Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Cửa ải Quỷ Môn Quan” văn học 9 mới nhất

Quỷ Môn Quan rút trong Bắc hành tạp lục là một trong những bài thơ tuyệt tác của Nguyễn Du. Bài thơ mở ra một không khí trang nghiêm, một sắc thái cảm xúc mới lạ ít thấy trong thơ chữ Hán Nguyễn Du: cảm xúc về một vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở, nơi phên giậu của đất nước, đã chôn vùi bao quân tướng của thiên triều từng sang xâm lược nước ta

Phân tích bài thơ “Cửa ải Quỷ Môn Quan” mẫu số 1

Tiếng thơ ai động đất trời,

Nghe như non nước vọng lời nghìn thu…

(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)

    Nguyễn Du (1765 – 1820) là nhà thơ thiên tài của dân tộc, niềm tự hào vô cùng lớn lao của nhân dân ta. Ngoài kiệt tác Truyện Kiều và Văn chiêu hồn bằng thơ Nôm, thi hào còn để lại 3 tập thơ chữ Hán có giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc: Nam trung tạp ngâm, Thanh Hiên thi tập và Bắc hành tạp lục. Bác hành tạp lục – tập thơ đi sứ của Nguyễn Du. Nó mở ra trước mắt người đọc một thế giới bao la, xa lạ, những tên đất tên người, những nẻo đường phương bắc xa xôi, “những nẻo đường trông  thấy’” nơi quê người mà Nguyễn Du đã đi qua, đã nhìn thấy và xúc động. Có đọc Bắc hành tạp lục ta mới cảm nhận hết hồn thơ Nguyễn Du với cảm hứng nhân văn và tinh thần dân tộc cao đẹp.

Quỷ Môn Quan rút trong Bắc hành tạp lục là một trong những bài thơ tuyệt tác của Nguyễn Du. Bài thơ mở  ra một không khí trang nghiêm, một sắc thái cảm xúc mới lạ ít thấy trong thơ chữ Hán Nguyễn Du: cảm xúc về một vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở, nơi phên giậu của đất nước, đã chôn vùi bao quân tướng của thiên triều từng sang xâm lược nước ta.

Viết về ải “Quỷ Môn Quan”, Nguyễn Du có hai bài thơ: Quỷ Môn đạo trung và Quỷ Môn Quan. Cửa ải Quỷ Môn Quan thuộc Chi Lăng, tính Lạng Sơn, ở đó có núi đầu ma, đầu quỷ nên có tên là núi Hàm Quỷ, còn gọi là Quỷ Môn Quan. Núi cao dựng thành  đường hẹp uốn lượn, dốc thăm thẳm, bãi lầy chia cắt, từng là then khoá cửa ngõ phía bắc. Quỷ Môn Quan từng là bãi chiến trường đẫm máu khốc liệt. “Ngày 18 trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế! Ngày 20, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu” (Bình Ngô đại cáo). Đó là vào năm 1427. Người phương Bắc đến nay vẫn lưu truyền câu ca kinh hãi: “Quỷ Môn Quan, thập nhẫn khứ, cửu bất hoàn” – Cửa ải Quỷ Môn, mười người qua, chín người (bỏ xác) không về!

Quỷ Môn Quan – bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán, đây là bản dịch thơ.

                            Dịch núi giăng giăng cao tựa mây                                                              

Công cán khen gì tướng Hán hay.            

Bài thơ như một trang ký sự viếng chiến trường xưa. Câu đầu là một nét vẽ hoành tráng về Quỷ Môn Quan: núi dựng thành cao vút, liên tiếp tận mây xanh. Vừa có núi có mây. Núi trập trùng, liên tiếp cao vút (liên phong cao sáp). Trời xanh làm hiện lên dãy núi cao hùng vĩ. Câu thơ thứ nhất miêu tả bằng trực giác; câu thơ thứ hai đi sâu vào suy ngẫm: Nam Bắc chia ranh giới ở chỗ này! Câu thơ tự hào khẳng định cõi bờ Tổ quốc thiêng liêng:

Dịch núi giăng giăng

cao tựa mây,

Cửa chia Nam Bắc chính là đây.

Ba chữ “tựu thử phân”  là một tứ thư mang tính truyền thống. Lý Thường Kiệt đã viết trong Nam quốc sơn hà . “ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (Vằng vặc sách trời chia xứ sở). Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã tuyên bố: “ Như nước Đại Việt ta từ trước… Núi sông bờ cõi đã chia”. Vua Quang Trung trên đường tiến binh thần tốc đánh quân Thanh từng nói với tướng sĩ: “ Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị (…) Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài… ” (Hoàng Lê nhất thống chí) – Nguyễn Du đã kế thừa người xưa để nói lên niềm tự tôn dân tộc khi đứng trước Quỷ Môn Quan hùng vĩ.

Giọng thơ trở nên trầm mặc, vần. Thơ hàm chứa chất suy tưởng nói lên cái nghịch lý, cái cực kỳ vô lý trong xã hội và lịch sử. Quỷ Môn Quan là đất hiếm sinh tử (sinh tử địa) thế mà vô số người vẫn phải lại qua (vô số khứ nhân lai). Hai chữ “khả liên” (thương cho, hoặc là khá thương thay) diễn tả niềm xót thương của nhà thơ đối với bao người đã phải bỏ mạng nơi cửa ải hiểm trở này:

Tử sinh có tiếng nơi nguy thế

Qua lại bao người, chuyện xót thay!

Vần thơ thể hiện một tấm lòng nhân đạo mênh mông. Mộng bành trướng xâm lăng của bọn vua chúa phương Bắc đã xô đẩy vô số binh sĩ, tướng tá của chúng phải giãi thây khắp Quỷ Môn Quan! Đó là chiều sâu trữ tình – cảm hứng lịch sử của bài thơ. Như ta đã biết, Quỷ Môn Quan là “đất chết’”của lũ giặc phương Bắc! Nơi đây, năm 981, Lê Hoàn đại phá giặc Tống; năm 1285, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát chết lúc chạy qua cửa ải; năm 1427, An Viễn hầu Liễu Thăng bị liêu diệt, hàng vạn giặc bị đánh tơi bời! Quỷ Môn Quan đúng là “sinh tử địa”. Hai câu trong phần luận nói rõ núi Đầu quỷ, núi Hàm quỷ này là “sinh tử địa” như thế nào? Câu thơ chữ Hán với bốn nét vẽ gợi tả không khí thê lương, thảm đạm và rùng rợn của chiến trường xưa:

Tắc đồ tùng măng tàng xà hổ

Bố dã yên lam tụ quỷ thần.

Thật là hiểm trở “bụi gai lấp đầy đường” thật là mịt mờ, hoang vắng và ghê sợ “khí độc đầy đồng”. Cái hiện tại đang rình rập “rắn hổ ẩn nấp”. Cái kinh dị ẩn hiện “Quỷ thần nhóm họp”. Bằng trực giác, bằng cảm giác và bằng tưởng tượng, nhà thơ đã tái hiện cảnh tượng chiến trường xưa vô cùng hiểm trở và khủng khiếp. Cái mất đi và cái hiển hiện, cõi âm và cõi dương, thú dữ và quỷ không đầu được đặc tả làm ta nhớ lại điều mà Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo. “Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường – Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước”. Câu thơ dịch đã lột tả được phần nào ý thơ và nghệ thuật đối của nguyên tác:

Bụi rậm đầy đường, hùm rắn núp,

Khói mây khắp chốn, quỷ ma đầy.

Hai câu kết biểu lộ cách nhìn độc đáo, đầy tinh thần nhân đạo của nhà thơ đối với binh lính chết chóc thảm thương trong những cuộc xâm lược từ phương Bắc tới. Gió lạnh như có thổi xương trắng phơi khắp cửa ải – gió lạnh thổi xương trắng (hàn phong xuy bạch cốt) là một hình ảnh làm xúc động lòng người. Hàng vạn sinh mạng của binh lính Trung Hoa phải trả giá một cách vô nghĩa để thực hiện mộng xâm lăng bành trướng của bọn vua chúa Thiên triều. Nếu “ Đằng giang tự cổ huyết do hồng”  thì Quỷ Môn Quan cho đến nay vẫn ào ào suốt đêm ngày “hàn phong xuy bạch cốt”. Câu thơ của Nguyễn Du rất gần gũi với vần thơ “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn qua bản dịch thơ của Đòan Thị Điểm (?)

   Hồn sĩ từ gió ù ù thổi

        Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi,

Chinh phu tử sĩ mấy người

              Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn… ”

Câu thơ cuối bài mang giá trị tố cáo và châm biếm sâu sắc. Nhà thơ nghe gió lạnh thổi, nhìn bãi chiến trường xưa đầy “xương trắng” chất đống mà cất tiếng hỏi: “Kỳ công của tướng quân nhà Hán có gì đáng khen” .Hỏi mà không trả lời. Nói “có gì đáng khen” là cách nói, lối nói phản ngữ.; nói mỉa, để lên án và chế giễu Hán tướng quân là Mã Viện, năm 42 đã mang quân sang xâm lược nước ta, dìm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào biển máu. Chính hắn đã dựng cột đồng trụ với lời hăm dọa hiểm độc: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt. Nguyễn Du có một số bài thơ viết về Mã Viện, trong đó có những câu đầy khinh bỉ:

   Những tưởng cột đồng lòe gái Việt,

Chẳng dè xe ngọc lụy đàn con,

Đài Mây tên họ sao không để?

        Cùng tế phương Nam, chết vẫn bòn.

                                              (Miếu Mã Phục Ba ỏ Giáp Thành)

Câu thơ “Công cán khen gì Hán tướng hay” xuất hiện sau hình ảnh “gió lạnh phơi xương  trắng mang giá trị tố cáo sâu sắc tội ác lũ xâm lăng xưa và nay đối với đất nước ta. Bài thơ viếng chiến trường không chỉ hàm chứa tinh thần nhân đạo mà còn nêu lên bài học lịch sử đối với lũ giặc phương Bắc.

     Tóm lại, cảm hứng lịch sử được diễn tả bằng phương thức trữ tình tạo nên những vần thơ chứa chan tinh thần nhân đạo. Hay nhất của bài thơ là bốn câu trong phần luận và phần kết. Giọng thơ từ u uất xót thương chuyển thành châm biếm mỉa mai. Quỷ Môn Quan không chỉ có núi cao vút lên tận mây xanh, là nơi rắn hổ ẩn nấp, nơi quỷ thần nhóm họp mà còn có những gò, những đống xương trắng ù ù gió lạnh thổi suốt đêm ngày. Sự kết hợp giữa ngôn ngữ hình tượng với sự suy ngẫm, liên tưởng và bình giá đã tạo nên cốt cách bài thơ. Nguyễn Du đã đứng trên tinh thần dân tộc để nói về  Quỷ Môn Quan, nơi cửa ải hiểm yếu, từng là mồ chôn lũ xâm lược. Quỷ Môn Quan là mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc đem đến cho ta biết bao yêu mến, tự hào.

 

Phân tích bài thơ “Cửa ải Quỷ Môn Quan” mẫu số 2

Nguyễn Du đã được coi là một đại thi hào của dân tộc, ông đã để lại cho đời một kho tàng thơ có giá trị cả về mặt nội dung và nghệ thuật. Các tập thơ của ông mở ra cho người đọc một thế giới bao la, những con người tài trí phi thường, tấm lòng và tư thế của Nguyễn Du cung luôn được thể hiện trong thơ. Qua bài thơ có thể thấy tư thế của Nguyễn Du là đàng hoàng tự chủ tuy là người đi sứ sang Thiên triều nhưng không hề mất đi lòng tự hào, tự tôn dân tộc.

Quỷ Môn Quan là bài thơ mở ra một cảm xúc mới lạ trong thơ Nguyễn Du. Trước hết ông dạt dào cảm xúc trước cảnh núi non hùng vĩ, nơi phên dậu của Tổ quốc đã vùi thân biết bao quân xâm lược của các triều Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Nhìn ngắm cảnh quan thiên nhiên ấy, Nguyễn Du nhận thức đầy đủ sâu sắc vị trí địa đầu của Tổ Quốc và ý nghĩa lịch sử thiêng liêng tuy mang cái tên có vẻ dữ dằn Cửa quỷ (cửa vào cõi chết). Bài thơ đã hiện lên vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên và chết chóc, binh khí còn bao quanh nơi diễn ra những trận chiến:

“Dịch núi giăng giăng cao tựa mây

Cửa chia Nam Bắc chính là đây”

Bằng những lời lẽ miêu tả của tác giả, người đọc có cảm tưởng nơi đây có một không khí bí ẩn bao trùm, không dễ gì qua lại. Cái chết rình rập ở những hình ảnh: bụi gai lấp đường, hổ báo, rắn rết ẩn nấp, khí độc bao phủ khắp nơi, núi non, đồng nội. Một hình ảnh rùng rợn hơn là từng đống xương trắng trong bầu trời âm u, giá lạnh vì không có ai đến. Vì vậy, đó là những linh hồn không được siêu thoát, lởn vởn trong rừng núi đầy tử khí.

Chúng ta có thể thấy bài Quỷ Môn Quan có mang một chút ý vị của một người đi thăm viếng chiến trường xưa nhưng thiếu hẳn sắc thái sử thi, những cảm khoái bi hùng trong chiến đấu. Đây chỉ là bài thơ mang những cảm xúc trữ tình do lòng nhân ái ghi lại, cho nên có những câu thơ ngậm ngùi, xót thương cho những con người đem thân làm thang danh vọng cho một vài người nào đó. Nhiều người biết là chỗ chết mà vẫn phải qua lại vẫn phải dấn thân vào. Nói rõ ra, những tên quân xâm lược từ phương Bắc là những kẻ gây tội ác, đem nỗi bất hạnh vô cùng tận cho nhân dân ta. Cái chết của chúng là đền tội ác, là kẻ gieo gió phải gặt bão. Đối với những tên tướng quyền lợi gắn liền với giai cấp thống trị, hiếu chiến thì Nguyễn Du không hề thương cảm mà còn chế giễu, mỉa mai (như trường hợp tên Mã Viện). Nhưng Nguyễn Du lại có cái nhìn bao dung, mở lòng nhân ái thương hại bọn người bị đẩy ra làm bia đỡ đạn, là nơi để thử súng gươm. Họ bắt buộc phải phục tùng bọn người đầy tham vọng, bất nhân, bất nghĩa.

Những tên lính tham gia cuộc chiến phi nghĩa đã phải trả giá đắt, chết bỏ thây trên cánh rừng hoang, xương chất thành đống, hồn vía vật vờ thành ma quỷ lang thang ở những hốc núi, xó rừng hoang vu. Nhưng từ giọng điệu cảm thương người lính, trai trẻ mà chẳng có ích gì cho gia đình, xã hội vì họ bị ấn gươm, giáo vào tay và buộc phải ra đi như câu ca dao cổ Ba năm trấn thủ lưu đồn:

“Cửa sinh có tiếng nơi nguy thế

Qua lại bao người chuyện xót thay”

Sau khi phê phán những tên lính tham gia trận chiến, Nguyễn Du chuyển sang phê phán kẻ cầm quyền, kẻ thống trị đầy tham vọng và nhẫn tâm: Giãi thây trăm họ nên công một người, thì dù có tài ba đến đâu cũng không đáng được ngợi khen, và không có cái nhìn thông cảm.

Tuy đất nước láng giềng luôn tìm cách xâm lược đất nước ta, gieo nỗi bất hạnh lên đầu người dân, nhưng ông vẫn ca ngợi đề cao những con người trung nghĩa, khí phách cao thượng như Khuất Nguyên, Hàn Tín, Văn Thiên Tường, Đỗ Phủ… Đồng thời ông cũng lên án kẻ độc ác, xấu xa, đê tiện như Thượng Quan, Tần Cối, Tô Tần… Thái độ đối với Mã Viện vì cái gọi là chiến công của hắn, Ông khinh miệt, coi thường khác với thái độ người lính vô danh.

Cảm hứng chủ yếu trong bài Quỷ Môn Quan là cảm hứng nhân đạo và đó cũng là cảm hứng bao trùm nhiều tác phẩm của Nguyễn Du. Điều cần hiểu là với lòng tự hào, tự tôn dân tộc đã là ý thức thường trực trong tâm hồn Nguyễn Du mỗi khi cầm bút lên làm thơ. Bài thơ này có thể đem đến cho người đọc một sự mới lạ so với sắc thái trầm uất trong nhiều bài thơ chữ Hán của Ông. Nghĩa là Quỷ Môn Quan vừa là tiếng nói trong trạng thái dữ dằn, quyết liệt ở một cửa ải nơi án ngữ giữ gìn sự an nguy của đất nước vừa tỏ lòng thương cảm những sinh linh qua lại vì nhiệm vụ.

Quỷ Môn Quan không chỉ là vẻ đẹp của núi non hùng vĩ, hoang vu mà còn là cảnh xương trắng thấp thoáng đây đó, gió âm u thổi suốt đêm ngày. Bài thơ đã thể hiện cốt cách cũng như tình yêu đất nước, mượn lời thơ để khẳng định cho những kẻ có ý định xâm chiếm bờ cõi về chủ quyền đất nước, và lời cảnh báo về cửa ải nguy hiểm khó thoát này.

 

Phân tích bài thơ “Cửa ải Quỷ Môn Quan” mẫu số 3

Nguyễn Du là người đã kết tinh mọi truyền thống ưu tú nhất của văn học bác học và văn học dân gian Việt Nam, người kết hợp vốn văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc để sáng tạo ra kiệt tác có tầm cỡ thế giới là Truyện Kiều. Với Truyện Kiều, ông đã đưa thể loại truyện Nôm thịnh hành từ thế kỷ XVII lên một trình độ cổ điển, tiếp cận với thể loại tiểu thuyết tâm lý hiện đại. Nguyễn Du là thi hào Việt Nam đầu tiên đi vào lịch sử văn hóa nhân loại.

Nguyễn Du quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân , Hà Tĩnh, sinh năm Ất Dậu (1765) ở Thăng Long.  Toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du đã thể hiện tư tưởng rất sâu sắc và tài năng nghệ thuật tuyệt vời của ông. Bên cạnh tác phẩm truyện Kiều, Nguyễn Du còn có nhiều tác phẩm nổi tiếng để đời. “Cửa ải Quỷ Môn Quan” là một trong số đó.

Núi trập trùng giăng đỉnh vút mây,

Ải chia Nam Bắc chính là đây.

Tử sanh tiếng đã vang đồng chợ,

Qua lại người không ngớt tháng ngày.

Thấp thoáng quỷ đầu nương bóng khói,

Rập rình cọp rắn núp rừng cây.

Bên đường gió lạnh luồng xương trắng,

Hán tướng công gì kể bấy nay?

“Cửa ải Quỷ Môn Quan”  là một bài thơ cảm tác hay của cụ Nguyễn Du về nghệ thuật văn học nhưng lại thể hiện tư tưởng yêu nước và lòng tự hào dân tộc với những chiến thắng oanh liệt ở một nơi đầu sóng ngọn gió sát nách với quân thù xâm lược phương Bắc bởi Quỷ Môn Quan là một cửa ải nằm ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Núi trập trùng giăng đỉnh vút mây,

Ải chia Nam Bắc chính là đây.

Tử sanh tiếng đã vang đồng chợ,

Qua lại người không ngớt tháng ngày.

Những câu thơ mở đầu cho bài thơ đã vẽ nên trước mắt người đọc khung cảnh ngút ngàn của núi non hùng vĩ. Các đỉnh núi cứ nối tiếp nhau “giăng giăng”, gợi cho người đọc cảm giác rằng những đỉnh núi này cứ nối tiếp nhau trải dài đến vô tận. Không chủ là những ngọn núi nối tiếp nhau mà đại thi hào Nguyễn Du còn miêu tả cả với độ cao đáng ngạc nhiên “cao tựa mây”. Trong không gian ngút ngàn của núi non hùng vĩ, cửa ải Quỷ Môn Quan hiện ra ngay trước mắt người đọc, nhà thơ cũng đã xác định rõ ràng: “Cửa chia Nam Bắc chính là đây”. Từ “là đây” vừa thể hiện được sự khẳng định niềm tự hào của nhà thơ về một địa danh của Tổ Quốc trong Nguyễn Du. Sau những câu thơ tả cảnh là sự thể hiện tự hào oai hùng về lịch sử với “ tử sanh tiếng đã vang đồng chợ” và sự nhộn nhịp của cửa ải Quỷ Môn Quan này.

Thấp thoáng quỷ đầu nương bóng khói,

Rập rình cọp rắn núp rừng cây.

Bên đường gió lạnh luồng xương trắng,

Hán tướng công gì kể bấy nay?

Trước sự oai hùng về cảnh và sự uy nghiêm với lịch sử dày biết bao năm , hiện lên đó là hình ảnh những “con quỷ” là ẩn dụ của những kẻ xâm lược phương Bắc. Những mối hiểm nguy dình dập khi “bụi rậm” là nơi “cọp rắn núp”, khung cảnh u ám, hoang sơ khi bị bao phủ bởi khói mây mịt mùng . Trong không gian u ám như vậy, những hình bóng của ma quỷ thật khiến người ta ghê sợ. ma quỷ ở đây là “khái niệm” dùng để chỉ hàng ngàn người Trung Quốc đã bỏ mạng nơi đây vì nuôi mộng xâm lăng. Kết cục bi thảm đó là điều tất yếu cho những kẻ cướp nước. Những kẻ đi xâm lược đất nước người khác chắc chắn kết cục cũng không vẻ vang gì.

 

Phân tích bài thơ “Cửa ải Quỷ Môn Quan” mẫu số 4

 Nguyễn Du là nhà thơ thiên tài của dân tộc Việt Nam, ông không chỉ đóng góp vào kho tàng văn học Việt Nam kiệt tác “Truyện Kiều” nổi tiếng, mà ông còn làm cho nền văn học dân tộc phong phú, hấp dẫn hơn bởi rất nhiều những tác phẩm hay, một trong số đó phải kể đến bài thơ: “Quỷ môn quan”. Đây là bài thơ viết về cảnh núi non hùng vĩ nơi cửa ải của đất nước, nơi chứng kiến bao nhiêu thăng trầm của lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Quỷ Môn Quan là một cửa ải nằm ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Vì ở đó có núi đầu ma, đầu quỷ nên còn được gọi là núi Hàm Quỷ. Quỷ Môn Quan từng là bãi chiến trường đẫm máu trong trận Chi Lăng và trận Mã Yên. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Du đã vẽ ra cái khung cảnh hùng vĩ, mênh mông của Quỷ Môn Quan:

“Dịch núi giăng giăng cao tựa mây,

Cửa chia Nam Bắc chính là đây”

Câu thơ đã mở ra trước mắt người đọc khung cảnh ngút ngàn của núi non hùng vĩ. Các đỉnh núi cứ nối tiếp nhau “giăng giăng”, gợi cho người đọc cảm giác rằng những đỉnh núi này cứ nối tiếp nhau trải dài đến vô tận. Không chỉ được gợi mở ra bởi bề rộng, những ngọn núi nơi đây còn được nhà thơ Nguyễn Du miêu tả cả với độ cao đáng ngạc nhiên “cao tựa mây”. Từ điểm nhìn của tác giả, những ngọn núi cao chót vót, dường như đã chạm đến đường chân mây. Trong không gian ngút ngàn của núi non hùng vĩ, cửa ải Quỷ Môn Quan hiện ra ngay trước mắt người đọc, nhà thơ cũng đã xác định rõ ràng: “Cửa chia Nam Bắc chính là đây”. Từ “là đây” vừa thể hiện được sự hân hoan của cảm xúc vừa thể hiện được niềm tự hào của nhà thơ về một địa danh của Tổ Quốc.

Nếu câu thơ đầu, nhà thơ thể hiện với tất cả niềm hân hoan, cảm xúc tự hào và cảm giác choáng ngợp trước sự kì vĩ của núi cao, thì hai câu thơ sau nhà thơ lại thể hiện sự trầm mặc, giọng điệu trầm lắng, da diết:

“Tử sinh có tiếng nơi nguy thế

Qua lại bao người, chuyện xót thay!”

 

Quỷ Môn Quan là nơi đất hiếm “sinh tử địa” nổi tiếng về độ hiểm nguy “có tiếng nơi nguy thế”. Vì sự quanh co, những gấp khúc bất ngờ, đột ngột cùng với vùng “tử sinh” mà đã rất nhiều người qua lại đã gặp những chuyện đau lòng “Qua lại bao người, chuyện xót thay”. Nhà thơ thể hiện được nỗi thương xót cho những người qua đường, vì vô tình mà phải bỏ mạng ở nơi đây. Đến đây, tấm lòng nhân đạo của nhà thơ được thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Bởi không chỉ thương xót cho những người dân ta vô tình ngang qua mà còn tiếc thương cho những quân cướp nước, vì lòng tham muốn bành chướng mà đã phải chịu thất bại thảm hại, dẫm đạp lên nhau mà bỏ mạng nơi đây.

“Tắc đồ tùng măng tàng xà hổ

Bố dã yên lam tụ quỷ thần”

Trong cái nhìn của Nguyễn Du, Quỷ Môn Quan không chỉ hiểm nguy bởi thế đất, bởi địa hình hiểm trở mà còn là nơi quy tụ sự có mặt của thú dữ, quỷ thần “Măng tàng xà hổ”, “mang tụ quỷ thần”. Nghĩa là nơi đây không chỉ là nơi “thâm sâu cùng cốc”, vùng đất “sinh tử địa” mà còn là nơi là ranh giới giữa sự sống và cái chết vô cùng nhạt nhòa.

“Bụi rậm đầy đường, hùm rắn núp,

Khói mây khắp chốn, quỷ ma đầy.

Không gian mênh mông, hoang vu tiếp tục được nhà thơ chấm phá thông qua mô tả khung cảnh xung quanh cũng như mối hiểm nguy dình dập khi “bụi rậm” là nơi “hùm rắn núp”, khung cảnh u ám, hoang sơ khi bị bao phủ bởi khói mây mịt mùng “Khói mây khắp chốn”. Trong không gian u ám như vậy, những hình bóng của ma quỷ thật khiến người ta ghê sợ. ma quỷ ở đây là “khái niệm” dùng để chỉ hàng ngàn người Trung Quốc đã bỏ mạng nơi đây vì nuôi mộng xâm lăng của Tiền triều. Kết cục bi thảm đó là điều tất yếu cho những kẻ cướp nước. Vì đi trái lại với luật trời, xâm phạm bờ cõi của một quốc gia độc lập mà bọn chúng mãi phải chon vùi thân xác cũng như linh hồn tại nơi hoang vu, trống vắng này.

Như vậy, ta cơ thể thấy bằng cảm xúc của một thi sĩ, Nguyễn Du đã tái hiện lại được một địa danh lịch sử đầy chất trữ tình. Ta có thể dễ dàng nhận thấy, đoạn hay nhất của bài thơ chính là bốn câu thơ cuối,bởi nó chính là bước ngoặt chuyển trạng thái cảm xúc từ xót thương, đồng cảm của sự hi sinh sang sự mỉa mai, châm biếm hành động cướp nước và kết cục tất yếu của quân đội Trung Quốc. Tuy, Quỷ Môn Quan là vùng đất địa sinh tử, nơi trú ngụ của hổ rắn, yêu quỷ và những hồn ma vất vưởng của quân giặc. Nhưng, đối với người Việt Nam, đây là mảnh đất anh hùng, nhân chứng lịch sử cho bao nhiêu thăng trầm của Tổ Quốc, vì vậy, nó là niềm tự hào của dân tộc.

Nguồn: Tổng Hợp