Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Vịnh Đổng Thiên Vương” văn học 9 hay, ngắn gọn

Phân tích bài thơ “Vịnh Đổng Thiên Vương” của Cao Bá Quát được tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

 

Phân tích bài thơ “Vịnh Đổng Thiên Vương” bài số 1

Cao Bá Quát (1809? – 1855), tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên. Ông là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (nay thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội), và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong văn học Việt Nam.Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong cảnh nghèo khó, nhưng nổi tiếng là trẻ thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt.

“Cúc Đường” là một tên hiệu của Cao Bá Quát, do chính ông tự đặt cho mình. Chữ “đường” có nghĩa là nhà, cũng thường ghép với một chữ đứng trước để lấy làm hiệu. “Cúc Đường” có nghĩa là “nhà chứa hoa cúc”. Tên hiệu này biểu thị lòng yêu hoa cúc của Cao Bá Quát (thơ chữ Hán của ông cũng chứng tỏ điều đó. Bên cạnh đó, Cao Bá Quát còn là nhà thơ thường có những bài vịnh về những anh hùng dân tộc và Vịnh Đổng Thiên Vương là một trong số đó.

Tam tải tiềm long thế vị tri,

Nhất triêu phấn khởi đại thi vi.

Kim tiên phá lỗ thiên thanh chấn,

Thiết mã đằng không cổ tích kỳ.

Việt điện kiền khôn lưu vĩ tích,

Ân giao thảo mộc thức dư uy.

Chi kim từ vũ tùng phong động,

Do tưởng đương niên đắc thắng quy.

Nói lên cái phi thường của Gióng, Cao Bá Quát có một lối nói hàm súc bằng một hình ảnh ẩn dụ, một cấu trúc ngôn ngữ tương phản làm nổi bật nguồn gốc và sự xuất hiện của một anh hùng sử thi thần kì. Những câu thơ đối chỉnh, làm hiện lên hình ảnh Thánh Gióng ra trận, chiến thắng giặc rồi người cùng ngựa bay lên trời. Cao Bá Quát đã chọn được những chữ đẹp nhất để viết nên câu thơ hay nhất

Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ buổi bình minh của lịch sử, chúng ta đã có hình tượng về người anh hùng chống giặc ngoại xâm lẫm liệt: Người anh hùng Thánh Gióng. Lịch sử đặt chúng ta sống cạnh một tên đế quốc  khổng lồ và hung bạo, luôn luôn có dã tâm bành trướng, thôn tính các nước láng giềng. Điều đó đòi hỏi dân tộc Việt phải luôn luôn cảnh giác, không bao giờ ảo tưởng vào tình hữu nghị, hữu hảo của kẻ thù. Lơ là cảnh giác hôm nay thì ngày mai mất nước. Cao Bá Quát đã miêu tả hình tượng Thánh Gióng và cuộc chiến chông giặc ngoại xâm đầy “thắng quy” qua những câu thơ trong bài vịnh của mình.

Cao Bá Quát là một nhà thơ trữ tình với một bút pháp đặc sắc. Ông làm thơ nhanh, có lúc “ứng khẩu thành chương”, nhưng vẫn thể hiện được cảm xúc vẫn dồi dào và sâu lắng. Và mặc dù hình tượng trong thơ ông thường bay bổng, lãng mạn, nhưng trong những bài viết về những vị anh hùng thì ông lại sử dụng rất nhiều chi tiết hiện thực mạnh mẽ,uy hùng

 

Phân tích bài thơ “Vịnh Đổng Thiên Vương” bài số 2

“Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu,

Mồng chín đâu đâu cũng về hồi Gióng.”

(Ca dao Kinh Bắc)

Đã bao đời nay, hội Gióng là một trong những lễ hội lớn của nhân dân ta. Ngày mồng chín tháng giêng(âm lịch) hàng vạn hàng ngàn người lũ lượt kéo về làng Gióng, trước đây thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội, để dự hội. Đề thờ Thánh Gióng đã rêu phong, mà đôi câu đối của Cao Bá Quát, với nét chữ tung hoành và màu son chói lọi vẫn đầy ấn tượng cảm hứng sử thi hào hùng:

“Phá tan tặc đản hiền tam tuế văn, Đằng vân do hận cửu thiên đê” (Đánh tan giặc còn hiềm ba tuổi thì quá muộn, Bay lên mây còn giận chín tầng trời vẫn thấp)

Có lẽ đôi câu đối ấy đã khơi nguồn cảm hứng để Cao Bá Quát viết tiếp bài thơ “Vịnh Đổng Thiên Vương” theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ đã bám sát truyền thuyết về Thánh Gióng để ca ngợi và khẳng định một cách hùng hồn chiến tích của người anh hùng huyền thoại.

Phân tích bài thơ "Vịnh Đổng Thiên Vương" của Cao Bá Quát

Hai câu thơ trong phần đề, tác giả sử dụng thủ pháp tương phản để nêu bật tầm vóc thần kì của người con trai làng Gióng. “Ba năm” với “một sớm”, “náu mình” với “vùng dậy” thời gian với thời gian, dài và ngắn, ẩn và hiện, lúc đầu thì đời chưa ai biết thế mà bỗng chốc, chỉ một sớm đã làm nên sự nghiệp phi thường. Câu thơ gợi tả sự hội tụ, dồn nén và sức mạnh quật khởi của dân tộc ta thời Hùng Vương thứ 6:

“Ba năm rồng náu chừa ai hay,

Oanh liệt ra tay bỗng một ngày”

Tuổi thơ của Gióng “ba năm chẳng nói chẳng cười trơ trơ” được Cao Bá Quát viết thành một ý thơ độc đáo: “tam tải tiềm long”. Gióng được ví với con Rồng đang ẩn mình, náu mình suốt ba năm trời. Truyền thuyết Thánh Gióng thường được nhắc đến con số 3: Sau 3 năm, Gióng mới cất tiếng nói. Gióng xin vua 3 thứ vũ khí để giết giặc: ngựa sắt, giáp sắt và roi sắt. Gióng lớn nhanh như thổi:

“Ăn bảy nong cơm, ba nong cà

Uống một hớp nước cạn đà khúc sông”

Nói lên cái phi thường của Gióng, Cao Bá Quát có một lối nói hàm súc bằng một hình ảnh ẩn dụ, một cấu trúc ngôn ngữ tương phản làm nổi bật nguồn gốc và sự xuất hiện của một anh hùng sử thi thần kì. Tiếc rằng câu thơ dịch thứ hai chưa hay như câu thơ chữ Hán.

Hai câu trong phần thực rất đặc sắc. Ngôn ngữ thơ trang trọng. Hình tượng thơ kì vĩ mang màu sắc thần thoại: “kim tiên” (roi vàng), “thiên thanh” (tiếng trời), “thiết mã” (ngựa sắt), “cỡ tích” (tích cũ, dấu cũ). Các động từ diễn tả sức mạnh phi thường của người anh hùng truyền thuyết: “phá lỗ” (phá giặc), “chấn” (chấn động), “đằng không” (bay lên không), “kì” (kì lạ). Trong truyền thuyết kể lại: Gióng nhảy lên ngựa sắt, ngựa hí vang trời, phun lửa, Gióng thúc ngựa xông thẳng vào giặc Ân, vung roi sắt quật vào giặc Ân, giặc chết như ngả rạ. Cao Bá Quát đã sáng tạo thành “roi vàng”. Câu thơ đối chỉnh, làm hiện lên hình ảnh Thánh Gióng ra trận, chiến thắng giặc rồi người cùng ngựa bay lên trời. Cao Bá Quát đã chọn được những chữ đẹp nhất để viết nên câu thơ hay nhất:

“Kim tiên phá lỗ thiên thanh chấn

Thiết mã đằng không cổ tích kì”

(Phá giặc roi vàng gám sấm sét

Lên không ngựa sắt lạ xưa nay)

Câu thơ dịch đã đi quá xa nguyên tác: “gầm sấm sét”, “lạ xưa nay”, … Các từ ngữ hình ảnh như “thiên thanh chấn …” lại không dịch được.

Phần luận ca ngợi công đức và uy phong của Phù Đổng Thiên Vương, cả một không gian rộng lớn từ “trời đất Việt” đến “cỏ cây Ân” đều không thể phai mờ hình ảnh người anh hùng. Công lao to lớn của Thánh Gióng trường tổn mãi mãi với quê hương đất nước. Uy phong vang dội của Phù Đổng Thiên Vương vần làm khiếp sợ cây cỏ đất Ân (lũ giặc phương Bắc):

“Công ghi cõi Việt so trời đất,

Oai dẹp quân Ân khiếp cỏ cây.”

 

Câu thơ của Cao Bá Quát vừa biểu thị niềm tự hào dân tộc, ngợi ca chiến tích và công ơn của người anh hùng, vừa gợi nhớ những tình tiết oai hùng được nói đến trong truyền thuyết: Khi roi sắt gãy, Gióng đã nhổ tre đánh, quật tơi bời vào lũ giặc Ân. Đến nay trong dân gian vẫn truyền tụng:

“Đứa thì sứt mũi, sứt tai,

Đứa thì chết nhóc bởi gai tre ngà.”

Trí tưởng tượng phong phú kì diệu, Cao Bá Quát đã phóng bút viết nên những vần thơ thậm xưng mang âm điệu anh hùng ca, biểu lộ ý chí tự lập tự cường của nhân dân ta từ bao đời nay khi nhắc đến Thánh Gióng.

Nói đến đền miếu là thể hiện lòng biết ơn theo truyền thống đạo lí của dân tộc. Mỗi khi gió thổi thông reo, từ bao đời nay, người đến viếng miếu đền Thánh Gióng còn tưởng như năm nào quán ta chiến thắng giặc Ân trở về:

“Miếu cũ thông reo khi gió động,

Tướng quân thắng trận trở về đây”

 

Hai câu thư kết là sự ngân vang chiến thắng, từ sự mẫn cảm của nhà thơ. Quá khứ và hiện tại, tổ tiên ông cha và con cháu gắn bó vối nhau, bảo vệ và phát huy cao độ truyền thống yêu nước anh hùng của dân tộc. Cùng với mạch cảm xúc ấy của thi sĩ họ Cao, sau này nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết:

“Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

(Đất nước)

Thơ hay là ở cảm xúc và hình tượng. Thơ đẹp là ở trí tưởng tượng phong phú, làm cho vần thơ cất cánh bay lên. Nghe tiếng gió thổi thông reo ở ngồi đền Thánh Gióng mà Cao Bá Quát tưởng như âm vang của đoàn quân thắng trận trở về. Trên một nghìn bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát để lại, người đọc tìm thấy nhiều bài thơ ca ngợi những danh nhân của đất nước như Thánh Gióng, Bà Trưng, Trần Quốc Tuấn, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Đặng Tất, … Đó là những bài thơ biểu lộ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lập tự cường và niềm tự hào dân tộc.

“Vịnh Phù Đổng Thiên Vương” là một bài thơ tuyệt tác. Ngôn ngữ trang trọng, hình tượng kì vĩ, liên tưởng và cảm xúc dồi dào – Cao Bá Quát đã từ truyền thuyết sáng tạo nên bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật mang âm điệu anh hùng ca, làm sống lại chiến công thần kì của Thánh Gióng, người anh hùng dân tộc buổi bình minh lịch sử đất nước. Cái vươn vai của Gióng mãi mãi là biêu tượng cho sức mạnh quật khởi của nhân dân ta, mãi mãi là niềm mơ ước của tuổi thơ Việt Nam

 

Phân tích bài thơ “Vịnh Đổng Thiên Vương” bài số 3

Câu chuyện Thánh Gióng đánh tan giặc Ân, sau đó cưỡi ngựa sắt bay lên trời đã quá đỗi quen thuộc với người dân Việt Nam từ bao đời nay. Nhắc đến Thánh Gióng là nhắc đến Phù Đổng Thiên Vương, là Hội Gióng ở Sóc Sơn. Công đức của Thánh Gióng đã tốn giấy mực của biết bao nhà văn, nhà thơ. Trong đó có bài thơ “Vịnh Đổng Thiên Vương” của Cao Bá Quát.

Thánh Gióng được xem là Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Ông được xem là tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.

Mở đầu bài thơ “Vịnh Đổng Thiên Vương”, Cao Bá Quát viết:

Ba năm rồng náu chừa ai hay,

Oanh liệt ra tay bỗng một ngày

Có lẽ, mọi người đã biết về sự kì diệu của cậu bé Thánh Gióng. Sinh ra 3 năm nhưng cậu chẳng nói, chẳng cười, cứ trơ trơ. Ấy thế mà, chỉ nghe tin giặc đến xâm lược nước nhà, cậu bỗng vươn vai thành người lớn mạnh, xung phong ra trận giết giặc. Cao Bá Quát đã sử dụng thủ pháp tương phản để nêu lên tầm vóc, sự thần kì của Thánh Gióng. Cậu bé ẩn mình suốt ba năm trời, sau đó xin vua 3 thứ vũ khí: ngựa sắt, áo giáp sắt và roi sắt để đi đánh trận.

Cậu bé Thánh Gióng ngày nào bỗng lên nhanh như thổi bởi vì;

Ăn bảy nong cơm, ba nong cà

Uống một hớp nước cạn đà khúc sông

Người thường làm sao có thể ăn đến “bảy nong cơm, ba nong cà”, uống một hớp nước đã cạn khúc sông. Chỉ có Thánh Gióng.  Cao Bá Quát đã nói lên sự phi thường của Thánh Gióng. Chỉ qua 2 câu thơ ngắn gọn, với những hình ảnh ẩn dụ, nhà thơ đã làm nổi bật nguồn gốc và xuất thân khác biệt của một anh hùng sử thi. Chỉ có thần, thánh mới có thể làm được những hình động như vậy.

Phá giặc roi vàng gám sấm sét

Lên không ngựa sắt lạ xưa nay

Nhưng nguyên tác tiếng Hán còn sâu sắc hơn:

Kim tiên phá lỗ thiên thanh chấn

Thiết mã đằng không cổ tích kì

Đây là hai câu hay nhất, đắt giá nhất của bài thơ. “Kim tiên” là roi sắt, “thiết mã” là ngựa sắt. Đây là những vật dụng Thánh Gióng xin vua để đi đánh giặc Ân. Sức mạnh phi thường của Gióng thể hiện ở những động từ như: “phá lỗ”- phá giặc, “chấn”- chấn động, “đằng không”- bay lên trời, “cổ tích kì”- kì lạ như truyện cổ tích. Hai câu thơ đã nói lên toàn bộ quá trình đánh giặc của Thánh Gióng. Trong truyền thuyết kể lại: Gióng nhảy lên ngựa sắt, ngựa hí vang trời, phun lửa, Gióng thúc ngựa xông thẳng vào giặc Ân, vung roi sắt quật vào giặc Ân, giặc chết như ngả rạ. Sau khi chiến thắng giặc, Thánh Gióng cùng ngựa bay lên trời.

Đời đời nhớ ơn công lao của Thánh Gióng. Và Cao Bá Quát đã chọn được những mỹ từ để viết ra câu thơ:

Công ghi cõi Việt so trời đất,

Oai dẹp quân Ân khiếp cỏ cây

Phần luận, tác giả ca ngợi công đức và uy phong của Phù Đổng Thiên Vương. Tiếng tăm của Thánh Gióng vang vọng khắn “trời đất Việt” và làm giặc Ân khiếp sợ.

Trong bài thơ “Vịnh Đổng Thiên Vương”, Cao Bá Quát đã dùng những từ ngữ trang trọng, hình tượng kì vĩ để tôn vinh vị Thánh của dân tộc, làm sống lại chiến công, lịch sử hào hùng và cũng thần kì của Thánh Gióng. Từ đó làm chúng ta càng thêm yêu nước và tự hào về dân tộc Việt Nam.

Nguồn: Tổng Hợp