Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Chùa non nước” văn học 9 hay, ngắn gọn

Phân tích bài thơ “Chùa non nước” gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo chi tiết và tải về tại đây nhé.

Phân tích bài thơ “Chùa non nước” số 1

Chùa Non Nước – ngôi chùa nằm dưới chân ngọn núi Non Nước, bên bờ sông Đáy và cửa sông Vân. Ngôi chùa vẫn nổi tiếng với góc cảnh nên thơ, đậm chất làng quê Bắc Bộ với non nước hữu tình. Đến đây du khách sau khi chiêm bái lễ chùa sẽ cùng chiêm ngưỡng cảnh sắc yên bình của làng quê Việt Nam. Chùa nằm trên địa phận phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình. Núi chùa Non Nước là một di tích lịch sử văn hóa quốc gia đồng thời cũng là một điểm du lịch quan trọng của thành phố Ninh Bình.

 

Chùa non nước

Chùa được xây dựng từ thờ vua Lý, nhưng sau đó bị đổ vỡ, đến thời Trần được xây dựng lại thờ Phật. Trải qua nhiều biến cố trong lịch sử, ngôi chùa vẫn đứng vững, hiên ngang như ngày nay. Chùa còn có tên gọi khác là Dục Thúy Sơn. Chùa có hai cổng, một cổng ra vào ở phía bắc, một cổng ở phía đông nam nhìn ra sông Đáy và và cửa này cũng chính là nơi để nhân dân địa phương thả cá chép ngày ông công ông táo.

Nhìn từ chùa Non Nước, du khách có thể nhìn ra sông Đáy, cầu Ninh Bình, cầu Non Nước và cuộc sống cư dân hoạt động trên dòng sông Đáy. Năm 2006, được sự quan tâm của chính quyền địa phương, chùa được nhân dân góp công góp sức vào trùng tu nhưng vẫn giữ được vẻ thiêng liêng như ngày nay.

Chùa Non Nước có khuôn viên gần 2.000m², nơi đây nổi tiếng là nơi phong cảnh hữu tình, từng được ví là “cửa biển có non tiên”. Chùa được xây dựng hoàn toàn bằng đá, mái cong. Muốn lên đỉnh núi non nước, du khách cần đi qua 72 bậc đá tương đương với 5 cấp. Những bậc đá đã mai một với thời gian, có bậc lồi, bậc lõm. Năm 2006, chùa đã được trùng tu lại và khánh thành mới nhung vẫn giữ được vẻ thiêng liêng, trầm mặc. Mỗi năm chùa Non Nước đón hàng nghìn lượt khách du lịch trong nước và quốc tế về tham quan, chiêm bái. Từ chùa phóng tầm mắt ra xa, sẽ được chiêm ngưỡng cảnh sắc thanh bình, yên ả của làng quê Việt Nam.

 

Phân tích bài thơ “Chùa non nước” số 2

Trong phần “Phong cảnh môn” (Môn loại về phong cảnh) của “Hồng Đức quốc âm thi tập” (Hội Tao Đàn) hiện có 66 bài thơ vịnh những danh lam thắng cảnh của giang sơn gấm vóc Đại Việt. Trong đó có bài thơ “Chùa Non Nước”; tương truyền là sáng tác của Tao Đàn đô nguyên súy Lê Thánh Tông.

   Bài thơ được viết theo thể thơ lục ngôn bát cú(sáu chữ, tám câu). Bao trùm bài thơ là một cái nhìn man mác vỡi bao suy ngẫm về thiên nhiên và cuộc đời:

"Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nhược,
Hai bên gộp làm Non Nước.
Đá chồng hòn thấp, hòn cao,
Sóng trục lớp sau, lớp trước.
Phật hư vô, cảnh thiếu thừa,
Khách danh lợi, buồm xuôi ngược.
Vẳng nghe trên gác boong boong,
Lẩn thần dưới chùa lần bước."

   Bài thơ chia làm hai phần. Bốn câu đầu miêu tả cảnh sắc chùa Non Nước. Bốn câu cuối nói lên những suy ngẫm của tác giả về Phật, về con người trong cuộc đời.

   Núi Non Nước nằm bên bờ sông Đáy thuộc thị xã Ninh Bình. Xa xưa gọi là Băng Sơn nằm giữa cửa biển. Trong thế kỉ XIII, Trương Hán Siêu đổi tên núi thành Dục Thúy Sơn. Ông có bài thơ “Dục Thúy Sơn khắc thạch” và bài văn “Dục Thúy Sơn linh tế tháp ký” đều nói về núi này. Nguyễn Trãi cũng có bài thơ “Dục Thúy Sơn”. Từ thời Lê, núi được đổi tên thành núi Non Nước. Từ xa xưa đến nay, trên núi Non Nước vẫn có chùa, người đời gọi là chùa Non Nước; núi, chùa ấy là một trong những cảnh đẹp nổi tiếng trên miền bắc nước ta.

   Hai câu thơ đầu miêu tả vẻ đẹp độc đáo, vẻ đẹp thần tiên của núi Non Nước. Núi có sông Đáy uốn quanh; cảnh sơn thủy hữu tình , nên thơ và độc đáo :” Hai bên góp làm Non Nước”. Hai chữ “góp làm rất bình dị”, rất nôm nói lên bàn tay kỳ diệu của Hóa công (ông Trời). Nguyễn Trãi đã từng ví Dục Thúy Sơn là “Cảnh tiên rơi cõi tục”, là “Cửa biển có non tiên”. Ở đây Lê Thánh Tông lại viết:

"Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nhược"

   Bồng Lai, Nhược Thủy tương truyền là nơi tiên ở. Núi Non Nước trong cảm nhận của thi nhân mang vẻ đẹp cõi tiên. Một cách viết ước lệ, hàm súc gợi lên bao tưởng tượng, biểu lộ một tâm hồn chan hòa tình sông núi.

   Hai câu ba, bốn đối nhau. Núi đá chồng cao lên, nơi thì “hòn thấp”, nơi thì “hòn cao” vừa lạ, vừa đẹp mắt. Dưới sông, sóng đuổi nhau “lớp sau, lớp trước”. Hai chữ “chồng” và “trục” đăng đối, làm nổi bật cái hồn sơn thủy vừa sống động, vừa hài hòa. Cảnh sông núi càng ngắm càng mê say, quyến rũ:

"Đá chồng hòn thấp, hòn cao,
Sóng trục lớp sau, lớp trước"

   Qua vẫn thơ đẹp, ta cảm nhận được cảnh sắc núi Non Nước , chùa Non Nước là phong cảnh sơn thủy hữu tình, cảnh tiên kỳ diệu.

   Bốn câu cuối nói lên những suy ngẫm của nhà thơ. Trước hết là suy ngẫm về Phật, về người đời:

"Phật hư vô, cảnh thiếu thừa,
Khách danh lợi, buồm xuôi ngược." 

   “Hư vô” nghĩa là thế nào? Hư vô nghĩa là trống không. Chùa Non Nước thờ Phật, mà Phật chỉ là hư vô, một thế giới tưởng tượng, trong đó không có cái gì tồn tại. Câu thơ nào cũng ngắt thành hai vế tiểu đối. Nếu cảnh chùa chiền, cảnh Phật là cõi hư vô, thì trái lại, cảnh thiên nhiên, cảnh sông núi ở đây lại cao, thấp, trước, sau, thiếu, thừa hiển hiện. Trong cuộc mưu sinh, gữa dòng đời xưa nay, xét đến cùng con người (số đông) chỉ là khách danh lợi, tất cả ngược xuôi chẳng khác nào những cánh buồm xuôi ngược trên sông. Sự cảm nhận của nhà thơ về đạo Phật, về đời người giữa cuộc sống thể xác và cõi tâm tinh được thể hiện qua những vần thơ thâm trầm, đầy ý vị. Phải chăng đó là bi kịch của kiếp người trong dòng chảy thời gian?

   Tiếng chuông boong boong trên mái chùa vẳng lên như làm cho du khách chợt tỉnh giấc mộng, “lẩn thẩn” dạo bước ngắm cảnh chùa Non Nước. Hai chữ “lẩn thẩn” chứa đầy tâm trạng của một du khách thanh nhàn nặng tình sông núi. Bút phát nghệ thuật lấy động để tả tĩnh vô cùng đặc sắc: tiếng chuông vẳng lên “boong boong” đã làm nổi rõ cảnh chùa Non Nước trên núi cao vô cùng tĩnh lặng, vắng vẻ; du khách tưởng như tỉnh mộng:

"Vẳng nghe trên gác boong boong,
Lẩn thẩn dưới chùa lần bước."

   Bài thơ “Chùa Non Nước” là một thành công đặc sắc và độc đáo về thơ lục ngôn mà Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn để lại cho nền thi ca dân tộc. Bài thơ lại được reo vần trắc, tạo nên âm điệu trầm bổng, gập nghềnh như leo núi:”Nhược – nước – trước – ngược – bước”. Tác giả sử dụng nghệ thuật bình đối và tiểu đối rất thành công. Hình tượng sông núi, sơn thủy, non nước, cảnh Phật và đời người in đậm và bao trùm bài thơ. Ngoài sự suy ngẫm giàu tính nhân bản về Phật và đời người , bài thơ còn thể hiện một tâm hồn thanh cao, giàu tình yêu thiên nhiên, đất nước. Đáng quý nhất đó là tâm hồn của một ông vua vào hàng minh quân thánh đế của Đại Việt.

 

Phân tích bài thơ “Chùa non nước” số 3

Nằm trong quần thể khu di tích lịch sử đền Sóc, chùa Non Nước và Học viện Phật giáo Việt Nam – một công trình kiến trúc nghệ thuật hoành tráng vừa mới khánh thành và đưa vào sử dụng khoảng dăm bảy năm nay cũng là một địa chỉ du lịch tâm linh ngày càng thu hút đông đảo khách thập phương.

Chùa thường được gọi là chùa Non Nước, tọa lạc tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội, ở độ cao 110m so với chân núi. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa nằm trong khu di tích đền Sóc. Tục truyền, sau khi dẹp giặc Ân, trên đường về núi Sóc, Thánh Gióng đã dừng chân tại đây và xuống tắm ở hồ Tây. Khi lên đường, Thánh Gióng để quên cái roi sắt bị gãy trong chiến trận. Nhân đó, người dân lập đền thờ.

Ngôi chùa được lập từ lâu. Tài liệu của chùa cho biết, theo sách Thiền Uyển Tập Anh và sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vị Thiền sư trụ trì chùa là Ngô Chân Lưu (933 – 1011) thuộc Thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 4. Năm 971, Ngài được vua Đinh Tiên Hoàng phong hiệu Khuông Việt Đại Sư. Đến cuối đời Lý, chùa có hai vị cao tăng trụ trì là Thiền sư Trường Nguyên (1110 – 1165) và Thiền sư Nguyện Học (? – 1181) thuộc Thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10.

Chùa Non Nước (tên chữ là Sóc Thiên Vương Thiền tự) nằm trong quần thể khu di tích Đền Sóc ở độ cao hơn 110 m so với chân núi. Chùa nằm chính giữa dãy nũi hình vòng cung, tựa như người ngồi trên chiếc ngai, hướng nhìn xuống vùng hồ nước trong xanh, và những xóm làng trù phú của xã Vệ Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

Chùa nay đã bị hư hỏng. Năm 2000, Đại đức Thích Thanh Quyết đã tổ chức xây dựng lại ngôi chùa và cho đúc pho tượng đức Phật Thích Ca bằng đồng lớn nhất nước ta lúc bấy giờ.

Bảo tượng được nghệ nhân Vũ Duy Thuấn thực hiện tại thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Tượng được thực hiện trong vòng 18 tháng với trọng lượng 20 tấn đồng đỏ đúc liền khối, đài sen cũng bằng đồng đúc liền khối với trọng lượng 10 tấn. Tượng có chiều cao 5,3m; đài sen cao 1,35m; bệ đá cao 1,75m. Nếu tính cả bệ đá thì Đại tượng có chiều cao 8,4m.

Chùa được xây dựng lại trên sườn núi Non, phía Nam núi Nhà Bia. Tòa chánh điện có diện tích 260m2, cao 14m. Đại đức Thích Thanh Quyết cho biết 30 tấn đồng đúc tượng được mua từ nước Singgpore, 600m3 gỗ lim mua ở nước Lào, 30m3 đá xanh mua ở Thanh Hóa, dùng kiến thiết ngôi chùa di tích là đất địa linh và là chốn Tổ đình xa xưa (trích thông tin từ Tạp chí Thế giới Phụ nữ số 37, ngày 14 – 10 – 2002).

Ngay trên Đền Sóc là chùa Non Nước. Nơi đây có pho tượng Phật Tổ bằng đồng cao 6,5 mét đúc liền khối nặng 30 tấn, lớn nhất Đông Nam Á. Năm 2001 bức tượng Phật khổng lồ này được rước lên đặt chính giữa nền chùa Non Nước ở độ cao 110 mét so với chân núi. Chùa được xây dựng trên nền đất chùa cũ từ thời Tiền Lê, theo kiểu kiến trúc chùa cổ 7 gian 2 trái, trang trí những hoạ tiết hoa văn cũng theo nguyên mẫu của thời Tiền Lê.

Theo thuyết phong thuỷ, chùa Non Nước được dựng trên thế long chầu hổ phục. Bức tượng Phật Tổ và chùa Non Nước được đặt trong thế vòng cung, Đức Phật ngự trên ngai tựa lưng vào núi, có 9 ngọn núi lớn nhỏ chầu vào: Núi Đồng Sóc, núi Đá Đen (trên núi có đến hàng trăm phiến đá lớn nhỏ giống như từng đàn trâu, voi năm phủ phục), núi Voi Phục, núi Mũi Cày, núi Vẩy Rồng, núi Đá Chồng (theo truyền thuyết Thánh Gióng sau khi dẹp giặc xong cởi áo giáp bái biệt quê mẹ bay về trời, tấm áo giáp đã hoá thạch tạo thành những tảng đá lớn nhỏ lớp lớp chồng lên nhau), dự kiến tượng đài Thánh Gióng sẽ được dựng lên trên đỉnh ngọn núi này với độ cao 297 mét so với chân núi.

Chùa Non Nước vốn có tên Hán là Sóc Thiên Vương Thiền Tự. Chùa nằm chính giữa hình vòng cung, tựa như người ngồi trên chiếc ngai. Sách Thiền Uyển Tập Anh và sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết thiền sư đầu tiên trụ trì ngôi chùa này là Ngô Chân Lưu (933-1011). Năm 971, Ngài được vua Đinh Tiên Hoàng phong hiệu Khuông Việt Đại sư và là vị Quốc sư đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam.

Ngài đã từng phù trợ cho Tam triều: Đinh – Tiền Lê – Lý và cùng với Thiền sư Vạn Hạnh phù trợ đắc lực đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, mở đầu triều đại nhà Lý – một triều đại có nền văn hoá phát triển rực rỡ và kinh tế hưng thịnh nhất thời kỳ phong kiến Việt Nam. Trải qua nhiều trăm năm, biến cố thăng trầm của lịch sử và thiên nhiên, tình cờ nền chùa cũ mới được phát hiện trong những năm gần đây và được Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định xây dựng trên nền đất cũ bằng tiền của các tăng ni phất tử và thiện nam tín nữ quyên góp. Chùa nằm trên lưng núi, có khuôn viên tôn nghiêm, phong cảnh hữu tình.

Năm 2004 cũng tại nơi địa linh khí tú này, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã long trọng cử hành đại lễ khởi công xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam, trung tâm đào tạo tăng tài cho đất nước.

Nguồn: Tổng Hợp