Hướng dẫn bài soạn ” Vi hành”( Nguyễn Aí Quốc) văn học 11 chi tiết nhất

Nội dung các câu hỏi phần soạn bài Vi hành sẽ từng bước giúp các em học sinh tìm hiểu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm cũng như thấy được tài năng kể chuyện sinh động, nhẹ nhàng hóm hỉnh mà sâu cay của Nguyễn Ái Quốc khi xây dựng hình tượng tên vua bù nhìn Khải Định qua con mắt và những đánh giá của đôi thanh niên người Pháp trên chuyến tàu điện ngầm Paris.

Bài soạn ” Vi hành”( Nguyễn Aí Quốc)  số 

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Xuất xứ
– Tác phẩm được viết để đả kích vua Khải Định nhân dịp ông này sang Pháp dự đấu xảo thuộc địa Mác-xây năm 1922.
– Tác phẩm được viết bằng tiếng Pháp đăng trên báo Nhân đạo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, số ra ngày 19-2-1923.

2. Mục đích của việc viết Vi hành bằng tiếng Pháp
– Lúc đó tác giả muốn vạch trần cho người dân Pháp biết những luận điệu lừa dối của giới cầm quyền Pháp đối với các nước thuộc địa. Đả kích sự độc ác và mị dân của giới cầm quyền của nhà nước thực dân Pháp.
– Đồng thời cũng phơi bày bộ mặt bù nhìn của hoàng đế An Nam trước đông đảo mọi người.

3. Hiệu quả của một truyện ngắn nhưng lại được viết dưới dạng một bức thur:
– Đây là sự cách tân thể loại độc đáo.
– Nhờ hình thức thư, tác giả mới tạo ra được lối đối thoại hữu hiệu giữa tôi với cô em họ về những tình huống nhầm lẫn khôi hài của người Pháp với vị hoàng đế An Nam.
– Cách viết này tăng tính thuyết phục rằng điều được kể là có thực.

4. Trong truyện, tình huống nhầm lẫn được sử dụng mấy lần, phân tích
-Xảy ra hai lần:
+ Lần thứ nhất: người kể chuyện xưng tôi bị đôi trai gái người Pháp nhầm là hoàng đế An Nam. Nhờ sự nhầm lẫn này mà chân dung vị vua An Nam hiện lên. rõ nét.
+ Lần thứ hai: Công chúng Pháp nhầm lẫn người da vàng với hoàng đế An Nam. Qua đó tác giả nhấn mạnh vai trò chính trị rẻ tiền của hắn.
– Nhờ các tình huống nhầm lẫn này mà chân dung vị hoàng đế An Nam hiện lên rõ nét. Đấy là một kẻ nhếch nhác, lôi thôi, lếch thếch.
+ Ngoại hình xấu xí.
+ Trang phục lố lăng, kệch cỡm như một anh hề.
+ Phong thái thấp hèn.
+ Lối sống bê tha.
+ Vai trò chính trị rẻ tiền.

5. Tình huống không nhầm lẫn được tác giả mỉa mai cho là nhầm lẫn đả kích nhà cầm quyền Pháp:
– Đấy là chính phủ nhầm bất kì người da vàng nào cũng là hoàng đế nên phái người đi hộ tống.– Những kẻ hộ tống này thực chất là những tên mật thám theo dõi các nhà cách mạng. Chúng rất lo sợ khi để mất bóng dáng họ.

6. Nghệ thuật khắc họa và chân dung hoàng đế An Nam dưới cái nhìn của người kể xưng “tôi”.
a. Để hiểu được bản chất của một ông vua bù nhìn trong mắt của người da trắng và hiểu được sự khinh miệt mà dân “mẫu quốc” dành cho người bản xứ, người kể đóng các vai:
– Vai một người dân An Nam bình thường.
– Vai một chiến sĩ cách mạng.
b. “Tôi” có thể biết được câu chuyện khôi hài và bi đát về vị vua bù nhìn:
– Vì tôi là người dân An Nam biết tiếng Pháp.
– Vì tôi là người đang vi hành xem xét mọi cảnh lố lăng kia.
c. Hoàng đế An Nam được miêu tả qua lời kể của nhân vật “tôi”
– Phơi bày những hành vi lén lút, mờ ám của ông ta trên đất Pháp.
– Lời kể làm hiện lên một vị vua thận, ích kỉ đến tột cùng.
– Lời kể tố cáo tội làm nhục quốc thể của ông ta.
d. Tác phẩm được kể bằng những giọng điệu chủ đạo:
– Mỉa mai, châm biếm.
– Hài hước, dí dỏm.
e. Việc “xem” hoàng đế An Nam được người kể so sánh với:
– Vua hề Sác-lô.
– Vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên.
– Tụi làm trò leo trèo nhào lộn của sự thánh xứ Công-gô.
g. Những vị vua được nhắc tên trong tác phẩm với nghĩa tích cực:
– Vua Thuấn của Trung Quốc.
– Vua Pi-e của Nga.
h. Điểm độc đáo nhất trong việc miêu tả vị hoàng đế An Nam:
– Tác phẩm được sáng tác nhân lúc vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo thuộc địa ở Mác-xây, nhưng toàn bộ tác phẩm không một lần nhắc đến tên ông ta.

– Điều này có lí do hoặc là tác giả ngại sự kiểm duyệt của thực dân Pháp, hoặc là dụng ý tác giả muốn khái quát lên chân dung của bất cứ vị hoàng đế dốt nát, xấu xa, bù nhìn nào trong lịch sử nô lệ.

7. Ngụ ý của tác giả khi dùng khái niệm“Mẫu quốc”.
– Người Pháp xứng với người An Nam và các thuộc địa khác của họ là mẫu quốc. Có nghĩa họ chịu trách nhiệm khai hoá, đảm bảo lợi ích và sự công bằng cho các quốc gia đó.
– Nhưng thực chất đấy là trò bịp bợm. Họ chỉ áp bức, bóc lột và khiến cuộc sống của dân các nước thuộc địa thêm tồi tệ hơn.

8. Tiếng cười trong truyện được tạo ra bởi các thủ pháp nghệ thuật:
– Các tình huống nhầm lẫn.
– Cách truyện trò dí dỏm của người kể với cô em họ.
– Sự tương phản giữa vẻ cao quý vốn có một vị hoàng đế với sự khinh miệt thầm của dân chúng.

9. Người Pháp “khai hoá văn minh” cho dân An Nam ở các lĩnh vực:
– Uống nhiều rượu.
– Hút nhiều thuốc phiện.
– Nghi kị, dò xét nhau.

10. Tính chiến đấu của tác phẩm
– Đả kích, tố cáo vị vua bù nhìn.
– Vạch trần bộ mặt thật của chính quyền thực dân Pháp.
– Phê phán thói kì thị, xem thường chủng tộc ở chính quốc.

11. Chủ đề chính của truyện
– Vạch mặt sự bịp bợm và đả kích – châm biếm một ông vua An Nam bù nhìn, trơ trẽn và các nhà cầm quyền Pháp xảo trá, ngoa ngôn.
– Tố cáo thực dân Pháp đầu độc người Việt bằng rượu và thuốc phiện.
– Lên án việc theo dõi và giám sát các chiến sĩ cách mạng của thực dân Pháp.
– Ca ngợi những vị vua tốt trong lịch sử nhân loại.

 

Bài soạn ” Vi hành”( Nguyễn Aí Quốc)  số 2

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

   Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một sự nghiệp văn chương lớn lao về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách sáng tác. Có thể xếp tác phẩm của Người vào ba thể loại: Văn chính luận, truyện và kí, thơ ca 

   Mỗi thể loại có một đặc sắc riêng và đều có tác phẩm thành công. Văn chính luận có Tuyên ngôn Độc lập, Truyện kí có Vi hành, thơ có Nhật kí trong tù.

   Vi hành là truyện ngắn xuất sắc của Hồ Chí Minh, được viết bằng tiếng Pháp, đăng trên báo Nhân đạo – cơ quan của đảng Cộng sản Pháp – số ra ngày 19 – 2 – 1923. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc sử dụng bút pháp hiện thực phê phán trào phúng rất hợp với sở thích của độc giả Pháp. Tác phẩm được đăng báo vào đúng dịp vua Khải Định được chính phủ Pháp đưa sang dự cuộc đấu xảo thuộc địa tổ chức ở Macxây. Tác phẩm hướng đến mục đích chính trị: Cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ sự vô dụng của Khải Định, một tên vua bù nhìn, ngu dốt, không phải là kẻ đại diện chân chính cho nhân dân Việt Nam; đồng thời vạch trần bộ mặt xảo trá của những kẻ thực dân. Tác giả đã tạo nên những tình huống nhầm lẫn, sử dụng hình thức viết thư và dùng giọng điệu mỉa mai, dí dỏm để thực hiệm ý đồ nghệ thuật của mình một cách rất thành công.

II. TÓM TẮT TÁC PHẨM

   Trên chuyến xe điện ngầm, đôi trai gái người Pháp nhìn thấy nhân vật tôi, người kể chuyện, là một người An Nam nên tưởng đó là Khải Định. Họ bàn luận nhận xét về Khải Định và coi hắn như một tên hề, một trò giải trí rẻ tiền. Đôi trai gái xuống tàu, người kể chuyện nhớ về ngày ấu thơ, về câu chuyện vi hành của Vua Pie, vua Thuấn rồi liên hệ, bình luận về cuộc Vi hành mờ ám vì mục đích riêng của Khải Định. Tác giả cũng kể về sự nhầm lẫn của người Pháp, của chính quyền thực dân. Qua đó châm biếm cách đối xử của thực dân Pháp đối với người Việt Nam yêu nước.

III. RÈN KĨ NĂNG

1. Căn cứ vào mạch truyện có thể chia tác phẩm thành ba phần

   Phần 1 (từ đầu đến “Nghe nói ông bầu Nhà hát múa rối có định kí giao kèo thuê đấy...”): Nhân vật tôi, người viết bức thư gưi cô em họ kể chuyện một đôi thanh niên Pháp nhầm mình là vua Khải Định. Họ tưởng tác giả không biết tiếng Pháp nên đã bình luận rất vô tư về người mà họ tưởng là Khải Định. Họ bình luận về trang phục, hình thức, tính cách và tỏ ra rất khinh thường người mà họ đang bình luận. Khải Định được coi như một trò giải trí hấp dẫn trong số rất nhiều trò giải trí li ki và rẻ tiền của người Pháp lúc đó.

   Phần 2 (Từ “ Tàu đỗ, cặp trai gái bước xuống…” đến “… nếm thử cuộc đời của các cậu công từ bé?”: Đoạn này là lời  bình luận của nhân vật người kể chuyện về cuộc “vi hành” của Khải Định. Nhân vật tôi nhớ đến những ngày được nghe kể chuyện vi hành của các ông vua nổi tiếng vì dân vì nước trong lịch sử, rồi liên hệ, so sánh với chuyện vi hành của Khải Định. Từ đó thể hiện thái độ châm biếm mỉa mai hành động của Khải Định.

   Phần 3 (các đoạn còn lại): Nhân vật tôi kể chuyện và bình luận về thái độ của người Pháp đối với mình và những người Việt Nam khác, chính quyền thực dân sai mật thám bám gót họ khắp nơi.

2. Tác giả đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo, đó là tình huống nhầm lẫn. Có rất nhiều sự nhầm lẫn: Cặp trai gái đi trên tàu nhầm lầm tác giả với Khải Định, người dân Pháp nhầm tất cả những người da vàng mũi tẹt đều là Khải Định, chính quyền Pháp nhầm tác giả là Khải Định. Tạo nên những nhầm lẫn, tác giả đã xây dựng được  một bức chân dung rất chân thực, khách quan nhưng hài bước, châm biếm. Chính quyền thực dân Pháp cũng hiện lên với những hành động xảo trá và bỉ ổi.

   Trong con mắt của đôi trai gái người Pháp, Khải Định chỉ như một tên hề rẻ tiền. Và với người Pháp hắn chỉ có tác dụng là làm thỏa mãn tính hiếu kì của họ khi mà những trò giải trí li kì đã cạn ráo cả. Trong con mắt của những người Pháp, Khải Định không phải là một ông vua của một đất nước mà là một vai hề. Với tình huống nhầm lẫn này, bức chân dung Khải Định hiện lên một cách khác quan, đầy thuyết phục với một bộ dạng thật lố bịch, thảm hại. Một vẻ bề ngoài có thể nói là không giống ai của Khải Định, cái vẻ bề ngoài xoàng xĩnh và nhố nhăng với “vẫn cái mũi tẹt ấy, vẫn đôi mắt xếch ấy, vẫn cái mặt bủng như vỏ chanh, cả cái chụp đèn chụp lên cái đầu quấn khăn, các ngón tay thì đeo đầy những nhẫn”. Bộ dạng thì lúng túng như gà mắc tóc cùng với đủ cả bộ lụa là, đủ cả bộ hạt cườm trên người. Không chỉ như vậy, đôi trai gái Pháp còn đem so sánh Khải Định với những trò ở đấu xảo “một cách rất khôi hài”, “phải mất những nghìn rưởi phrăng để xem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò leo trèo nhào lộn của sư thánh xứ Công gô, hôm nay chúng mình có mất tý tiền nào đâu mà được xem vua đang ngay cạnh?, và họ còn cho rằng các nhà hát, nhất là các nhà hát múa rối còn có ý định ký giao kèo thuê hắn. Đó là một sự so sánh vừa hài hước, vừa đầy kịch tính có giá trị châm biếm rất sâu sắc.

3. Tác giả đã có những lời bình luận vô cùng thâm thúy về hành động vi hành của Khải Định bằng cách liên hệ, so sánh với các cuộc vi hành khác trong lịch sử.  Vi hành vốn là một hành động đẹp của vua chúa thời xưa như chuyện vua Thuấn, vua Pie đã cải trang để đi vi hành với mục đích cao cả. Từ đó làm toát lên bản chất hành động vi hành của Khải Định. Đó là một chuyến đi lén lút, ám muội và hao tốn tiền của phục vụ cho mục đích xấu xa bẩn thỉu của tên vua bù nhìn Khải Định. Tác giả đã dùng cách diễn đạt dí dỏm, hài hước để bình luận và đặt ra các câu hỏi tu từ để giễu cợt và đả kích Khải Định: “Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp dưới quyền ngự trị của bạn ngài là Alechxăng đệ nhất có được sung sướng, có được uống nhiều rượu cồn và hút nhiều thuốc phiện bằng dân An Nam dưới quyền ngự trị của ngài hay không? (…), Hay là chán cảnh làm một ông vua to, bây giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của các cậu công tử bé?”.

3. Đoạn văn “Cái vui nhất là…” đến “một vị hoàng đế” đã thể hiện thái độ của tác giả đối với chế độ mật thám của thực dân Pháp và tên vua Khải Định. Tác giả thấy xót xa cho dân tộc Việt Nam khi phải là quê hương của Khải Định..

   Tác giả còn vạch trần bộ mặt xảo trá của cả quan thầy Pháp và sự ươn hèn, bù nhìn của Khải Định bằng một giọng điệu trào phúng sâu cay. Tiếp tục tạo nên một tình huống nhầm lẫn nữa: Đến cả chính phủ Pháp cũng nhầm lẫn những người da vàng và tác giả là Khải Định nên đã “chăm sóc” rất chu đáo, một cách “thầm kín, vô tư và hết sức tận tuỵ”, “đi hộ giá tuốt”. Bản thân tác giả cũng được đối đãi một cách đặc biệt ân cần “có thể nói là các vị bám chặt lấy đế giày tôi, dính chặt tôi như hình với bóng. Và thật tình các vị cuống cuồng cả lên nếu mất hút tôi chỉ trong dăm phút!”. Tình huống nhầm lẫn rất khó tin và tác giả cũng không có ý định làm cho độc giả tin sự nhầm lẫn đó. Đó là cách nói mỉa mai, một cách châm biếm thâm thúy của ngòi bút Nguyễn Ái Quốc đối với bọn thực dân.

5. Chọn hình thức bức thư, câu chuyện có vẻ khách quan, đồng thời tác giả có thể xen vào câu chuyện những lời bình luận một cách tự nhiên. Khi sử dụng hình thức viết thư, tác giả có thể chuyển cảnh một cách linh hoạt, thời gian, không gian được dịch chuyển một cách rất thoải mái, từ nhà ga xe điện đến trường đua ngựa rồi đến cả trên đường phố… Và đặc biệt tài tình, tác giả còn cùng một lúc đả kích, châm biếm nhiều đối tượng khác, đó là bọn cướp nước xảo trá như thực dân Pháp. Hình thức viết thư còn tạo cho tác phẩm tính đa giọng điệu và tạo nên tiếng cười với nhiều sắc điệu khác nhau, từ giọng điệu giễu cợt mát mẻ, phê phán đả kích đến giọng điệu trữ tình tự sự, đã làm nên sự hấp dẫn đối với người đọc.

6. Sức mạnh đả kích của thiên truyện được tạo nên bởi giọng điệu trần thuật hài hước, tự nhiên dí dỏm và thâm thúy đã làm nên sức hấp dẫn cho tác phẩm, thực hiện xuất sắc thái độ châm biếm, đả kích. Tính chất đa giọng điệu với nhiều sắc điệu khác nhau, từ giọng điệu giễu cợt mát mẻ, phê phán đả kích đến giọng điệu trữ tình tự sự, đã làm nên sự hấp và sức chiến đấu của tác phẩm.

Bài soạn ” Vi hành”( Nguyễn Aí Quốc)  số 3

Kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm

I. Tác giả

– Nguyễn Ái Quốc (1890 – 1969) là một trong những bút danh của Hồ Chí Minh – nhà cách mạng, vĩ lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ XX, một chiến sĩ cộng sản quốc tế.

– Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một sự nghiệp văn chương lớn lao về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách sáng tác. Có thể xếp tác phẩm của Người vào ba thể loại: Văn chính luận, truyện và kí, thơ ca. Mỗi thể loại có một đặc sắc riêng và đều có tác phẩm thành công. Văn chính luận có Tuyên ngôn Độc lập, Truyện kí có Vi hành, thơ có Nhật kí trong tù.

II. Tác phẩm

– Vi hành là truyện ngắn xuất sắc của Hồ Chí Minh, được viết bằng tiếng Pháp, đăng trên báo Nhân đạo – cơ quan của đảng Cộng sản Pháp – số ra ngày 19 – 2 – 1923, vào đúng dịp vua Khải Định được chính phủ Pháp đưa sang dự cuộc đấu xảo thuộc địa tổ chức ở Macxây.

– Tác phẩm đã sử dụng bút pháp hiện thực phê phán trào phúng, hướng đến mục đích chính trị để cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ sự vô dụng của Khải Định, một tên vua bù nhìn, ngu dốt, không phải là kẻ đại diện chân chính cho nhân dân Việt Nam; đồng thời vạch trần bộ mặt xảo trá của những kẻ thực dân.

– Tóm tắt nội dung chính của tác phẩm:

Trên chuyến xe điện ngầm, đôi trai gái người Pháp nhìn thấy nhân vật tôi, người kể chuyện, là một người An Nam nên tưởng đó là Khải Định. Họ bàn luận nhận xét về Khải Định và coi hắn như một tên hề, một trò giải trí rẻ tiền. Đôi trai gái xuống tàu, người kể chuyện nhớ về ngày ấu thơ, về câu chuyện vi hành của Vua Pie, vua Thuấn rồi liên hệ, bình luận về cuộc “vi hành” mờ ám vì mục đích riêng của Khải Định. Tác giả cũng kể về sự nhầm lẫn của người Pháp, của chính quyền thực dân. Qua đó châm biếm cách đối xử của thực dân Pháp đối với người Việt Nam yêu nước.

– Bố cục tác phẩm: Căn cứ vào mạch truyện có thể chia tác phẩm thành 3 phần:

+ Phần 1 (từ đầu đến “Nghe nói ông bầu Nhà hát múa rối có định kí giao kèo thuê đấy…”): Nhân vật tôi kể chuyện một đôi thanh niên Pháp nhầm mình là vua Khải Định. Họ tưởng tác giả không biết tiếng Pháp nên đã bình luận rất vô tư về người mà họ tưởng là Khải Định. Họ bình luận về trang phục, hình thức, tính cách và tỏ ra rất khinh thường người mà họ đang bình luận. Khải Định được coi như một trò giải trí hấp dẫn trong số rất nhiều trò giải trí li kì và rẻ tiền của người Pháp lúc đó.

+ Phần 2 (Từ “Tàu đỗ, cặp trai gái bước xuống...” đến “... nếm thử cuộc đời của các cậu công tử bé?”: Nhân vật tôi nhớ đến những ngày được nghe kể chuyện vi hành của các ông vua nổi tiếng vì dân vì nước trong lịch sử, rồi liên hệ, so sánh với chuyện vi hành của Khải Định. Từ đó thể hiện thái độ châm biếm mỉa mai hành động của Khải Định.

+ Phần 3 (các đoạn còn lại): Nhân vật tôi kể chuyện và bình luận về thái độ của người Pháp đối với mình và những người Việt Nam khác, chính quyền thực dân sai mật thám bám gót họ khắp nơi.

Bài soạn ” Vi hành”( Nguyễn Aí Quốc)  số 4

Gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu soạn bài Vi hành ngắn nhất trang 171 SGK Ngữ văn 11 tập 1.

Câu 1 trang 171 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Mâu thuẫn trào phúng cơ bản của truyện ngắn “Vi hành” ?

Trả lời: 

Mâu thuẫn trào phúng cơ bản của truyện ngắn “Vi hành” là mâu thuẫn giữa bản chất bên trong và hình thức bên ngoài, giữa bản chất bù nhìn sa đọa của vua Khải Định và việc làm của chính quyền thực dân khi đưa Khải Định sang thăm Pháp. Mâu thuẫn của truyện được triển khai trên tình huống truyện nhầm lẫn đầy thú vị và hài hước.

Câu 2 trang 171 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Một trong những vấn đề then chốt của nghệ thuật truyện ngắn là tạo được tình huống truyện độc đáo. Theo anh (chị), tác giả đã sáng tạo tình huống gì trong truyện ngắn này? Tình huống đó có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm và khắc họa nhân vật Khải Định?

Trả lời:

– Tác giả xây dựng tình huống nhầm lẫn (đôi nam nữ Pháp hiểu nhầm tôi là Khải Định).

– Tác dụng của tình huống truyện:

+ Tạo sự khách quan trong đánh giá Khải Định.

+ Chế giễu, đả kích sự lố bịch, bản chất bù nhìn, tính chất một thứ đồ chơi của Khải Định.

Câu 3 trang 171 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Phân tích hình tượng nhân vật Khải Định, qua đó làm rõ tính chất chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén của ngòi bút Nguyễn Ái Quốc?

Trả lời:

Phân tích hình tượng nhân vật Khải Định:

– Trang phục: cái nón chụp đèn, quấn khăn, tay đeo đầy nhẫn, người đủ lụa là, hạt cườm.

– Diện mạo: mũi tẹt, mắt xếch, da vàng bủng như vỏ chanh.

– Cử chỉ, tác phong: nhút nhát, lúng túng.

– Những nơi lui tới: trường đua, tiệm cầm đồ, xe điện ngầm.

– Với người Pháp: Khải Định là thứ đồ chơi lạ mắt khi kho giải trí của họ đã cạn kiệt.

=> Châm biếm, đả kích Khải Định, vị vua bù nhìn, lố bịch, thứ đồ chơi để bọn thực dân Pháp lợi dụng tô điểm cho lá cờ khai hóa, bảo hộ bịp bợm và tàn bạo của chúng.

Gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu soạn bài Vi hành trang 171 SGK Ngữ văn 11 tập 1.

Bài 1 trang 171

Mâu thuẫn trào phúng cơ bản của truyện ngắn “Vi hành” ?

Trả lời: 

Mâu thuẫn trào phúng cơ bản của “Vi hành” đó là sự nhầm lẫn giữa bản chất bên trong và hình thức bên ngoài, giữa bản chất bù nhìn sa đọa và bản chất việc làm của chính quyền thực dân khi đưa Khải Định sang thăm Pháp.

– Nhầm lẫn 1: đôi trai gái nhầm tác giả là Khải Định

– Nhầm lẫn 2: người dân Pháp nhầm những ai da vàng là Khải Định và chính phủ Pháp nhầm những người Việt Nam trên đất nước Pháp là Khải Định.

=> Nhờ các tình huống nhầm lẫn trên mà chân dung vị hoàng đế An Nam hiện lên rõ nét: một kẻ nhếch nhác, lôi thôi, lếch thếch, ngoại hình xấu xí, trang phục lố lăng, phong thái thấp hèn, lối sống bê tha, vai trò chính trị rẻ tiền.

Bài 2 trang 171

Một trong những vấn đề then chốt của nghệ thuật truyện ngắn là tạo được tình huống truyện độc đáo. Theo anh (chị), tác giả đã sáng tạo tình huống gì trong truyện ngắn này? Tình huống đó có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm và khắc họa nhân vật Khải Định?

Trả lời:

Tác giả đã xây dựng, sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo, đó là tình huống nhầm lẫn.

Đó là tình huống nhầm lẫn của đôi trai gái người Pháp trong chuyến tàu điện ngầm: Nhìn người An Nam (nhân vật tôi) và cho đó là Khải Định. Tình huống nhầm lẫn tưởng như vô lí nhưng lại rất có lí, vì người Tây rất khó phân biệt được bộ mặt khác nhau của người da vàng (mắt xếch, mặt bóng như vỏ chanh có gì khác nhau đâu) cũng như người châu Âu, da trắng mũi lõ mắt xanh như nhau cả. Nhờ sự nhầm lẫn mà hình ảnh Khải Định được miêu tả vừa rất khách quan lại vừa thật hài hước. Tạo ra tình huống nhầm lẫn của đôi trai gái trong chuyến tàu điện ngầm, nhân vật tôi tình cờ hiểu được nhiều điều qua câu chuyện thầm lén và tinh quái của họ, nhất là những lời bình luận về hoàng đế An Nam Khải Định. Và thế là, dù Khải Định không hề xuất hiện trong truyện mà chân dung của y được dựng lên rất cụ thể và ngộ nghĩnh.

Bài 3 trang 171

Phân tích hình tượng nhân vật Khải Định, qua đó làm rõ tính chất chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén của ngòi bút Nguyễn Ái Quốc?

Trả lời:

Hình tượng nhân vật Khải Định qua ngòi bút Nguyễn Ái Quốc:

– Về ngoại hình:

+ Mặt mũi: da vàng bủng như quả chanh, mũi tẹt, mắt xếch -> vô duyên.

+ Trang phục thì lố lăng chẳng ra một phong cách nào cốt chỉ để khoe trang sức lụa là có bao nhiêu là đeo hết lên người trưng diện.

+ Điệu bộ: lấm lét lúng túng của phường ăn cắp vụng trộm

– Hành vi: nhút nhát, lén lút vi hành.

=> Chỉ bấy nhiêu thôi ta đã thấy được bản chất của một ông vua bù nhìn. Những đánh giá của đôi trai gái kia là những đánh giá khách quan của thực dân Pháp đôi với hoàng đế Khải Đinh. Từ một ông vua hắn biến thành một thằng hề, một con rối để mua vui cho dân Pháp, để làm tay sai cho thực dân Pháp và cuối cùng chỉ là một đứa con nít ngốc nghếch mà thôi.

– Tính chiến đấu mạnh mẽ của tác phẩm:

+ Nhà văn tố cáo chế độ thực dân với chế độ chính sách dã man và bịp bợm.

+ Lên án chính sách ngu dân, đầu độc người dân bằng thuốc phiện và rượu cồn.

+ Nhà văn còn vạch trần những chính sách lừa bịp quốc tế của thực dân, tung chiêu bài khai hóa văn minh nhưng thực chất là cướp nước.

+ Tố cáo chế độ nhà tù, những truy nã bủa vây theo dõi những người yêu nước trên khắp đất Pháp.

Tổng kết

  • Vi hành là truyện ngắn xuất sắc của Hồ Chí Minh nhằm đả kích, phê phán sự vô dụng của Khải Định, một tên vua bù nhìn, ngu dốt, không phải là kẻ đại diện chân chính cho nhân dân Việt Nam; đồng thời vạch trần bộ mặt xảo trá của những kẻ thực dân.
  • Sức mạnh đả kích của thiên truyện được tạo nên bởi giọng điệu trần thuật hài hước, tự nhiên dí dỏm và thâm thúy đã làm nên sức hấp dẫn cho tác phẩm, thực hiện xuất sắc thái độ châm biếm, đả kích. Tính chất đa giọng điệu với nhiều sắc điệu khác nhau, từ giọng điệu giễu cợt mát mẻ, phê phán đả kích đến giọng điệu trữ tình tự sự, đã làm nên sự hấp và sức chiến đấu của tác phẩm.

 

Bài soạn ” Vi hành”( Nguyễn Aí Quốc)  số 5

Trả lời câu 1 (trang 171 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Mâu thuẫn trào phúng cơ bản của truyện là mâu thuẫn giữa nội dung, bản chất và hình thức bên ngoài:

– Vẻ ngoài bị nhầm với Khải Định >< bên trong thực chất là nhân vật tôi.

– Vai trò làm vua lãnh đạo đất nước >< bản chất bù nhìn, lố bịch của Khải Định.

– Vẻ ngoài tôn trọng Khải Định, vua nước thuộc địa, mời sang dự cuộc đấu xảo >< bản chất khinh thường, bóc lột, đè nén của thực dân Pháp.

– Tác giả xây dựng tình huống nhầm lẫn (đôi nam nữ Pháp hiểu nhầm tôi là Khải Định).

– Tác dụng của tình huống truyện:

+ Tạo sự khách quan trong đánh giá Khải Định.

+ Chế giễu, đả kích sự lố bịch, bản chất bù nhìn, như một con dối của Khải Định.

 

Trả lời câu 3 (trang 171 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Phân tích hình tượng nhân vật Khải Định:

– Trang phục: cái nón chụp đèn, quấn khăn, tay đeo đầy nhẫn, người đủ lụa là, hạt cườm.

– Diện mạo: mũi tẹt, mắt xếch, da vàng bủng như vỏ chanh.

– Cử chỉ, tác phong: nhút nhát, lúng túng.

– Những nơi lui tới: trường đua, tiệm cầm đồ, xe điện ngầm.

– Với người Pháp: Khải Định là thứ đồ chơi lạ mắt khi kho giải trí của họ đã cạn kiệt.

=> Châm biếm, đả kích Khải Định, vị vua bù nhìn, lố bịch, thứ đồ chơi để bọn thực dân Pháp lợi dụng tô điểm cho lá cờ khai hóa, bảo hộ bịp bợm và tàn bạo của chúng.

Tóm tắt

“Vi hành” nói về chuyến đi của một người An Nam – nhân vật “tôi” trên tàu điện ngầm ở Pháp, Trong chuyến đi ấy, nhân vật “tôi” bị một đôi trai gái người Pháp hiểu nhầm là vua Khải Định. Câu chuyện nói về những lời nhận xét của đôi trai gái về Khải Định và suy nghĩ của nhân vật “tôi”. 

Bố cục: 2 phần

– Phần 1 (từ đầu đến “vi hành đấy”): Cuộc trò chuyện của đôi trai gái Pháp về Khải Định.

– Phần 2 (đoạn còn lại): Thái độ, suy nghĩ của nhân vật “tôi” về Khải Định, về chế độ cai trị của bọn thực dân.

Nguồn: Tổng Hợp