hiện niềm tin tưởng vào Con người Nhân dân và tương lai của đất nước. Nỗi buồn kết lại tác phẩm lại khiến ta nhận ra tầm vóc vĩ đại của đất nước và con người Nga xô viết quả cảm, kiên cường, nhân hậu.

Bài văn phân tích tác phẩm

 

Nguồn: Tổng Hợp