Hướng dẫn bài soạn “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô) chi tiết đầy đủ nhất

Xin chào các em! Sau đây, Soạn Văn sẽ hướng dẫn các em soạn văn bản: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài. Đây là một trích đoạn trong vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và được biên soạn trong chương trình SGK Ngữ Văn 11 Tập 1. Mời các em cùng tham khảo để chuẩn bị thật tốt cho bài giảng trên lớp của thầy cô nhé!

Bài soạn “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả : Nguyễn Huy Tưởng (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nguyễn Huy Tưởng trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Văn bản: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài được trích trong tác phẩm Vũ Như TôVũ Như Tô là một vở kịch gồm 5 hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 – 1517 .

* Tác phẩm được viết xong vào mùa hè năm 1941, tựa đề tháng 6 năm 1942

 

* Tác phẩm là cách nhà văn thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cường quyền, giữa nghệ sĩ và nhân dân. Có thể nói, đây là một kiệt tác làm nên thành công của Nguyễn Huy Tưởng.

* Tóm tắt:

Nhân vật chính của vở kịch là Vũ Như Tô, là một nhà kiến trúc tài giỏi, một nghệ sĩ có chí lớn, tính tình cương trực, trọng nghĩa khinh tài. Lê Tương Dực, một hôn quân bạo chúa, sai Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi ăn chơi với đám cung nữ.

Vũ Như Tô đã từ chối dù bị đe dọa kết tội tử hình. Song Đan Thiềm, một cung nữ tài sắc nhưng đã bị ruồng bỏ, đã khuyên Vũ nên nhận lời xây dựng Cửu Trùng Đài vì đây là cơ hội để Vũ đem tài ra phục vụ đất nước.

Vũ đã nhận lời và dồn hết sức xây Cửu Trùng Đài. Nhưng Cửu Trùng Đài đã làm cho dân chúng thêm cực khổ. Họ đã nổi dậy. Vũ Như Tô bị giết, Cửu trùng Đài bị thiêu trụi.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Các mâu thuẫn cơ bản của kịch Vũ Như Tô được thể hiện cụ thể trong hồi V:

  • Mâu thuẫn thứ nhất: là mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than với bọn hôn quân bạo chúa và phe cánh của chúng đang sống xa hoa, trụy lạc. Mâu thuẫn này đã có từ trước, đến khi Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài thì mâu thuẫn càng trở nên căng thẳng.
  • Mâu thuẫn thứ hai: là mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời (Cửu Trùng Đài) và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.

Câu 2:

Tính cách và diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích:

a) Vũ Như Tô

* Tính cách:

  • Là một người nghệ sĩ tài ba, là hiện thân của niềm khát khao và đam mê nghệ thuật, đam mê cái đẹp và sự sáng tạo
  • Là một người nghệ sĩ có nhân cách lớn, có hoài bão và lý tưởng nghệ thuật cao cả
  • Ông có những suy nghĩa lầm lạc trong hành động

* Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô:

  • Ông tin rằng mình không có tội, luôn bướng bỉnh và ảo vọng
  • Ông đau đớn, bàng hoàng thất vọng khi Cửu Trùng Đài bị phá hủy

=> Vũ Như Tô mới chỉ đứng trên lập trường người nghệ sĩ chứ không đứng trên lập trường của nhân dân, là người tài chứ chưa phải là người hiền tài.

b) Đan Thiềm:

* Tính cách:

  • Là người đam mê cái tài, tôn thờ cái tài (thuyết phục Vũ Như Tô, sẵn sàng quên mình để bảo vệ Vũ Như Tô)
  • Ông tỉnh táo và thức thời hơn Vũ Như Tô

* Diễn biến tâm trạng:

  • Đan Thiềm thấy đau đớn khi nhận ra sự thất bại trong giấc mộng lớn Cửu Trùng Đài, và ông cũng nhiều lần khuyên Vũ Như Tô chạy trốn
  • Đau đớn khi không cứu được Vũ Như Tô, vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trong máu và nước mắt

=> Đan Thiềm xứng đáng là tri kỉ của Vũ Như Tô. Tuy rằng hiểu đời, hiểu người hơn Vũ Như Tô song vẫn lâm vào bi kịch tinh thần đau đớn.

Câu 3:

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thân của nhân dân chưa được tác giả giải quyết dứt khoát. Điều đó được thể hiện ở hồi cuối cùng của vở kịch:

    • Quần chúng nổi dậy giết Vũ Như Tô, phá hủy Cửu Trùng Đài
    • Vũ Như Tô bị giết nhưng vẫn chưa nhận ra sai lầm của mình
  • Vũ Như Tô không đứng về phe Lê Tương Dực nhưng vẫn muốn hoàn thành công trình nghệ thuật nên đã vô tình gây nên nỗi khổ cho nhân dân.

=> Cách giải quyết mâu thuẫn của Vũ Như Tô trong đoạn trích đã phần nào giải quyết được mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Nghệ thuật chân chính phải chú ý đến con người, người nghệ sĩ khi làm nghệ thuật phải chú ý đến điều đó.

Câu 4:

Đặc sắc nghệ thuật của kịch Vũ Như Tô:

  • Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao
  • Xây dựng nhân vật kịch đặc sắc, khắc họa rõ tính cách, miêu tả đúng tâm trạng qua ngôn ngữ và hành động của nhân vật
  • Lớp kịch trong hồi V được chuyển một cách linh hoạt, tự nhiên, logic, liền mạch tạo nên sự hấp dẫn và lôi cuốn người đọc

Bài soạn “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 2

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN

I. Tác Giả

1. Cuộc đời

– Nguyễn Huy Tưởng sinh 6 – 5 – 1912 trong một gia đình nhà nho ở Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
– Sớm tham gia cách mạng và phong trào văn hoá cứu quốc.
– Nguyễn Huy Tưởng còn là đại biểu quốc hội khoá I.

2. Sự nghiệp thé:
Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn thành công với nhiều thể loại văn học, cụ thể:
– Kịch: Vũ Như Tổ (1941), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948).
– Kịch bản phim Luỹ hoa (1960).
– Tiểu thuyết: Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1945), Sống mãi với thủ đô (1961).
– Kí: Kí sự Cao Lạng (1951)…

3. Phong cách
– Ông nổi tiếng với các tác phẩm viết về đề tài lịch sử.
– Ông có đóng góp lớn ở thể loại tiểu thuyết và kịch.
– Lối viết giản dị mà sâu sắc, trong sáng mà thâm trầm đã làm nên văn phong Nguyễn Huy Tưởng.

II. Đoạn Trích “Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài”

1. Xuất xứ
– Vĩnh biệt Cửu Trùng đài nằm trong hồi V (Một cung cấm) của vở bi kịch lịch sử Vũ Như Tô, viết xong vào mùa hè năm 1941.

2. Nội dung chính của tác phẩm Vũ Như Tô
– Kiến trúc sư tài ba Vũ Như Tô bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc với các cung nữ.
– Là nghệ sĩ chân chính, bất chấp lời đe dọa tính mạng của Lê Tương Dực nhưng Vũ Như Tô vẫn không chịu xây dựng Cửu Trùng Đài cho y.
– Cung nữ Đan Thiềm thuyết phục Vũ Như Tô nên lợi dụng quyền thế và tiền bạc của tên hôn quân để xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài kì vĩ khiến nghìn năm sau người đời còn ngưỡng mộ.

– Vũ Như Tô chấp nhận xây đài. Ông dồn hết tâm trí để dựng lên tòa đại thật uy nghi, tráng lệ. Việc xây đài của ông vô tình đã gây nên biết bao tai họa cho dân.
– Để có kinh phí xây dựng, triều đình đã tăng sưu thuế, bắt thợ giỏi, trừng trị nặng nề những người chống lệnh. Dân chúng căm phẫn vua vì làm cho dân cùng, nước kiệt. Thợ căm thù Vũ Như Tô vì ông cho chém những người bỏ trốn và vì có nhiều người chết do tai nạn..
– Đài gần xây xong thì cũng là lúc mâu thuẫn giữa các bên trở nên sâu sắc, không thể điều tiết..
– Lợi dụng tình hình đó, quận công Trịnh Duy Sản cầm đầu phe đối lập trong triều dấy binh nổi loạn, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và thiêu hủy Cửu Trùng Đài.
3. Kịch lịch sử hay bi kịch?
– Vở kịch lấy cốt truyện từ lịch sử, dưới thời phong kiến trong khoảng 1516 – 1517.
– Nhưng mục đích của nó không tái hiện lịch sử và đề cao tinh thần, đạo đức của dân tộc,… như loại kịch lịch sử thường làm mà hướng vào bi kịch của nghệ sĩ Vũ Như Tô, người dựng xây cái đẹp và tận mắt chứng kiến sự hủy diệt cái đẹp đó. Do vậy, đây đích thực là một vở bi kịch.

3. Ý nghĩa nhan đề của đoạn trích
– Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài cũng là vĩnh biệt vẻ đẹp cao siêu, lí tưởng mà con người (trong những hoàn cảnh nhất định) khó lòng đạt tới. Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài cũng nhằm kết thúc mọi oán thán, hận thù của con người do nó mà trở nên lao khổ hay độc ác.
– Nhan đề tác phẩm chứa đựng nhiều ẩn ý nhưng cũng là một lời chào vĩnh biệt trực tiếp sự huỷ diệt của đài Cửu Trùng.

. 4. Mâu thuẫn cơ bản của đoạn trích
– Mâu thuẫn giữa người dân lầm than và tầng lớp vua chúa sống xa hoa phè phỡn. Do yêu cầu xây dựng Cửu Trùng Đài của hôn quân Lê Tương Dực mà cuộc sống dân nghèo và thợ thuyền càng trở nên cùng cực.
– Bao trùm và phát sinh từ mâu thuẫn trên là mâu thuẫn lớn hơn, mâu thuẫn chính của vở kịch là mâu thuẫn giữa quan niệm, ước vọng nghệ thuật duy mĩ, lí tưởng với lợi ích thiết thân đời thường của nhân dân. Cửu Trùng Đài nguy nga tráng lệ có thể “khiến dân ta ngàn thu còn hãnh diện” nhưng ngay trước mắt cũng lại khiến dân ta đói rét lầm than.– Vở kịch kết thúc khi mâu thuẫn chưa được giải quyết.
– Đan Thiềm và Vũ Như Tô, người sáng tạo cái đẹp và người trân trọng tài năng đều bị hại chết. Toà thành xây bằng mồ hôi, xương máu của nhân dân bị đốt cháy. Như vậy ước vọng của người nghệ sĩ còn đang dở dang đã tan thành mây khói nhưng cũng không vì thế mà người dân thoát khỏi cảnh lầm than.
– Đây cũng là điều mà bản thân tác giả không lí giải, giải quyết được khi bộc lộ băn khoăn “Lẽ phải thuộc về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô?”.
– Có lẽ chân lí chỉ thuộc về Vũ Như Tô một nửa, nửa kia lại thuộc về phía quần chúng nhân dân.

5. Lập bảng xác định vai của các nhân vật.
soan bai vinh biet cuu trung dai nguyen huy tuong

6. Đặc điểm nhân vật

a. Vũ Như Tô

– Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài hoa, khát khao sáng tạo và cống hiến,
– Gắn bó với nhân dân, không ham hố quyền lợi, Vũ Như Tô thực sự là một nghệ sĩ chân chính.
– Nhưng ông cũng là con người bi kịch khi song hành trong mình khát khao lí tưởng với những lầm lạc trong suy nghĩ, sự thoát li khỏi hoàn cảnh thực tế. Không dung hoà được cả hai điều trong cùng một hoàn cảnh chính là bi kịch của Vũ Như Tô.

b. Đan Thiềm

– Đó là người phụ nữ trọng tài. Bà cũng là người phụ nữ hiểu biết, sống tiết nghĩa, giàu cảm xúc. Đan Thiềm sẵn sàng đánh đổi mạng sống của mình để bảo vệ người tài. Bà yêu và trọng cái đẹp đến đau đớn tâm can khi “Đài lớn tan tành!”.
– Trong lời đề tựa vở kịch, Nguyễn Huy Tưởng viết: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”. Vậy “bệnh Đan Thiềm” là gì? Đó là bệnh đam mê nghệ thuật, tôn thờ cái đẹp và kính phục “tài trời”.

c. Có thể nói Đan Thiềm và Vũ Như Tô là những tâm hồn đồng điệu không gặp đúng thời thế.
– Bi kịch lớn nhất của đời họ là
+ Một là người đam mê sáng tạo cái đẹp, một là kẻ trọng tài nhưng tại thời điểm của vở kịch, Vũ Như Tô và Đan Thiềm cùng gặp chung một bi kịch..
+ Đó là sự bất lực trước những mâu thuẫn không thể giải quyết được của ước vọng bản thân và hiện thực xã hội.

7. Trong hồi V, thời điểm nào đánh dấu xung đột kịch đã lên tới đỉnh điểm?

– Xung đột lên tới cao trào trong ba lớp cuối của đoạn trích:
+ Lớp VII: Đan Thiềm bị bắt.
+ Lớp VIII: Vũ Như Tô bị bắt đưa ra pháp trường.
+ Lớp IX: Cửu Trùng Đài cháy trong sự đau khổ đến điên loạn của Vũ Như Tô.

8. Nhịp điệu của đoạn trích

– Nhịp điệu văn bản rất nhanh, dồn dập. Điều này được tạo ra do một số yếu tố sau đây:
+ Hồi V, cũng là hồi cuối của vở kịch nên xung đột kịch được đẩy đến cao trào.
+ Câu cầu khiến và câu mệnh lệnh được sử dụng với số lượng lớn nên hơi văn rất gấp gáp.
+ Phụ để miêu tả ngoài lời thoại kịch tập trung nhấn mạnh sự nguy biến của tình hình (thở hổn hển, lật đật, tiếng quân ầm ầm, nóng ruột giậm chân gắt…).

9. Bài học người nghệ sĩ rút ra từ bi kịch của Vũ Như Tô

– Nghệ thuật không được thoát li khỏi hiện thực, phải gắn liền nghệ thuật với cuộc sống.
– Những ước vọng nghệ thuật cao đẹp của người nghệ sĩ phải gắn liền với và thích hợp với lợi ích thiết thực của nhân dân.

B. TỰ LUẬN

1. Bi kịch của Vũ Như Tô trong đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng đài”.

Gợi ý làm bài
– Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài ba: “tài kia không nên để uổng. ông mà có mệnh hệ nào thì nước ta không còn ai điểm tô nữa”, “đừng để phí tài trời”.
– Nhưng Vũ Như Tô vì quá khao khát đam mê chìm đắm trong cái đẹp mà trở nên mơ mộng, ảo vọng. Ngay cả khi sự thật phũ phàng của cơn biến loạn dội đến, Đan Thiềm cố gắng kéo ông ra khỏi giấc mơ bằng thông tin “loạn đến nơi rồi”, bằng thái độ của dân chúng khốn khổ điêu linh đối với ông “ai ai cũng cho ông là thủ phạm. Vua xa xỉ là vì ông, công khí hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông, man di oán giận là vì ông, thần nhân trách móc là vì ông” Vũ Như Tô vẫn không “tỉnh”, ông cho là “họ hiểu nhầm”.
– Tận mắt chứng kiến Nguyễn Vũ tự sát, tên nội giám thông báo kẻ phá, người đốt Cửu Trùng Đài, họ Vũ vẫn cho là điều “Vô lí”.
– Nghe tiếng quân reo tìm mình để phanh thây, Vũ Như Tô đấu lí với số phận và cuộc đời: có lí gì để họ giết tôi. Đứng trước quân khởi loạn gươm giáo sáng loè, nhìn Đan Thiềm tuyệt vọng “Đài lớn tan tành. Xin cùng ông vĩnh biệt”, “mơ mộng” lại làm cho Vũ Như Tô trấn tĩnh: “Đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một toà đài vĩ đại để tạ lòng tri kỉ”.
– Bị ra lệnh dẫn về trình chủ tướng, Vũ Như Tô đầy hi vọng sẽ có thể phân trần giảng giải cho người đời biết rõ nguyện vọng của ta. Ông dường như không hề nghe thấy tiếng cười ầm và lời quát của quân lính “mày không biết mấy nghìn người chết vì Cửu Trùng Đài, mẹ mất con, vợ mất chồng vì mày đó? Người ta oán mày hơn oán quỷ”. Ông vẫn say sưa giấc mơ Cửu Trùng Đài: “Vài năm nữa, đài Cửu Trùng hoàn thành, cao cả, huy hoàng, giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai…”
– Chỉ đến khi kinh thành phát hoả, quân lính cho hay đó là lệnh của An Hoà Hầu, tận mắt chứng kiến “ánh lửa, sáng rực cả tàn than, bụi khói bay vào”, Vũ Như Tô mới rú lên kinh hoàng, tuyệt vọng: Đốt thực rồi! Đốt thực rồi! Ôi đảng ác! Ôi muôn phần căm giận! Trời ơi phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài! Rơi xuống từ một Cửu Trùng Đài vời vợi độ cao của mơ mộng ảo vọng, nỗi đau vỡ mộng trong Vũ Như Tô hoá thành tiếng kêu bị thiết, não nùng, khắc khoải.
– Đài Cửu Trùng đã biến thành một đài lửa rừng rực trong kinh thành Thăng Long đầy biến động. Vũ Như Tô đã chết trước khi ra pháp trường. Mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài tất cả nối tiếp nhau dội xuống những thanh âm của đau thương, tang tóc. Nỗi đau mất mát đã hoà vào làm một, trở nên tột cùng. Thanh âm ấy trở thành chủ âm dội ngược vào toàn bộ phần trước của vở kịch.
– Bi kịch Vũ Như Tô đã thức tỉnh ý thức của chúng ta về vấn đề muôn thuở. mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.

2. Phân tích các mâu thuẫn cơ bản trong đoạn trích

Gợi ý làm bài
a. Mâu thuẫn thứ nhất
– Nhân dân lao động khốn khổ lầm than><bọn a=”” br=”” hoa=”” n=”” ng=”” nh=”” o=”” phe=”” truy=”” xa=””>+ Quá trình phát triển của mâu thuẫn này đã chỉ ra tính chất tất yếu của hồi thứ năm. Vua cho xây Cửu Trùng đài tráng lệ là để mình cùng Kim Phượng và lũ cung nữ ăn chơi hưởng lạc. Trong những hồi trước, giữa tiếng đá đổ ghê người trên công trường xây dựng, nhiều người thợ không thể lấy được xác, mùi xú uế bốc lên, thế mà vẳng từ xa lại vẫn là tiếng đàn địch, tiếng vua và lũ cung nữ đánh trận giả trên hồ Tây. Như vậy hỏi làm sao lại không loạn, không biến? Đây là lúc tức nước vỡ bờ, dân nổi can qua, các phe cánh nổi lên như ong, trong triều, ngoài nội, đâu đâu cũng loạn. Mâu thuẫn đã phát triển thành xung đột, thành cao trào. Kết quả: hôn quân Lê Tương Dực bị Trịnh Duy Sản giết. Nguyễn Vũ tự sát trong trò hề ngu trung, hoàng hậu nhảy vào lửa, Kim Phượng và đám cung nữ bị bắt bớ, nhục mạ. Cửu trùng đài, hiện thân cho tham vọng ăn chơi của Lê Tương Dực bị đốt thành tro.

b. Mâu thuẫn thứ hai.
– Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý muôn đời và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân. Mâu thuẫn này âm ỉ, nhưng không kém phần khốc liệt, căng thẳng. Nhất là khi nó kết hợp với mâu thuẫn thứ nhất đẩy tình huống kịch lên đến cao trào. Cái chết của Đan Thiềm, Vũ Như Tô, đài Cửu Trùng trở thành hoả đài đã cho thấy tính căng thẳng, khốc liệt của mâu thuẫn đó.
– Quân khởi loạn đã kéo Vũ Như Tô ra pháp trường, thiêu rụi Cửu Trùng đài như là một chiến thắng lớn. Dân chúng vui mừng, hò reo, họ cười nhạo những điều cao siêu mà họ Vũ theo đuổi. Nhận thức của nhân dân về Vũ Như Tô vẫn không có gì thay đổi. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều lần Đan Thiềm nhấn đi nhấn lại câu nói: họ nông nổi, họ không phân biệt phải trái, họ không hiểu công việc của ông. Và chính Vũ Như Tô cũng nói “Các người không hiểu được ta”. Ông giục giã quân phản loạn đưa mình ra pháp trường vì quá đau đớn trước sự thực nghiệt ngã.
– Có lẽ đứng trước pháp trường, Vũ Như Tô cũng không bao giờ trả lời được câu hỏi “ta tội gì” khác với câu trả lời trước đó của ông “Ta không có tội”. Bởi lẽ ông chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ thuần tuý, hết mình phụng sự cái đẹp. Vũ không đứng về phía Lê Tương Dực nhưng lại muốn mượn uy quyền tiền bạc của hắn để thực hiện hoài bão nghệ thuật của mình.
– Lợi ích nghệ thuật mà Vũ theo đuổi đã mâu thuẫn với thực tế đời sống của nhân dân. Kết thúc trên chỉ ra tính bi kịch không thể điều hoà của mâu thuẫn. Trên thực tế, đó là mâu thuẫn muôn thuở. Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải? Chính tác giả cũng băn khoăn vì điều đó. Chân lí chỉ thuộc về Vũ Như Tô một nửa, nửa kia lại thuộc về phía quần chúng nhân dân.</bọn>

Bài soạn “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 3

I. Tìm hiểu chung
 
1. Tác giả

 
– Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) xuất thân trong gia đình nhà nho tại Từ Sơn- Bắc Ninh
– Ông sớm tham gia cách mạng, hoạt động trong những tổ chức văn hóa do Đảng lãnh đạo.
– Thiên hướng sáng tác chủ yếu về đề tài lịch sử, văn phong của ông vừa giản dị, trong sáng đôn hậu.
– Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

 

2. Tác phẩm

 

– “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là đoạn trích nằm trong tác phẩm Vũ Như Tô.
– Tác phẩm là vở bi kịch được viết xong vào mùa hè năm 1942
– Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra những vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa muôn thủa về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời với lợi ích thiết thân, trực tiếp của nhân dân.

 

II. Hướng dẫn học bài

 

Câu 1: Các mâu thuẫn cơ bản của kịch Vũ Như Tô được thể hiện cụ thể như thế nào trong hồi V?

 

Trả lời:
– Mâu thuẫn thứ nhất: giữa quần chúng nhân dân (phe nổi loạn) và triều đình (phe Lê Tương Dực).Phe nổi loạn gồm nhiều nhân vật: dân chúng, thợ xây dựng Cửu Trùng Đài; Phe đối lập trong triều đứng đầu là Trịnh Duy Sản. Mâu thuẫn trong hồi V đạt đến đỉnh điểm và được giải quyết trọn vẹn. Trịnh Duy Sản, Ngô Hạch giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và thiêu hủy Cửu Trùng Đài.
– Mâu thuẫn thứ hai: mâu thuẫn giữa người nghệ sĩ và nhân dân: quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời (Cửu Trùng Đài) và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.

 

Câu 2: Phân tích tích cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích?

 

Trả lời:
– Vũ Như Tô: say sưa trong lí tưởng nghệ thuật đến mức quên cả thực tế đang diễn ra xung quanh: từ lời cầu xin của Đan Thiềm, việc Lê Tương Dực bị giết, quân nổi loạn …. Đến khi Ngô Hạch ra lệnh bắt ông vẫn tin là mình không có tội, vẫn mơ tưởng đến việc làm một “tòa đài hoa lệ” để “tranh tinh xảo với hóa công”. Thậm chí, khi kinh thành phát hỏa, ông vẫn chưa tỉnh ngộ, cho đến khi công trình bị đốt,ông mới rú lên chua chát.
=> Nghệ sĩ vỡ mộng trước thực tế đau xót của đất nước, vì chạy theo cái lí tưởng của nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời mà ông đẩy nhân dân vào cảnh cùng khổ, lầm than.
– Đan Thiềm: là người yêu cái đẹp, biết quý trong cái tài của người nghệ sĩ nên đã ra sức van nài Vũ Như Tô chạy trốn.
=> Đan Thiềm là người biết quý trọng nhân tài, nhưng bà chưa thấy được mối quan hệ giữa Vũ Như tô – Người nghệ sĩ và cuộc sống.

 

Câu 3: Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi tích thiết thân của nhân dân chưa được tác giả giải quyết dứt khoát. Điều đó được thể hiện như thế nào ở hồi cuối của vở kịch? Theo anh (chị) nên giải quyết mâu thuẫn ấy như thế nào?

 

Trả lời:
– Mâu thuẫn trong đoạn trích vẫn chưa được giải quyết dứt khoát. Điều này được thể hiện ở phần cuối của vợ kịch. Quần chúng nổi dậy giết Vũ Như Tô, phá hủy Cửu Trùng Đài. Bản thân Vũ Như Tô bị giết nhưng vẫn chưa nhận ra sai lầm của mình. Vũ Như Tô chỉ muốn hoàn thành công trình nghệ thuật của mình
– Việc quần chúng giết Vũ Như Tô có lí đúng: nếu Vũ Như Tô không xây Cửu Trùng Đài thì nhân dân sẽ không rơi vào cảnh lầm than vì bản thân Lê Tương Dực không thể làm được. Tuy nhiên, hành động giết hại Vũ Như Tô và phá hủy Cửu Trùng Đài lại thể hiện tính thái quá. Giá trị nghệ thuật trong công trình và công sức của nhân dân bỏ vào đó thật lớn lao, nếu có thể hoàn thành công trình trong một giai đoạn khác thì sẽ tốt hơn cho nghệ thuât và cho chính người dân.

 

Câu 4: Đặc sắc nghệ thuật của kịch Vũ Như Tô được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

 

Trả lời:
– Mâu thuẫn kịch tập trung dẫn đến cao trào, phát triển thành đỉnh điểm với những hành động kịch dồn dập đầy kịch tính.
– Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao.
– Xây dựng nhân vật kịch đặc sắc, khắc họa rõ tính cách, miêu tả đúng tâm trạng qua ngôn ngữ và hành động.
– Lớp kịch trong hồi V được chuyển một cách linh hoạt, tự nhiên, logic, liền mạch tạo nên sự hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.

 

III. Luyện tập

 

Trong lời tựa đề kịch Vũ Như Tô Nguyễn Huy Tưởng viết:
Than ôi! Như Tô phải hay kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.
Bằng những hiểu biết về đoạn trích và vở kịch, anh (chị) hãy phát biểu ý kiến của mình về lời tựa trên.
Gợi ý trả lời:
a. Mở bài:
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích
– Dẫn dắt lời tựa đề của Nguyễn Huy Tưởng
b. Thân bài:
– Xung đột kịch là gì? Xung đột cơ bản trong tác phẩm: xung đột giữa nghệ sĩ và nhân dân . -> Quan hệ đối kháng giữa Vũ Như Tô và nhân dân đói khổ bị bắt đi xây dựng Cửu Trùng Đài. Người nghệ sĩ chỉ biết đến đồ án công trình nghệ thuật lí tưởng của mình, bưng tai bịt mắt trước hậu quả tai hại mà nó gây ra cho dân chúng tất yếu phải hứng chịu những lời nguyền rủa.
– Qua lời tựa, ta thấy, tác giả đã công khai, chân thành bày tỏ nối niềm boăn khoăn của mình: Lẽ phải thuộc về ai? Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô là phải, Cửu Trùng Đài bị phá, nên mừng hay nên tiếc. Và rồi ông thú nhận: “ta chẳng biết?” → chưa thể tìm ra một lời thỏa đáng cho câu trả lời
– Nhà văn khẳng định “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.”. Nghĩa là tác giả khẳng định giữa mình với Đan Thiềm có sự đồng điệu. -> Phân tích nhân vật Đan Thiềm
– Với lời tựa như vậy, ta thấy rằng từ trong ý đồ nghệ thuật cho đến việc thể hiện ý đồ ấy, nhà văn đã tạo một suy tư lơ lửng, quan niệm nghệ thuật thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân. Việc giải quyết ổn thỏa mâu thuẫn này phải nhờ vào sự giác ngộ của nghệ sĩ và nhân dân.
c. Kết bài
– Khẳng định lại, liên hệ bản thân.
 
Bài soạn “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 4

Đọc – hiểu văn bản

Câu 1 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Các mâu thuẫn cơ bản của kịch Vũ Như Tô được thể hiện cụ thể như thế nào trong hồi V?

Trả lời:

Các mâu thuẫn cơ bản của vở kịch Vũ Như Tô trong hồi V:

– Mâu thuẫn thứ nhất: Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than với bọn hôn quân bạo chúa và phe cánh của chúng đang sống xa hoa, trụy lạc. Mâu thuẫn này đã có từ trước, đến khi Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài thì càng trở nên căng thẳng.

– Mâu thuẫn thứ 2: Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời (Cửu Trùng Đài) và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.

=> Hai mâu thuẫn trên là hai mâu thuẫn cơ bản của vở kịch và được biểu hiện ở hồi V. Hai mâu thuẫn này có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau.

Câu 2 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Phân tích tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích.

Trả lời:

– Vũ Như Tô là một nhân vật lí tưởng được sáng tạo theo cảm hứng lãng mạn cùa Nguyễn Huy Tưởng. Qua việc xây dựng Cửu Trùng Đài người đọc thấy rõ đây chính là một nghệ sĩ có nhân cách, có lí tưởng nghệ thuật.

– Vũ Như Tô đúng là một tính cách phi thường dám sống chết với nghệ thuật. Người nghệ sĩ này không hề ham sống sợ chết, không hám lợi.

– Lúc đầu ông thà chết chứ không chịu xây Cửu Trùng Đài cho hôn quân. Lại lúc được vua thưởng cho vàng bạc lụa là ông đem chia hết cho thợ.

– Có thể nói Vũ Như Tô có tội là đã say mê nghệ thuật đến mức độ mù quáng. Cả tâm hồn chìm đắm trong giấc mộng “tranh tinh xảo với hóa công”, cho đến phút cuối của cuộc đời vẫn không hiểu được là vì sao mà mình bị quần chúng căm thù đến thế, vì sao mà Cửu Trùng Đài bị đập phá, bốc lửa.

– Vũ Như Tô đã sẵn sàng ra pháp trường.

=> Có thể nói đây là nhân vật được Nguyễn Huy Tưởng rất yêu mến. Ông miêu tả Vũ Như Tô đẹp với tư thế lẫm liệt kiên cường trước hôn quân Lê Tương Dực, gắn bó và bè bạn, với vợ con, đấu tranh cho quyền lợi giới thợ, sẵn sàng xả thân vì nghệ thuật.

Câu 3 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân chưa được tác giả giải quyết dứt khoát. Điều đó được thể hiện như thế nào ở hồi cuối cùng của vở kịch? Theo anh (chị) nên giải quyết mâu thuẫn ấy như thế nào?

Trả lời:

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thân của nhân dân chưa được giải quyết dứt khoát: Quần chúng nổi dậy giết Vũ Như Tô, thiêu hủy Cửu Trùng Đài nhưng Vũ Như Tô vẫn chưa nhận ra bi kịch  và sai lầm của mình. Việc giải quyết mâu thuẫn này phải nhờ vào sự giác ngộ của cả người nghệ sĩ và nhân dân.

Câu 4 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Đặc sắc nghệ thuật của kịch Vũ Như Tô được thể hiện qua đoạn trích?

Trả lời:

Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đã thể hiện rất rõ đặc sắc nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng: ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao, qua ngôn ngữ và hành động kịch, tâm trạng và tính cách của nhân vật được diễn tả một cách sâu sắc, xung đột kịch được đẩy lên cao trào.

Bài soạn “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 5

Trong lời đề tựa kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng viết:

 “Than ôi! Như Tô phải hay những người giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.

Bằng những hiểu biết về đoạn trích và về vở kịch, anh (chị) hãy phát biểu ý kiến của mình về lời đề tựa trên.

Trả lời:

– Nhà văn đã chân thành bày tỏ lỗi băn khoăn của mình: lẽ phải thuộc về cái đẹp hay hiện thực, người nghệ sĩ hay quần chúng nhân dân. Ông thú nhận “Ta chẳng biết”, tức là không thể đưa ra một lời giải đáp thoả đáng. Mâu thuẫn giữa cái đẹp, nghệ thuật và lợi ích thiết thực của nhân dân chỉ được giải quyết khi người nghệ sĩ có ý thức về hiện thực, sáng tạo dựa trên hiện thực, không xa rời cuộc sống, nhân dân, cũng đồng thời phải biết trân trọng và yêu quý cái đẹp.

– Nhà văn còn khẳng định: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”, nghĩa là yêu cái đẹp, nhạy cảm trước bi kịch của người nghệ sĩ.

Đọc – hiểu văn bản

Bìa 1 trang 193

Các mâu thuẫn cơ bản của kịch Vũ Như Tô được thể hiện cụ thể như thế nào trong hồi V?

Trả lời:

– Mâu thuẫn giữa phe nổi loạn và phe Lê Tương Dực.

+ Phe nổi loạn gồm nhiều nhân vật: dân chúng, thợ xây dựng Cửu Trùng Đài các nhân vật này đã xuất hiện từ trong những đoạn trước. Đoạn này, các nhân vật chỉ xuất hiện trong lời của Đan Thiềm: Dân gian đói kém nổi lên tứ tung. Khi dân nổi lên họ nông nổi vô cùng. Các nhân vật này cũng xuất hiện qua lời của tên nội gián: Thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch.

+ Phe đối lập trong triều đình đứng đầu là Trịnh Duy Sản, sau Trịnh Duy Sản là Ngô Hạch, An Hoà Hậu (nhân vật này chỉ được nói đến chứ không xuất hiện). Mâu thuẫn này trong hồi 5 đã lên đến đỉnh điểm và đã được giải quyết dứt điểm. Trịnh Duy Sản, Ngô Hạch giết chết Lê Tương Dực. Đây là mâu thuẫn bị chi phối bởi các mâu thuẫn khác và được các mâu thuẫn ấy làm cho tăng lên.

– Mâu thuẫn giữa phe Trịnh Sản với Kim Phượng và các cung nữ vì coi đó là phương tiện hành lạc của Lê Tương Dực cũng được đẩy lên ở đỉnh cao, Kim Phượng và cung nữ đã lái sự căm ghét đó sang Đan Thiềm, Vũ Như Tô để mong bớt tội, mong thoát mũi kiếm trừng phạt của Ngô Hạch.

– Bản thân mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô cũng được thể hiện rõ trong hồi thứ 5 này. Một phần lớn thợ xây Cửu Trùng Đài tham gia cuộc nổi loạn vì họ bị đói khổ (vì bị ăn chặn, chết, bị thương, vì tai nạn, bệnh dịch,… chính bản thân Vũ Như Tô cũng bị đã đè vào chân), một số thợ bị Vũ Như Tô chém (để duy trì quân số và kỉ luật lao động trên công trường xây Cửu Trùng Đài). Đan Thiềm cũng bị nhiều thợ oán như oán Vũ Như Tô vì biết Đan Thiềm “xui” Vũ Như Tô nhận xây Cửu Trùng Đài.

Vũ Như Tô vì say sưa với công trình nghệ thuật, quên cả thực tế và lòng dân. Đến khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm báo cho Vũ Như Tô biết bị giết đến nơi nhưng Vũ Như Tô vẫn không chịu đi vì cho rằng mình là người vô tội, còn muốn chứng minh sự quang minh chính đại của mình, còn hi vọng thuyết phục được An Hoà Hầu. Và đặc biệt là Vũ Như Tô muốn sống chết với Cửu Trùng Đài, vì ông coi Cửu Trùng Đài là lẽ sống, nếu Cửu Trùng Đài bị phá thì ông cũng không thiết sống nữa. Đây là mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô và Đan Thiềm, tập trung ở Vũ Như Tô (tức là mâu thuẫn giữa lòng căm ghét tên hôn quân với khát vọng xây dựng một công trình nghệ thuật lớn cho đất nước, cho đời sau).

– Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời (Cửu Trùng Đài) và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.

+ Mâu thuẫn này có nguồn gốc từ nguyên nhân sâu xa: người chiến sĩ thiên tài có khát vọng, hoài bão muốn mang cái đẹp đến cho đời, làm dân tộc tự hào vì trong một xã hội thối nát, người dân đói khổ triền miên trong lầm than

+ Hoàn cảnh đất nước không tạo điều kiện cho Vũ Như Tô thực hiện điều đó

+ Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm mượn uy quyền, tiền bạc của hôn quan Lê Tương Dực để thực hiện khát vọng xây dựng công trình nguy nga

+ Niềm khao khát sáng tạo, cống hiến lại đối nghịch với thực trạng lợi ích và mong muốn của nhân dân.

Bài 2 trang 193

Phân tích tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích.

Trả lời:

* Tính cách và diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô

– Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ chân chính, một người có tài và có tâm với nghệ thuật.

– Ông nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm, nhận xây dựng Cửu Trùng đài là vì mục đích nghệ thuật rất cao cả. Ông là người nghệ sĩ chỉ quan tâm đến nghệ thuật. Trong hồi kịch này, khi binh lính nổi dậy, kết tội ông và đòi hủy diệt Cửu Trùng Đài, ông vẫn không thể hiểu nổi tại sao lại như vậy. Vũ Như Tô quá chú ý đến nghệ thuật mà quên đi quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Ông luôn ở trong tâm trạng mơ màng, ảo vọng. Ông không thể hiểu và không tin tâm huyết của mình đối với đất nước lại bị coi thường.

=> Nghệ sĩ vỡ mộng trước thực tế đau xót của đất nước, nhân dân mà lâu nay đã không nhìn thấy do ông chỉ chạy theo cái lí tưởng của nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời.

Tính cách và diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm

– Đan Thiềm  là một người có tâm, biết trọng người tài, tôn trọng nghệ thuật. Bà kính trọng tài năng của Vũ Như Tô, bà hiểu công việc sáng tạo nghệ thuật của ông. Nhưng chính Đan Thiềm đã sai lầm và cuối cùng bà cũng nhận ra sai lầm của mình khi khuyên Vũ Như Tô nhận lời xây dựng Cửu trùng đài. Trước khi chết, bà đã nhận ra sự thất bại của giấc mộng lớn mà bà và Vũ mong mỏi thực hiện. Nhìn cảnh Cửu trùng đài bị đốt, Vũ Như Tô bị giết, bà đã đau đớn cất lên “Đài lớn tan tành. Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”.

=> Đan Thiềm và Vũ Như Tô là hai kẻ tri âm, tri kỉ, cùng có một mục đích nghệ thuật tốt đẹp nhưng cuối cùng đều thất bại. Và cả Cửu Trùng đài, tâm huyết của hai người cũng bị phá huỷ. Hai con người đáng thương, đáng trọng hơn là đáng trách. Nhà văn đã bộc lộ sự cảm thông và trân trọng của ông đối với hai con người tri âm tri kỉ và bất hạnh này.

Bài 3 trang 193

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân chưa được tác giả giải quyết dứt khoát. Điều đó được thể hiện như thế nào ở hồi cuối cùng của vở kịch? Theo anh (chị) nên giải quyết mâu thuẫn ấy như thế nào?

Trả lời:

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật thuần túy và lợi ích thiết thực của nhân dân là mâu thuẫn không dễ giải quyết. Vì thế, việc Nguyễn Huy Tưởng chưa giải quyết triệt để được mâu thuẫn này là điều dễ hiểu. Nhà văn để cho Vũ Như Tô bị giết mà không hiểu tại sao. Đan Thiềm, Vũ Như Tô cùng Cửu Trùng Đài bị hủy diệt đã đặt ra một vấn đề lớn, vấn đề quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Với đoạn trích vĩnh biêt Cửu Trùng dài , Nguyễn Huy Tưởng đã giải quyết được phần nào mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Nghệ thuật đích thực phải thống nhất với quyền lợi của con người. Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vì con người. Người nghệ sĩ khi làm nghệ thuật phải chú ý đến điều đó.

Việc quần chúng giết Vũ Như Tô có lí đúng: nếu Vũ Như Tô không xây Cửu Trùng Đài thì chắc Lê Tương Dực không thể xây được Cửu Trùng Đài, gây thiệt hại cho nhân dân. Nhưng quần chúng nhân dân trong cơn nông nổi giận dữ, có thể chưa hiểu hết Vũ Như Tô. Quần chúng lúc đó cũng chưa nghĩ đến công sức của chính mình bỏ ra cho công trình nghệ thuật mà có thể lưu lại cho con cháu muôn đời sau. Việc nổi dậy giết Lê Tương Dực là đúng, việc tạm hoãn xây Cửu Trùng Đài là đúng nhưng việc giết Vũ Như Tô là quá tay và việc phá huỷ Cửu Trùng Đài là không nên.

Bài 4 trang 193

Đặc sắc nghệ thuật của kịch Vũ Như Tô được thể hiện qua đoạn trích?

Trả lời:

– Mâu thuẫn kịch tập trung dẫn đến cao trào, phát triển thành đỉnh điểm với những hành động kịch dồn dập đầy kịch tính.

– Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao.

– Xây dựng nhân vật kịch đặc sắc, khắc họa rõ tính cách, miêu tả đúng tâm trạng qua ngôn ngữ và hành động.

– Lớp kịch trong hồi V được chuyển một cách linh hoạt, tự nhiên, logic, liền mạch tạo nên sự hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.

 
Nguồn: Tổng Hợp