Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Ghét chuột” văn học 9 hay, ngắn gọn

Bài thơ mang dáng dấp một thiên ngụ ngôn. Nhà thơ đứng về phía nhân dân lầm than mà căm giận và khinh bỉ bọn quan lại gian tham, độc ác trong xã hội phong kiến mục nát.

Phân tích bài thơ “Ghét chuột” số 1

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một danh sĩ đỗ đạt cao, một nhà khoa bảng lớn, đã từng là một vị quan to của triều đình phong kiến nhà Mạc, trong thế kỷ XVI.  Nguyễn Bình Khiêm là nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam, và là một nhà thơ yêu nước và có một tấm lòng yêu nước thương dân và lòng căm thù giặc sâu sắc đối với kẻ thù xâm lược. Rất nhiều tác phẩm của ông thể hiện điều này và bài thơ Ghét chuột là một trong số đó

Ghét chuột là bài thơ nằm trong tập thơ chữ Hán “Bạch Vân Am thi tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tiêu đề của bài thơ đã tỏ rõ thái độ quyết liệt của ông: căm ghét” lũ chuột” làm hại dân chúng. Một biện pháp hoán dụ được nhà thơ thể hiện rõ trong bài thơ:

Những câu thơ đầu của bài thơ được Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng ngôn ngữ trang trọng, mang màu sắc giáo huấn, phản ánh tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Con người phải được dạy dỗ, biết làm ăn, sống vì một đạo lý cao đẹp:

Vốn trời sinh ra dân

Ấm no đều muốn được

Ôi! Xưa bậc thánh nhân

Dạy dân trồng ngũ cốc

Cha mẹ được phụng thờ

Vợ con được săn sóc

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ luôn có tấm lòng yêu thương dân chúng, mong cho dân chúng có cơm ăn áo mặc và sự ổn định, gắn bó với nhân dân. Ông cũng được coi là một trong những bậc thánh nhân đang gắn bó và có những tình cảm quý mến và coi trọng dân chúng. Trong những câu thơ đầu tiên này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao nhân dân, coi nhân dân là nền tảng và cố gắng để phụng sự cho cuộc sống của nhân dân, một đức tính cao quý của một nhà nho chân chính. Cuộc sống trong nhân dân phải có trên có dưới, cha mẹ thì được con cái phụng sự, vợ chồng thì săn sóc và chung thủy với nhau. Có thể thấy những điều mà Nguyễn Bỉnh Khiêm nếu ra là mong muốn hướng tới và xây dựng một cuộc sống hạnh phúc hơn. Đây cũng là điều mà tác giả đang mang muốn thể hiện một tình cảm về một cuộc sống của nhân dân, gắn bó với cuộc sống của nhân dân.

2.Chuột lớn sao bất nhân ?

Gậm khoét thật thảm độc

Đồng ruộng trơ rơm khô

Kho đụn kiệt gạo thóc

Khó nhọc nông phu than

Đói gầy nông phụ khóc.

Sao dám khinh mạng dân?

Phá hoại thật tàn khốc

Rình mò dưới lỗ hang

Thần dân đều căm tức!

Trong cuộc sống đẹp như bức tranh được Nguyễn Bỉnh Khiêm vẽ nên bỗng xuất hiện những con “chuột lớn”. Mười câu thơ tiếp theo nói về “lũ chuột lớn bất nhân”. Nghệ thuật phúng dụ được vận dụng sắc sảo đã vẽ lên bộ mặt gớm ghiếc của lũ chuột bốn chân và bầy chuột hai chân trong xã hội thối nát thời bấy giờ.  Lũ chuột – loài gặm nhấm chuyên phá hoại thóc lúa hoa màu ngoài đồng, trong nhà của con người vốn chẳng được ai ưa. Những tên giặc ác được tác giả miêu tả như những con chuột chỉ biết gậm khoét, chúng chỉ phá hoại và cướp đi cuốc sống của nhân dân.” Lũ chuột” rình mò cướp đi cuộc sống bình an của nhân dân chúng ta thật khinh bỉ và căm ghét chúng, bọn chúng chỉ là những kẻ đội nốt người, không bằng những tên cầm thú.

3.Quấy nhiễu mất lòng người

Tất bị người xé xác

Thây phơi khắp thị thành

Thịt quạ diều rỉa bóc

Khiến cho lớp dân tàn

Cùng an hường hạnh phúc.

Những câu thơ cuối trong bài thơ ,  Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ ước mong sao diệt hết “lũ chuột” tham tàn, được “hưởng hạnh phúc no ấm” và cuộc sống “thái bình” ngay trên quê hương! Có thể nói, với bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đứng vào chỗ đứng của nhân dân lao động, cảm thông sâu sắc với nỗi vất vả, cực nhọc để làm ra hạt lúa của họ mà lại bị “lũ chuột” tham tàn cướp mất! Ông căm phẫn với cuộc sống khó nhọc của người dân khi có lũ chuột quậy phá. Thực tế, bài thơ của ông còn có ý  cảnh cáo, răn đe và vẫn còn có sức sống dài lâu, vẫn còn mang tính thời sự và vẫn còn có ý nghĩa sâu sắc chừng nào còn có những kẻ tham quan, ô lại ở trên đời.

 

Phân tích bài thơ “Ghét chuột” số 2

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là nhà triết học vĩ đại, là một trong số những tác gia lớn của Việt Nam thế kỉ XVI, học rộng tài cao, một vị quan thanh liêm, nhưng không ham danh lợi, ông như một cây đại thụ tỏa bóng mát cả một thời đại. Ông sống trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, nội chiến liên miên kéo dài, nhân dân đắm chìm trong nghèo khổ, mất mát, sống trong cảnh lơm lớp lo sợ, nhưng ông thì vẫn không thay đổi nhân cách của ông mãi vẫn vững như núi, trở thành một ông thầy đầy vĩ đại, không những thế ông còn là một nhà thơ tài giỏi, để lại rất nhiều kiệt tác cho đời. Ông được phong tước Trích Tuyền Hầu rồi thăng tới Trình Quốc Công, mà dân gian quen gọi là Trạng Trình. Ông được người đời coi trọng, được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử, là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XVI. Người đời coi ông là nhà tiên tri số một trong lịch sử nước nhà đồng thời lưu truyền nhiều câu sấm kí được cho là bắt nguồn từ ông và gọi chung là “Sấm Trạng Trình”. Ông có những bài thơ đã trở thành kiệt tác, đi vào lòng người, các bài thơ nói về tình yêu đất nước, thương dân, tình yêu thiên nhiên và nhiều đề tài khác. Tiêu biểu trong số đề tài đó có một bài thơ mà tác giả đứng về phía nhân dân lầm than, cực khổ và khinh bỉ bọn quan lại giam lam, độc ác trong xã hội phong kiến thối nát, đó là bài “Ghét chuột”.

Vốn trời sinh ra dân

Ấm no đều muốn được

Ôi! Xưa bậc thánh nhân

Dạy dân trồng ngũ cốc

Cha mẹ được phụng thờ

Vợ con được săn sóc

Chuột lớn sao bất nhân?

Gậm khoét thật thảm độc

Đồng ruộng trơ rơm khô

Kho đụn kiệt gạo thóc

Sao dám khinh mạng dân?

Phá hoại thật tàn khốc

Rình mò dưới lỗ hang

Thần dân đều căm tức!

Quấy nhiễu mất lòng người

Tất bị người xé xác

Thây phơi khắp thị thành

Thịt quạ diều rỉa bóc

Khiến cho lớp dân tàn

Cùng an hường hạnh phúc.

(Bạch Vân am thi tập- Ngô Lập Chi dịch)

Bài thơ này được viết bằng chữ Hán, theo thể ngũ ngôn trường thiên, rút trong tập “Bạch Vân am thi tập” của Trạng Trình đã được Ngô Lập Chi dịch theo đúng nguyên điệu. Ở đoạn đầu bài thơ, ngôn ngữ trang trọng, thiên về việc giáo huấn, phản ánh tư tưởng thương dân “lấy dân làm gốc”. Con người phải được dạy dỗ, sống vì một lí tưởng cao đẹp:

Ôi! Xưa bậc thánh nhân

….

Vợ con được săn sóc.

Nhà thơ ngụ ý nhắc nhở mọi người cần phải sống lương thiện, không được làm điều ác, sống trái với ý muốn của bản thân. Niềm khát khao của mọi người đó là được sống trong lo ấm. Qua sáu câu thơ đầu, cho thấy tâm hồn và cốt cách cao cả của thi nhân, tư tưởng “lấy dân làm gốc” được tác giả nhắc đến, thể hiện qua sáu câu thơ này.

Mười câu thơ tiếp theo nói về “lũ chuột” bất nhân, nghệ thuật trào phúng được vận dụng sắc sảo đã vẽ lên bộ mặt gớm ghiếc của lũ chuột bốn chân và bầy chuột hai chân trong xã hội mục nát thời bấy giờ. Lũ chuột là ẩn dụ cho những bọn quan tham, ăn hối lộ, cướp bóc tiền bạc của dân. Chúng là lũ bất nhân, phá hoại mùa màng, gặm khoét lương thực, làm cho ruộng đồng xác xơ, kho đụn kiệt gạo thóc. Tội ác tày trời, chúng là những người phá hoại đất nước làm cho đất nước ngày càng kiệt quệ, chế độ phong kiến thối nát:

Chuột lớn sao bất nhân

Gặm khoét thậm thảm độc

Đồng ruộng trơ rơm khô

Kho đụng kiệt gạo thóc.

Vậy là hết đường sinh sống, nhân dân còn gì nữa để phụng dưỡng cha mẹ, để chăm sóc vợ con? Nhà thơ giận dữ hỏi tội chúng lũ bất lương, tàn ác: “Chuột lớn sao bất nhân?”, “Sao dám khinh mạng dân”. Trạng Trình đã từng dâng sớ xin chém đầu hết lũ quan tham, hại nước. Người đọc thấy được sự căm giận và khinh bỉ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với bọn quan tham, vô lại.

Tiếp đến: “Khó nhọc nông phu than

Đói gầy nông phụ khóc”

Lũ “chuột lớn” đã gieo rắc bao tai họa khủng khiếp cho nhân dân, hai câu thơ được viết theo thủ pháp “bình đối” gợi ra trước mắt người đọc cuộc sống bi thảm, thạm bại của người dân thời đó. Tiếng than khóc của nhân dân vang dội khắp đất trời, bằng cả tấm lòng nhân đạo bao la, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau thay cho nỗi đau của nhân dân. Trong những vần thơ là hình ảnh ghê tởm của “lũ chuột bốn chân” và “bầy chuột hai chân”- lũ quan lại. Nhắc tới chuột là nhắc tới hang ổ của chúng, nhắc tới là nhắc tới thái độ của nhân dân, nhà thơ đã viết:

“Rình mò dưới lỗ hang,

Thần dân đều căm tức”

Lũ chuột ra sức đục khoét dân lành, chúng vơ vét của cải của nhân dân, nhưng không ai dám lên tiếng. Tác giả phê phán, lên án và chỉ ra nguyên nhân sâu xa gây ra mọi tội ác trong xã hội cũ. Bài thơ tố cáo hiện thực xã hội càng trở lên có giá trị mạnh mẽ hơn.

Kết bài, sáu câu thơ cuối biểu lộ thái độ yêu ghét rõ ràng của nhà thơ. Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông nguyền rủa lũ “chuột lớn” sẽ bị người xé xác, phanh thây là mồi cho quạ mổ. Ý thơ hàm súc, súc tích dồn nén hết mọi sự giận dữ, căm ghét vào trong đó. Tội ác bị trừng phạt, tai họa được diệt trừ. Tác giả tin vào sức mạnh của nhân dân và nhân quả “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”:

Quấy nhiễu mất lòng người

Tất bị người xé xác

Thây phơi khắp thị thành

Thịt quạ diều rỉa bóc

Khiến cho lớp dân tàn

Cùng an hưởng hạnh phúc.

Bài thơ “Ghét chuột” là một trong những bài thơ hay xuất sắc, đi vào lòng người mặc dù bài thơ này ra đời cách đây đã rất, rất lâu nhưng khi đọc người đọc vẫn có những cảm xúc khác nhau về bài thơ này, đồng cảm với những người nông dân cực khổ và căm ghét bọn quan lại hại nước hại dân.

 

Phân tích bài thơ “Ghét chuột” số 3

 Bài thơ “Ghét chuột” được viết bằng chữ Hán, theo thể ngũ ngôn trường thiên, rút trong tập “Bạch Vân Am tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngô Lập Chi đã dịch bài thơ ra tiếng Việt, theo đúng nguyên điệu. Bài thơ mang dáng dấp một thiên ngụ ngôn. Nhà thơ đứng về phía nhân dân lầm than mà căm giận và khinh bỉ bọn quan lại gian tham, độc ác trong xã hội phong kiến mục nát. Yêu, ghét dứt khoát, rõ ràng trên cơ sở yêu thương nhân dân là nét nổi bật trong tư tưởng nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

       Đoạn đầu bài thơ, ngôn ngữ trang trọng, mang màu sắc giáo huấn, phản ánh tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Con người phải được dạy dỗ, biết làm ăn, sống vì một đạo lý cao đẹp:

“Ôi! xưa bậc thánh nhân

Dạy dân trồng ngũ cốc

Cha mẹ được phụng thờ

Vợ con được săn sóc.”

        Nhà thơ ngụ ý nhắc nhở mọi người phải biết sống lương thiện, không được làm điều ác, trái lương tâm. “Ấm no đều muốn được” là niềm khao khát và ước mong của mọi người. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” ấy được diễn đạt một cách trang nghiêm, sâu sắc qua 6 câu thơ đầu, cho thấy tâm hồn và cốt cách cao cả của thi nhân.

        Mười câu thơ tiếp theo nói về “lũ chuột lớn bất nhân”. Nghệ thuật phúng dụ được vận dụng sắc sảo đã vẽ lên bộ mặt gớm ghiếc của lũ chuột bốn chân và bầy chuột hai chân trong xã hội thối nát thời bấy giờ. Chúng là lũ “bất nhân” phá hoại mùa màng, “gặm khoét” lương thực, làm cho ruộng đồng xác xơ, kho đụn “kiệt gạo thóc”. Tội ác của lũ chuột tày trời:

Chuột lớn sao bất nhân

Gậm khoét thật thảm độc

Đồng ruộng trơ rơm khô

Kho đụn kiệt gạo thóc.

       Con người thế là hết đường sinh sống. Còn gì nữa để phụng dưỡng cha mẹ và săn sóc vợ con? Hai lần nhà thơ giận dữ hỏi tội lũ bất lương, tàn ác: “Chuột lớn sao bất nhân?” … “Sao dám khinh mạng dân?” Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng dâng sớ xin chém lũ nịnh thần hại dân hại nước. Vì thế, thái độ quyết liệt của ông đối với lũ “chuột lớn” là điều dễ hiểu. Người đọc gần năm thế kỷ qua vô cùng thán phục thái độ căm giận và khinh bỉ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với bọn tham quan ô lại.

       Lũ “chuột lớn” đã gieo rắc bao tai hoạ khủng khiếp cho nhân dân. Hai câu thơ được viết theo thủ pháp “bình đối”, gợi ra trước mắt nhân gian cuộc sống bi thảm của người dân cày lam lũ, đói rét:

Khó nhọc nông phu than

Đói gầy nông phụ khóc

        Tiếng “than khóc” của nhà nông vang dậy đất trời. Bằng cả tấm lòng nhân ái bao la, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau cho nỗi đau của dân lành. Ông mãi mãi sống trong niềm kính phục của nhân dân ta.

        Thấp thoáng, ẩn hiện trong những vần thơ là hình ảnh ghê tởm của “lũ chuột bốn chân” và “bầy chuột hai chân”. Nói đến chuột là phải nói đến hang, lỗ của chúng. Nói đến chuột là phải nói đến thái độ của nhân dân. Và nhà thơ đã viết:

Rình mò dưới lỗ hang,

Thần dân đều căm tức

        “Lỗ hang” là dịch thoát hai chữ “thành, xã”. “Thành” là nơi quốc cấm, bất khả xâm phạm. “” là nơi thờ cúng tôn nghiêm, ai dám đào bới? “Lỗ hang” (thành, xã) trong câu thơ là biểu tượng ám chỉ bọn vua chúa, quan lại bề trên, chỗ dựa của bọn tham quan, ô lại. Lũ “chuột lớn” ấy ra sức đục khoét dân lành mà không ai dám động đén chúng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có cái nhìn phê phán sắc bén chỉ ra nguyên nhân sâu xa  gây ra mọi tội ác trong xã hội thối nát. Giá trị tố cáo hiện thực của bài thơ “Ghét chuột” càng trở nên mạnh mẽ.

       Sáu câu thơ cuối bài biểu lộ trực tiếp thái độ yêu ghét của nhà thơ. Ông nguyền rủa lũ “chuột lớn” tất sẽ bị người xé xác, phanh thây làm mồi cho diều quạ. Ý thơ hàm súc như dồn nén tất cả sự giận dữ, căm ghét:

“Quấy nhiễu mất lòng người

Tất bị người xé xác

Thây phơi khắp thị thành

Thịt quạ diều rỉa bóc!”

       Tội ác bị trừng phạt! Tai hoạ được diệt trừ! Đó là niềm tin của nhà thơ về sức mạnh nhân dân và đạo lý ở đời. Nếu như trong thế kỷ 15, ức Trai đã từng cầu mong “dân giàu đủ khắp đòi phương” giữa một nền thái bình bền vững, thì ở đây, Trạng Trình cũng chỉ có một ước muốn “lớp dân tàn” đang bị đói rét đau thương được sống một cuộc đời yên vui, hạnh phúc an cư lạc nghiệp:

“Khiến cho lớp dân tàn

Cùng an hưởng hạnh phúc”

       Cảm phục biết bao tấm lòng ưu ái mênh mông của Bạch Vân cư sĩ.

       “Ghét chuột” là một bài thơ độc đáo ở đề tài, sắc bén ở thủ pháp nghệ thuật phúng dụ: mượn con chuột bốn chân đế vạch mặt bọn quan lại tham ô gây ra bao tội ác trong xã hội, sống xa hoa trên máu và nước mắt nhân dân. Điều đáng quý nhất, đáng khâm phục nhất là tình thương yêu và lòng căm giận một cách sâu sắc mạnh mẽ của tác giả. Nội dung tố cáo hiện thực và tinh thần nhân đạo là giá trị lớn của bài thơ.

       Bài thơ “Ghét chuột” ra đời ngót 500 năm mà vẫn nóng bỏng tình yêu ghét, giàu tính chiến đấu, vẫn mang ý nghĩa thời sự lớn lao. Tư tưởng “an dân” của Trạng Trình mãi mãi rực sáng “như nhật trung thiên” (như mặt trời trong bầu trời). Tình thương dân và lo đời của nhà thơ quê hương mãi mãi dào dạt như dòng sông Tuyết Giang vậy.

 

Phân tích bài thơ “Ghét chuột” số 4

Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là nhà triết học vĩ đại, nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỷ XVI, học vấn uyên bác, đạo đức cao khiết, tài năng lỗi lạc, như cây đại thụ tỏa bóng mát cả một thời đại. Tuy sống giữa một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nội chiến kéo dài, nhân dân đắm chìm trong lầm than, cực khổ, nhưng ông vẫn giữ trọn nhân cách, trở thành ông thầy vĩ đại, xứng đáng với danh hiệu Tuyết Giang Phu Tử. Ông là nhà thơ giàu tình thương yêu nhân dân. Thơ của ông đã phản ánh và lên án những bất công, thối nát của xã hội phong kiến Việt Nam thời bấy giờ.

Bài thơ Ghét chuột được viết bằng chữ Hán, theo thể ngũ ngôn trường thiên, rút trong tập Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngô Lập Chi đã dịch bài thơ ra tiếng Việt, theo đúng nguyên điệu. Bài thơ mang dáng dấp một thiên ngụ ngôn. Nhà thơ đứng về phía nhân dân lầm than mà căm giận và khinh bỉ bọn quan lại gian tham, độc ác trong xã hội phong kiến mục nát. Yêu, ghét dứt khoái, rõ ràng trên cơ sở yêu thương nhân dân là nét nổi bật trong tư tưởng nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Đoạn đầu bài thơ, ngôn ngữ trang trọng, mang màu sắc giáo huấn, phản ánh tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Con người phải được dạy dỗ, biết làm ăn, sống vì một đạo lý cao đẹp:

Ôi! Xưa bậc thánh nhân

Dạy dân trồng ngũ cốc

Cha mẹ được phụng thờ

Vợ con được săn sóc.

Nhà thơ ngụ ý nhắc nhở mọi người phải biết sống lương thiện, không được làm điều ác, trái lương tâm. “Ấm no đều muốn được” là niềm khao khát và ước mong của mọi người. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” ấy được diễn đạt một cách trang nghiêm, sâu sắc qua 6 câu thơ đầu, cho thấy tâm hồn và cốt cách cao cả của thi nhân.

Mười câu thơ tiếp theo nói về “lũ  chuột lớn bất nhân”. Nghệ thuật phúng dụ được vận dụng sắc sảo đã vẽ lên bộ mặt gớm ghiếc của lũ chuột bốn chân và bầy chuột hai chân trong xã hội thối nát thời bấy giờ. Chúng là lũ “bất nhân” phá hoại mùa màng, “gặm khoét” lương thực, làm cho ruộng đồng xác xơ, kho đụn “kiệt gạo thóc”. Tội ác của lũ chuột tày trời:

Chuột lớn sao bất nhân

 Gặm khoét thật thảm độc

Đồng ruộng trơ rơm khô

Kho đụn kiệt gạo thóc.

Con người thế là hết đường sinh sống. Còn gì nữa để phụng dưỡng cha mẹ và săn sóc vợ con? Hai lần nhà thơ giận dữ hỏi tội lũ bất lương, tàn ác: “Chuột lớn sao bất nhân?”.. “Sao dám khinh mạng dân?’ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng dâng sớ xin chém lũ nịnh thần hại dân hại nước. Vì thế, thái độ quyết liệt của ông đối với lũ “chuột lớn” là điều dễ hiểu. Người đọc gần năm thế kỉ qua vô cùng thán phục thái độ căm giận và khinh bỉ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với bọn tham quan ô lại.

Lũ “chuột lớn” đã gieo rắc bao tai họa khủng khiếp cho nhân dân. Hai câu thơ được viết theo thủ pháp “bình đối” gợi ra trước mắt nhân gian cuộc sống bi thảm của người dân cày lam lũ, đói rét:

Khó nhọc nông phu than

Đói gầy nông phụ khóc.

Tiếng “than khóc” của nhà nông vang dậy đất trời. Bằng cả tấm lòng nhân ái bao la, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau cho nỗi đau của dân lành. Ông mãi mãi sống trong niềm kính phục của nhân dân ta.

Thấp thoáng, ẩn hiện trong những vần thơ là hình ảnh ghê tởm của “ chuột bốn chân” và “bầy chuột hai chân”. Nói đến chuột là phải nói đến hang, lỗ của chúng. Nói đến chuột là phải nói đến thái độ của nhân dân.

Và nhà thơ đã viết:

Rình mò dưới lỗ hang,

Thần dân đều căm tức

“Lỗ hang” là dịch thoát hai chữ “thành, xã”. “Thành”là nơi quốc cấm, bất khả xâm phạm. “Xã’’là nơi thờ cúng tôn nghiêm, ai dám đào bới? “Lỗ hang” (thành, xã) trong câu thơ là biểu tượng ám chỉ bọn vua chúa, quan lại bề trên, chỗ dựa của bọn tham quan, ô lại. Lũ “chuột lớn” ấy ra sức đục khoét dân lành mà không ai dám động đến chúng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có cái nhìn phê phán sắc bén chỉ ra nguyên nhân sâu xa gây ra mọi tội ác trong xã hội thối nát. Giá trị tố cáo hiện thực của bài thơ Ghét chuột càng trở nên mạnh mẽ.

Sáu câu thơ cuối bài biểu lộ trực tiếp thái độ yêu ghét của nhà thơ. Ông nguyền rủa lũ “chuột lớn” tất sẽ bị người xé xác, phanh thây làm mồi cho diều quạ. Ý thơ hàm súc như dồn nén tất cả sự giận dữ, căm ghét:

Quấy nhiễu mất lòng người

Tất bị người xé xác

Thây phơi khắp thị thành

Thịt quạ diều rỉa bóc!

Tội ác bị trừng phạt! Tai hoạ được diệt trừ! Đó là niềm tin cùa nhà thơ về sức mạnh nhân dân và đạo lý ở đời. Nếu như trong thế kỷ XV, Ức Trai đã từng cầu mong “dân giàu đủ khắp đòi phương” giữa một nền thái bình bền vững, thì ở đây, Trạng Trình cũng chỉ có một ước muốn “lớp dân tàn” đang bị đói rét đau thương được sống một cuộc đời yên vui, hạnh phúc, an cư lạc nghiệp:

Khiến cho lớp dân tàn

Cùng an hưởng hạnh phúc.

Cảm phục biết bao tấm lòng ưu ái mênh mông của Bạch Vân cư sĩ.

Ghét chuột là một bài thơ độc đáo ở đề tài, sắc bén ở thủ pháp nghệ thuật phúng dụ: mượn con chuột bốn chân để vạch mặt bọn quan lại tham ô gây ra bao tội ác trong xã hội, sống xa hoa trên máu và nước mắt nhân dân. Điều đáng quý nhất, đáng khâm phục nhất là tình thương yêu và lòng căm giận một cách sâu sắc manh mẽ của tác giả. Nội dung tố cáo hiện thực và tinh thần nhân đạo là giá trị lớn của bài thơ.

Bài thơ Ghét chuột ra đời ngót 500 năm mà vẫn nóng bỏng tình yêu ghét, giàu tính chiến đấu, vẫn mang ý nghĩa thời sự lớn lao. Tư tưởng “an dân của Trạng Trình mãi mãi rực sáng “ như nhật trung thiên” (như mật trời trong bầu trời). Tình thương dân và lo đời của nhà thơ quê hương mãi mãi dào dạt như dòng sông Tuyết Giang vậy.

Nguồn: Tổng Hợp