Hướng dẫn bài soạn “Vào phủ chúa Trịnh” văn học 11 chi tiết

Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh, trả lời câu hỏi đọc hiểu soạn bài Vào phủ chúa Trịnh trang 3 sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 11 tập 1.Bài soạn Vào phủ Chúa Trịnh gồm có phần tóm tắt tác giả, tác phẩm và hướng dẫn trả lời các câu hỏi đọc hiểu theo cả chương trình cơ bản và nâng cao. Đọc Tài Liệu hi vọng bài soạn sẽ là một trong những tài liệu hữu ích cho quá trình học tập và tìm hiểu tác phẩm trên lớp, giúp các em cảm nhận được giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm và nhân cách thanh cao của tác giả qua ngòi bút kí sự chân thực, sắc sảo về cuộc sống trong phủ chúa Trịnh.

Bài soạn “Vào phủ chúa Trịnh” số 1

Tóm tắt

Vào sáng sớm tinh mơ ngày 1 tháng 2, tôi được lệnh triệu vào phủ chúa. Tôi nhanh chóng được điệu đi trên một cái cáng chạy như ngựa lồng. Tôi đi vào từ cửa sau, nhìn quanh tôi thấy cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đua thắm. Qua mấy lần cửa, các hành lang dài quanh co tôi được đưa tới một ngôi nhà thật lớn gọi là phòng trà. Đồ đạc trong phòng đều được sơn son thếp vàng. Lúc đó thánh thượng đang ngự phòng thuốc cùng các phi tần nên tôi không thể yết kiến. Tôi được thiết đãi bữa sáng mĩ vị với đồ dùng toàn bằng vàng, bạc. Ăn xong tôi được đưa đến yết kiến ở Đông Cung và khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Thế tử vì “ăn quá no, mặc quá ấm” mà sinh bệnh. Nửa sợ bị cuốn vào vòng danh lợi, nửa vì chịu ơn của nước. Cuối cùng, tôi dốc lòng kê đơn cho thế tử, rồi từ giã lên cáng trở về kinh Trung Kiền chờ thánh chỉ. Bạn bè ai ai trong cung cũng đến thăm hỏi.

Bố cục

– Phần 1 (từ đầu đến không có dịp): Quang cảnh trong phủ chúa Trịnh.

– Phần 2 (tiếp đến phòng chè ngồi): Thực trạng trong phủ chúa, hình ảnh Trịnh Cán ốm yếu.

– Phần 3 (còn lại): Tâm trạng, cảm nghĩ của Lê Hữu Trác

Câu 1 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

* Quang cảnh trong phủ Chúa

– Phải đi qua nhiều lần cửa, với những dãy hành lang dài quanh co nối nhau liên tiếp, ở mỗi cửa đều có lính canh gác, ai muốn vào phải có thẻ.

– Vườn hoa trong phủ Chúa cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa cỏ thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương

– Bên trong phủ là nhà Đại đường, Quyển bổng, Gác tía với kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy.

– Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là mâm vàng chén bạc

– Đến nội cung phải đi qua 5, 6 lần trướng gấm

– Phòng thắp nến, sập thếp vàng, ghế rồng sơn son, nệm gấm mà che

⇒ Quang cảnh ở phủ chúa cực kì tráng lệ lộng lẫy, không đâu sánh bằng

* Cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

– Khi đi thì có tên đầy tớ chạy trước hét đường

– Trong phủ người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc qua lại như mắc cửi

– Lời lẽ nhắc đến thế tử đều hết mực cung kính, lễ độ tránh phạm úy.

– Chúa Trịnh luôn cho phi tần chầu chực xung quanh. Tác giả không được thấy mặt Chúa

– Thế tử bệnh có 7, 8 người thầy thuốc túc trực, phục dịch

– Tác giả phải quỳ lạy 4 lần lúc đến và 4 lần lúc về

⇒ Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa với những lễ nghi, khuôn phép, cách nói năng, người hầu kẻ hạ cho thấy sự cao sang, quyền uy, cùng với cuộc sống hưởng thụ xa hoa đến cực điểm và sự lộng quyền của nhà chúa.

* Cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống trong phủ

– Lê Hữu Trác mặc dù khen cái đẹp, cái sang nơi phủ Chúa những tác giả tỏ vẻ dửng dưng trước những thứ vật chất xa hoa và không đồng tình với cuộc sống quá xa xỉ, thừa thãi, hưởng lạc nhưng thiếu khí trời và tự do như ở trong phủ Chúa

Câu 2 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Chi tiết được cho là đắt nhất

– “Một đứa bé độ 5, 6 tuổi ngồi chễm chệ trên sập vàng để cho thầy thuốc già cúi lạy bốn lần rồi cười và ban một lời khen “ông này lạy khéo”. Khi đi đi qua độ 5, 6 lần trướng gấm tối om như vậy là một khung cảnh vàng son nhưng tù hãm, thiếu sinh khí của thế tử. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt mấy người hầu cận đứng xúm xít.

– Qua chi tiết ấy cho thấy cuộc sống ăn chơi hưởng lạc trong phủ Chúa. Thế tử được mọi người chăm sóc, hầu cận đến phát bệnh. Không gian ngột ngạt, tù túng, thiếu sinh khí trong phủ Chúa.

Câu 3 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Cách chẩn đoán bệnh của Lê Hưu Trác cho thấy ông là một người thầy thuốc giỏi, giàu kinh nghiệm

– Ông là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ

– Đặc biệt ông còn có những phẩm chất cao quý: khinh thường danh lợi, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị

Câu 4 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bút pháp đặc sắc trong truyện

– Sự quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực những gì đã nhìn thấy

– Tả cảnh sinh động

– Kể diễn biến sự việc một cách khéo léo, lôi cuốn người đọc

Luyện tập (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

So sánh hai đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” (Lê Hữu Trác) với “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (Phạm Đình Hổ)

* Giống nhau: Đều phán ánh hiện thực cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh

* Khác nhau:

– Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh – Phạm Đình Hổ

    + Phản ánh sự nhũng nhiễu của quan lại đối với nhân dân

    + Các sự kiện được kể một cách tản mạn, ghép nối

    + Thể hiện thái độ phê phán gay gắt của tác giả đối với Chúa và quan lại

– Vào phủ chúa Trịnh – Lê Hữu Trác

    + Ghi chép sự việc theo trình tự thời gian một cách tỉ mỉ và trung thực

    + Thể hiện thái độ phê phán một cách kín đáo

    + Thể hiện thái độ dửng dưng, coi thường vinh hóa phú quý và tấm lòng y đức của Lê Hữu Trác

 

Bài soạn “Vào phủ chúa Trịnh” số 2

I. Về tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

   – Lê Hữu Trác (1724- 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên

   – Ông vừa là một danh y, vừa là một nhà văn và nhà thơ lớn.

2. Tác phẩm Thượng kinh kí sự (Kí sự lên kinh) là tập kí sự bằng chữ Hán, hoàn thành năm 1783, được xếp cuối bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh như một quyển phụ lục. Tác phẩm được viết bằng thể kí sự – một thể loại văn học mới xuất hiện ở thế kỉ XVIII, ghi chép những câu chuyện, những sự việc có thực và tương đối hoàn chỉnh.

   Thượng kinh kí sự ghi lại những chuyện mắt thấy tai nghe của Lê Hữu Trác trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh Sâm. Tập kí sự tả lại quang cảnh kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và thế lực, quyền uy của nhà chúa. Câu chuyện kết thúc với việc Lê Hữu Trác được về lại quê nhà, trở về với cuộc sống tự do trong tâm trạng hân hoan để tiếp tục cống hiến đời mình cho y thuật.

   Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh nói về việc Lê Hữu Trác lên tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho Trinh Cán.

Bố cục

– Phần 1 (từ đầu đến để tôi xem mạch Đông cung cho thật kĩ): Quang cảnh trong phủ chúa Trịnh.

– Phần 2 (còn lại): Qúa trình bắt mạch kê đơn và suy nghĩ của tác giả.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

* Đoạn trích vào phủ chúa Trịnh ghi lại một cách khá tỉ mỉ quang cảnh trong phủ chúa (được miêu tả từ ngoài → trong, từ bao quát đến cụ thể):

   – Rất nhiều lần cửa, năm sáu lần trướng gấm

   – Canh giữ nghiêm ngặt

   – Cảnh trí khác lạ: Cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm…

   – Trong phủ là những đại đồng, quyền bổng, gác tía, kiệu son, mâm vàng chén bạc.

   – Nội cung thế tử có sập vàng, ghế rộng, nệm gấm, màn là…

=> Quang cảnh cực kỳ xa hoa, lộng lẫy.

* Cùng với sự xa hoa trong quang cảnh là cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách:

   – Vào phủ phải có thánh chỉ, có lính chạy thét đường.

   – Trong phủ có một guồng máy phục vụ đông đảo, người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan đi lại như mắc cửi.

   – Trong cuộc tiếp kiến vị Đông cung thế tử, tất cả những lời lẽ nhắc đến chúa và thái tử đều phải hết sức cung kính, lễ độ.

   – Chúa luôn phải có phi tần chầu chực, tác giả cũng không được thấy mặt chúa, tất cả chỉ làm theo lệnh và thông qua quan Chánh đường.

   – Thế tử ốm và lúc nào cũng có tới 7 – 8 thấy thuốc túc trực, có người hầu cận hai bên. Tuy mới chỉ được năm, sáu tuổi nhưng khi vào xem mạch lẫn khi ra, người thầy thuốc phải cúi lạy cung kính.

=> Đó là những nghi lễ, khuôn phép cho thấy sự cao sang, quyền quý đến tột cùng. Đồng thời cũng thấy được một cuộc sống xa hoa, hưởng lạc, sự lộng hành nơi phủ chúa.

* Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của tác giả đối với cuộc sống nơi phủ chúa:

   – Thể hiện gián tiếp qua cách miêu tả, ghi chép tỉ mỉ, đầy đủ con đường vào phủ chúa từ khi truyền lệnh cho tới khi y lệnh về chờ thánh chỉ → Phơi bày sự xa hoa, quyền thế nơi phủ chúa.

   – Thể hiện trực tiếp thông qua cách quan sát, những lời nhận xét và những lời bình giá của tác giả.

=> Tác giả tỏ thờ ơ, dửng dưng với cảnh giàu sang nơi phủ chúa. Đồng thời cũng kín đáo bộc lộ thái độ không đồng tình với cuộc sống quá đầy đủ, tiện nghi mà thiếu sinh khí.

Câu 2 (trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt” thể hiện nổi bật nội giá trị hiện thực của tác phẩm:

   – Chi tiết đối lập: thế tử – một đứa bé – ngồi chễm trệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban cho một lời khen “rất trẻ con”: Ông này lạy khéo!

   – Chi tiết tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên thấy ông ta (quan Chánh đường) mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…” → Gợi nên một khung cảnh ngột ngạt bởi son vàng → sự tù đọng và nhức nhối.

=> Đọc đến chi tiết này chúng ta có thể hiểu nguyên nhân căn bệnh của thái tử Cán. Một đứa trẻ còn quá nhỏ nhưng lại bị kìm kẹp nơi thâm cung thiếu sinh khí tự nhiên để sống.

Ngoài ra, truyện còn nhiều chi tiết khác rất độc đáo, sắc sảo để giúp người đọc thấy được cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa.

Câu 3 (trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Khi chuẩn đoán bệnh và kê đơn thuốc cho thế tử, người đọc thể nhận thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ sâu sắc của nhà văn.

   – Ông muốn chữa bệnh cầm chừng cho thế tử nhưng lại thấy trái với y đức, phụ lòng của cha ông…

   – Khi đã quyết định chữa bênh cho thế tử, mặc dù ý kiến của ông trái với ý của nhiều người nhưng ông vẫn bảo vệ, giữ nguyên ý kiến.

=> Phẩm chất của người thầy thuốc:

   – Tác giả là một người có kinh nghiệm, kiến thức sâu rộng.

   – Là một người thầy thuốc giàu y đức, coi thường danh lợi, yêu thích nếp sống tự do, thanh đạm ở quê nhà.

Câu 4 (trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Đặc sắc trong nghệ thuật viết kí sự của nhà văn được thể hiện ở những điểm sau:

   – Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo; bút pháp tả cảnh sinh động.

   – Nội dung ghi chép trung thực.

   – Cách kể chuyện khôn khéo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và việc.

III. Luyện tập

(trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1): So sánh đoạn trích …

Điểm chung của đa số các tùy bút là giá trị hiện thực và thái độ của nhà văn trước hiện thực ấy. Tuy nhiên mỗi tùy bút lại có sự khác nhau trong cách bộc lộ thái độ của nhà văn truớc hiện thực; khác nhau trong việc lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, cũng như cách thể hiện nghệ thuật.

 

Bài soạn “Vào phủ chúa Trịnh” số 3

A- Tác giả, tác phẩm Vào phủ chúa Trịnh

1. Tác giả Lê Hữu Trác

– Lê Hữu Trác (1724 – 1791) tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, quê cha ở Hưng Yên, quê mẹ ở Hà Tĩnh.

– Ông là một danh y đồng thời là nhà văn nhà thơ lớn.

– Ông là tác giả của bộ sách y học nổi tiếng “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”.

2. Tác phẩm Thượng kinh ký sự

– Thượng kinh ký sự là tập nhật kí bằng chữ Hán, in ở cuối bộ “Y tông tâm lĩnh”, được viết bằng chữ Hán.

– Thể loại: Vào phủ chúa Trịnh thuộc thể loại Kí sự.

– Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm được trích từ quyển Thượng kinh kí sự nói về việc Lê Hữu Trác tới kinh đô được dẫn và phủ Chúa để bắt mạch kê đơn cho Thế tử Trịnh Cán.

– Nội dung chính: miêu tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa và quyền uy thế lực của nhà chúa qua những điều mắt thấy tai nghe, nhân dịp Lê Hữu Trác được chúa Trịnh Sâm triệu về kinh đô chữa bệnh cho chúa và thế tử Trịnh Cán. Tác phẩm còn thể hiện thái độ kinh thường danh lợi của tác giả.

– Bố cục

Bố cục Vào phủ chúa Trịnh được chia làm 4 phần chính, bao gồm:

+ Phần 1: Quang cảnh bên ngoài phủ chúa.

+ Phần 2: Những điều mắt thấy tai nghe khi vào phủ chúa

+ Phần 3: Quang cảnh khi đi sâu vào nội cung và khám bệnh cho thế tử

+ Phần 4: Tác giả nhận định và đề ra phương án chữa bệnh

3. Tóm tắt đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

+ Cách tóm tắt 1

Nhân vật trong câu chuyện là Lê Hữu Trác, thầy lang giỏi. Ông có lệnh vào phủ chúa Trịnh để chữa bệnh, ông đi vào chốn phồn hoa, vốn là quan trong triều đình nhưng khi thấy cảnh giàu sang, sung sướng, phồn hoa của vua chúa Trịnh cũng lấy làm ngạc nhiên. Sau khi trải qua nhiều lớp cửa ông cũng đến được nơi chúa ở, phòng chúa ở rất đặc biệt được sơn son thếp vàng, đều là những đồ quý giá mà nhân gian chưa từng thấy. Trong khi chờ đợi chúa, ông được ăn những đồ ngon vật lạ hiếm có trên đời, qua đó biết được khẩu vị của những bậc quyền quý. Ông có nhiệm vụ bắt mạch, tìm bệnh cho thế tử, nhận thấy bệnh của thế tử xuất phát từ chúa thường ở chốn màn che trướng phủ, ăn sướng, mặc ấm phủ tạng yếu, bệnh đã lâu nên trầm trọng. Vì nghĩ đến nước nhà, lòng trung thành đối với đất nước ông đã kê đơn thuốc giúp thế tử chữa trị bệnh. Sau khi hoàn thành công việc khám bệnh, ông từ giã trở về đợi thánh chỉ.

+ Cách tóm tắt 2

Vào ngày đầu tiên của tháng 2, thầy lang Lê Hữu Trác được lệnh triệu tập vào phủ chúa để khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Mặc dù chỉ đi từ cửa sau của phủ chúa nhưng ông cũng thấy được mức độ xa hoa, giàu có như thế nào. Đồ đạc đều được sơn thếp vàng, đồ cổ quý giá nhiều vô kể, cả một căn nhà lớn lại là phòng trà, thực sự quá xa hoa. Cho dù cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa là vậy nhưng Lê Hữu Trác vẫn có thể nhận ra được bức tranh hiện thực ở nơi đây là rất tùng túng và ngột ngạt. Thế tử ở nơi trưởng rủ màn che đến mức mà thầy lang phải đi qua mấy lớp cửa, vài hàng lang dài miên man mới có thể đến được nơi để thăm khám. Cũng bởi sống cuộc sống sung sướng như ở trong nơi nắng mưa chẳng tới đầu, ăn quá no, mặc quá ấm, lại thêm không chịu vận động nên mới khiến cho nội phủ mới yếu đi mà sinh ra bệnh. Lê Hữu Trác vốn là người không màng công danh, lợi lộc nên sau khi kê đúng đơn thuộc đã từ giã về quê đợi thành chỉ.

+ Cách tóm tắt 3

Tôi vẫn nhớ ngày hôm đó vào sáng sớm ngày 1/2 nhận được thánh chỉ vào phủ chầu ngay lập tức. Đi từ cửa sau vào phủ tôi nhìn thấy cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đua nở, chỉ vậy thôi cũng đủ nhận thấy sự giàu sang của vua chúa lớn đến nhường nào. Đi tiếp qua vài lần cửa nữa, qua các hàng lang dài miên man thì cuối cùng tôi được dẫn vào ngôi nhà lớn mà được gọi là phòng trà. Đồ đạc đều được sơn thếp vàng, tôi cũng thấy cả những đồ vật cổ quý giá. Tôi không được yết kiến Thánh thượng vì lúc đó người đang ngự phòng thuốc cùng các phi tần. Sau khi được dùng bữa với những thứ sa hoa thôi được đưa đến yết kiến ở Đông Cung để thăm khám cho thế tử Trịnh Cán. Bởi nằm lâu trong chốn màn che trướng rủ, ăn quá nó, mắc quá ấm lại thêm lười vận động nên nội phủ tạng yếu đi, dẫn đến phát bệnh. Tôi nghĩ còn nợ ơn nước nên đã kê đơn thuốc theo đúng bệnh rồi từ giã trở về quê chờ thánh chỉ.

B-  Soạn bài Vào phủ Chúa Trịnh

I. Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh ngắn nhất

Câu 1 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?

Trả lời:

– Quang cảnh trong phủ chúa: Lộng lẫy, tráng lệ.

+ Phải qua nhiều lần cửa, “ai muốn ra vào phải có thẻ”.

+ Vườn hoa: cây hoa um tùm, chim kêu, gió đưa.

+ Lầu son gác tía.

+ Đồ đạc quý hiếm, sơn son thếp vàng.

+ Nội cung thế tử: Phải qua năm sáu lần trướng gấm, phòng thắp nến, sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt.

– Cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa là cung cách sinh hoạt sa hoa, quyền quý.

+ Đầy quyền uy, có đầy tớ truyền lệnh

+ Nhắc đến chúa và thế tử một cách cung kính: “thánh thượng đang ngự ở đấy, chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà”…

+ Không được trực tiếp nhìn mặt chúa, trước khi vào xem bệnh cho thế tử phải lạy bốn lạy, muốn xem thân hình của thế tử phải có viên quan nội thần đến xin phép

+ Nhiều phi tần, kẻ hầu người hạ, thế tử có 7-8 thầy thuốc,…

– Cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác: không màng tới những thứ sa hoa, không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu tự do.

Câu 2 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

Trả lời:

– Chi tiết đắt: “ Mâm vàng chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ” hay chi tiết miêu tả về nơi ở của thế tử: qua năm sáu lần trướng gấm, phòng thắp nến, sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt.

– Các chi tiết thể hiện sự quyền quý, giàu có, chứng tỏ quyền uy và cuộc sống sa hoa, ăn chơi hưởng lạc của nhà chúa lúc bấy giờ.

Câu 3 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?

Trả lời:

Cách chẩn đoán bệnh của Lê Hưu Trác trong Vào phủ chúa Trịnh cho thấy ông là

– Một người thầy thuốc giỏi, giàu kinh nghiệm.

– Một thầy thuốc có lương tâm và đức độ.

– Đặc biệt ông còn khinh thường danh lợi, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị.

Câu 4 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó.

Trả lời:

Bút pháp đặc sắc trong truyện

– Sự quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực những gì đã nhìn thấy

– Tả cảnh sinh động

– Kể diễn biến sự việc một cách khéo léo, lôi cuốn người đọc

LUYỆN TẬP

Câu hỏi trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1

So sánh Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này.

Trả lời:

– Điểm chung của đa số các tuỳ bút là giá trị hiện thực và thái độ của nhà văn trước hiện thực ấy.

– Tuy nhiên mỗi tuỳ bút lại có sự khác nhau trong cách bộc lộ thái độ của nhà văn trước hiện thực (trực tiếp hay gián tiếp, rõ ràng hay kín đáo,…); khác nhau trong việc lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, cũng như cách thể hiện nghệ thuật.

– Có thể tự làm rõ những điều này khi so sánh Thượng kinh kí sự với Vũ trung tuy bút của Phạm Đình Hổ (một tác phẩm cùng thời) hoặc với Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm (một tác phẩm kí thời hiện đại).

Bài soạn “Vào phủ chúa Trịnh” số 4

Dưới đây là phần nội dung soạn bài Vào phủ chúa Trịnh đầy đủ, chi tiết nhất cho các em tham khảo. Ngoài ra để xem được nhiều cách trình bày câu trả lời cho từng câu hỏi, các em có thể bấm vào từng câu hỏi để chuẩn bị bài thêm nhé.

Câu 1 trang 9 sgk 

Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?

Trả lời:

* Về quang cảnh trong phủ chúa:

– Vào phủ chúa Trịnh phải qua rất nhiều lần cửa, với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”. Ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, “ai muốn ra vào phải có thẻ“, trong khuôn viên phủ chúa có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền bá mệnh lệnh ra bên ngoài. Vườn hoa trong phủ chúa “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương“.

– Bên trong phủ bày biện toàn những đồ sang trọng như: kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng rồi những đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là “mâm vàng, chén bạc“. Trong nội cung thế tử cũng vậy: phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn che ngang sân, “xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt“.

Có thể nói, chính những gì đang hiển hiện ra trước mắt người đọc đã tự nói lên tất cả cái quyền uy tối thượng đang nằm trong tay nhà chúa cũng như nếp hưởng thụ cực kì xa xỉ của Trịnh Sâm và gia đình.

* Cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách:

– Khi tác giả lên cáng vào phủ theo lệnh của chúa thì có “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường“. “Cáng chạy như ngựa lồng” khiến người trong cáng “bị xốc một mẻ, khổ không nói hết”. Trong phủ chúa, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi“.

– Trong cuộc tiếp kiến vị Đông cung thế tử, tất cả những lời lẽ nhắc đến chúa và thái tử đều phải hết sức cung kính, lễ độ (“Thánh thượng đang ngự ở đấy”, “chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà” (cho thế tử uống thuốc), “phòng trà” (nơi thế tử uống thuốc),…).

– Trong cuộc tiếp kiến ấy, tác giả cũng không được thấy mặt chúa. Tất cả những mệnh lệnh của chúa đều được phán bảo qua quan Chánh đường hoặc người truyền mệnh. Thầy thuốc xem bệnh xong cũng không được phép trao đổi với chúa mà phải viết tờ khải để quan Chánh đường dâng lên chúa. Nội cung trang nghiêm đến nỗi vị thầy thuốc cũng phải “nín thở” khi đứng chờ ở xa và “khúm núm” khi đến trước sập để xem mạch cho thế tử.

– Thế tử ốm và lúc nào cũng có đến bảy, tám thầy thuốc phục dịch. Lúc nào cũng có “mấy người đứng hầu hai bên”. Thế tử tuy mới chỉ được năm, sáu tuổi nhưng khi vào xem mạch lẫn khi ra, người thầy thuốc đểu phải cúi lạy cung kính, lễ phép. Trước khi cho thầy thuốc xem thân hình, một viên quan nội thần phải đến xin phép được cởi áo cho thế tử.

* Cách nhìn của tác giả:

– Tác giả không bộc lộ trực tiếp thái độ nhưng qua việc chọn chi tiết để kể và tả, đôi lúc xen vào lời nhận xét khách quan, phần nào thấy được thái độ của ông:

+ Ông nhận xét cảnh xa hoa, lộng lẫy tấp nập ở phủ chúa “khác hẳn người thường” đến mức không tưởng tượng nổi, “khác nào ngư phủ đào nguyên thưa nào“.

+ Được mời ăn cơm: tác giả nhận xét “toàn của ngon vật lạ

=> Tác giả nhận xét nơi phủ chúa Trịnh cái gì cũng đẹp, cái gì cũng sang nhưng thái độ của tác giả lại tỏ rõ sự dửng dưng, không đồng tính với cuộc sống quá tiện nghi, quá sang trọng, khác thường như vậy. Đó là cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc xa xỉ nhưng lại chẳng có tự do sinh khí.

Câu 2 trang 9

Phân tích những chi tiết trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

Trả lời:

– Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt”, thể hiện nổi bật nội dung hiện thực của tác phẩm. Sự tinh tế và sắc sảo của tác giả đọng lại trong đoạn trích là ở những chi tiết tuy nhỏ nhưng rất gây ấn tượng. Ví như chi tiết đối lập: thế tử – mội đứa bé – ngồi chễm chệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban một lời khen “rất trẻ con”: “Ông này lạy khéo !“.

– Hoặc ở một chi tiết khác khi tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên thấy ông ta (quan Chánh đường) mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…“.

– Chi tiết miêu tả nơi “Thánh thượng đang ngự” (“có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt“), rồi chi tiết miêu tả những dụng cụ dùng để ăn uống, những món ăn khi quan Chánh đường mời thầy thuốc dùng bữa sáng,..

=> Lời văn của tác giả rất tự nhiên, không hề có chút cường điệu nào. Cũng chính vì thế mà việc hưởng lạc xa hoa của nhà chúa tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc.

Câu 3 trang 9

Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?

Trả lời:

Dõi theo từng bước đi của người thầy thuốc, người đọc có thể nhận thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ khá sâu sắc của nhà văn:

– Đứng trước cảnh xa hoa lộng lẫy, tấp nập người hầu kẻ hạ nơi phủ chúa, tác giả nhận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa khác hẳn người thường“. Trước cảnh ấy, tác giả đã vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng, vương giả nơi phủ chúa. Trong bài thơ ấy, tác giả đã phải thốt lên: “Cả trời Nam sang nhất là đây!“.

+ Khi được mời ăn cơm sáng, tác giả đã khéo léo bày tỏ nhận xét: “mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia“.

+ Nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét: “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi“.

Tác giả tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ vật chất, đồng thời có những biểu hiện chứng tỏ thái độ không đồng tình với cuộc sống tuy quá no đủ và tiện nghi nhưng lại thiếu khí trời và không khí tự do.

– Tâm trạng và cảm nghĩ của Lê Hữu Trác trong Vào phủ chúa Trịnh khi chữa bệnh cho thế tử còn diễn biến phức tạp hơn.

+ Thăm bệnh xong, người thầy thuốc đã hiểu được rõ nguyên nhân căn bệnh của thái tử. Ông đưa ra những luận giải rất hợp lí, có cách chữa trị riêng. Nhưng trong lúc ấy, ông lại lo nếu chữa bệnh hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, lúc đó lại bị trói buộc bởi vòng danh lợi.

+ Thoáng nghĩ đến việc kê một đơn thuốc vô thưởng, vô phạt nhưng rồi ông lại quên ý nghĩ đó ngay. Việc làm ấy trái với y đức, trái với lương tâm ông và thậm chí phụ lòng trung của tổ tiên. Hai suy nghĩ đó giằng co, xung đột với nhau. Cuối cùng ông đã chọn theo lương tâm, phẩm chất của người thầy thuốc. Ông thẳng thắn đưa ra bài thuốc của mình – một bài thuốc trái với ý của nhiều người khiến quan Chánh đường thậm chí có ý đắn đo.

Từ những chi tiết về việc chữa bệnh của thầy thuốc Lê Hữu Trác, có thể thấy:

+ Tác giả là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm, có kiến thức sâu và rộng.

+ Bên cạnh tài năng, ông còn là một người thầy giàu y đức.

+ Trên cả những điều đó là một thái độ coi thường danh lợi, yêu thích nếp sống tự do, thanh đạm ở quê nhà. Quan điểm này tất nhiên cũng gián tiếp cho thấy, tác giả không đồng tình với lối sống xa hoa của những người nắm giữ trọng trách quốc gia.

Câu 4 trang 9

Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó.

Trả lời:

Từ những điều đã phân tích trên đây, có thể thấy đặc sắc trong nghệ thuật viết kí sự của nhà văn được bộc lộ ở những điểm sau:

– Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo; bút pháp tả cảnh sinh động.

– Nội dung ghi chép trung thực.

– Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và việc.

– Giọng điệu châm biếm, phê phán một cách nhẹ nhàng, kín đáo.

– Kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm tạo sức hút, tăng giá trị hiện thực, gây ấn tượng sâu sắc về cảnh và người nơi phủ chúa.

LUYỆN TẬP

Câu hỏi luyện tập trang 9

So sánh đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam mà anh (chị) đã đọc và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này. (Bài tập chương trình cơ bản)

Trả lời:

– Điểm chung: kể về người thật, việc thật, đề cao giá trị hiện thực và thái độ của nhà văn trước hiện thực ấy.

– Điểm riêng: Tuy nhiên mỗi tuỳ bút lại có sự khác nhau trong cách bộc lộ thái độ của nhà văn trước hiện thực (trực tiếp hay gián tiếp, rõ ràng hay kín đáo,…); khác nhau trong việc lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, cũng như cách thể hiện nghệ thuật.

– Có thể tự làm rõ những điều này khi so sánh Thượng kinh kí sự với Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (một tác phẩm cùng thời) hoặc với Nhật kí ĐặngThuỳ Trâm (một tác phẩm kí thời hiện đại).

Các em có thể tham khảo gợi ý so sánh Vào phủ chúa Trịnh với Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh và Vũ trung tùy bút dưới đây:

Vào phủ chúa Trịnh với Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

– Giống nhau: Giá trị của hiện thực và thái độ của tác giả đối với hiện thực

+ Cả 2 tác phẩm đều phản ánh hiện thực thói sống xa hoa, hưởng lạc

+ Thái độ của tác giả: Không đồng tình với cuộc sống xa hoa, tỏ ý phê phán cuộc sống nơi phủ chúa và những con người ở đấy. Đặc biệt là chúa Trịnh Sâm, thế tử Trịnh Cán và quan lại quyền quý.

– Khác nhau:

Vào phủ chúa Trịnh:

+ Nội dung: là kí sự nhân chuyến tác giả được triệu về kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán

+ Nét đặc sắc về nghệ thuật: quan sát tỉ mỉ, ngòi bút tinh tế ghi chép việc thực người thực, chon lọc chi tiết đắt giá; miêu tả khách quan, có sự kết hợp hài hòa giữa giữa thơ và văn xuôi tạo nên chất trữ tình; đặc biệt sự khéo léo trong cách kể xen lẫn lời bình.

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh:

+ Nội dung: kể lại những thú ham chơi của chúa Trịnh Sâm

+ Nét đặc sắc nghệ thuât: ghi chép chân thực, sinh động, giàu chất trữ tình. Các chi tiết miêu tả đắt giá, tả cảnh tỉ mỉ nhưng nhuốm màu sắc u ám, mang tính chất dự báo. Giọng điệu gần như khách quan nhưng lại khéo léo thể hiện thái độ lên án bọn vua quan thông qua thủ pháp liệt kê.

* Vào phủ chúa Trịnh với Vũ trung tùy bút

– Giống nhau:

+ Giá trị hiện thực

+ Thái độ của tác giả trước hiện thực

– Những điểm đặc sắc riêng của đoạn trích:

Vào phủ chúa Trịnh: Sự chú ý chi tiết, bút pháp kể và tả khách quan, những chi tiết chọn lọc sắc sảo tự nói lên ý nghĩa sâu xa …

+ Đặc biệt là của bút pháp kí sự Lê Hữu Trác:

  • Quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực.
  • Tả cảnh sinh động, kể khéo léo, lôi cuốn.
  • Nghệ thuật tương phản càng thể hiện rõ giá trị hiện thực tác phẩm và chân dung tác phẩm.

Bài soạn “Vào phủ chúa Trịnh” số 5

Câu 1. Cho biết Lê Hữu Trác dùng bao nhiêu lần từ thánh chỉ, thánh thượng, thánh thể trong đoạn trích? Những từ đó dùng để chỉ cái gì, chỉ ai và dụng ý của tác giả?

Trả lời:

Trong đoạn trích, Lê Hữu Trác đã dùng từ thánh chỉ 4 lần (“có thánh chỉ triệu cụ vào”, “có thánh chỉ triệu”, “nay vâng thánh chỉ vào kinh”, “để chờ xem thánh chỉ như thế nào”), từ thánh thượng 3 lần (“thánh thượng cho phép cụ vào hầu mạch”, ”thánh thượng đang ngự ở đấy”, “thánh thượng thường vẫn ngồi trên ghế rồng này”) và từ thánh thể 1 lần (“tôi thấy thánh thể gầy, mạch lại tế, sác”).

Những từ này dùng để chỉ:

+ Thánh chỉ: chiếu chỉ của vua, ở đây là chiếu chỉ của chúaTrịnh Sâm.

+ Thánh thượng: từ dùng để chỉ nhà vua, ở đây chỉ chúa Trịnh Sâm.

+ Thánh thể: thân thể, cơ thể của vua, ở đây chỉ thế tử Trịnh Cán.

Câu 2Trong đoạn trích, tác giả kể ra rất nhiều người phục vụ, từ quan quân đến người hầu. Điều này gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về uy quyền của chúa Trịnh Sâm?

Trả lời:

Trong đoạn trích, tác giả kể ra rất nhiều người phục vụ, từ quan quân đến người hầu. Số lượng cùng chức vụ và tính chất của những người phục vụ đó cho thấy uy quyền của nhà chúa và hệ thống quan liêu ăn bám rất lớn. Phủ chúa chẳng những giống mà còn hơn cả cung vua. Sự thực ấy không chỉ được Lê Hữu Trác phản ánh mà sử sách bấy giờ ghi chép cũng rất nhiều.

Câu 3. Để đến được nơi ở của thế tử Cán, Lê Hữu Trác phải đi qua những nơi nào? Quang cảnh và cách bài trí từng nơi tác giả đi qua gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về cuộc sống của chúa Trịnh?

Trả lời:

Để đến được nơi ở của thế tử Cán, Lê Hữu Trác phải bước qua màn gấm đi vào bên trong tối om, sau đó đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy và đến một cái phòng rộng nơi thế tử sống.

Quang cảnh và cách bài trí từng nơi tác giả đi qua gợi ra một cuộc sống quyền quý, giàu sang khác hẳn người thường của chúa Trịnh trong phủ chúa.

Câu 4. Dựng lại không khí khám bệnh cho thế tử Cán trong phủ chúa Trịnh. Chú ý tới sự hối hả, tấp nập có vẻ trang nghiêm nhưng hài hước qua cách kể của người tường thuật.

Trả lời:

Ngay từ “sáng tinh mơ” Lê Hữu Trác đã bị hối thúc bởi “tiếng gõ cửa rất gấp”, người đưa tin thì “thở hổn hển” vì phải “chạy” để báo tin cho kịp, lính thì đã đem cáng đến chờ sẵn ở ngoài cửa và yêu cầu phải “vào phủ chầu ngay”.

Không khí đi đường được miêu tả vừa buồn cười, vừa đáng thương. Trong Thượng kinh kí sự tác giả viết: Đầy tớ phải “chạy đàng trước hét đường”, cáng thì “chạy như ngựa lồng” khiến người được khiêng bị xóc “khổ không nói hết”… Khi bước chân vào cửa phủ chúa, không khí càng gấp gáp hơn. Người giữ cửa thì truyền báo “rộn ràng”, người khác thì “qua lại như mắc cửi”,…

⇒ Không khí hối hả, tấp nập có vẻ trang nghiêm nhưng qua cách kể, cách nhìn của người tường thuật nó lại trở nên hài hước và mỉa mai.

Câu 5. Theo anh (chị), cách viết kí của Lê Hữu Trác có gì đặc sắc?

Trả lời:

– Cách viết kí của Lê Hữu Trác có sự kết hợp với nhiều hình thức nghệ thuật như du kí, nhật kí, hồi kí, kí phong cảnh,…

– Có nhiều chi tiết, sự việc được ghi chép một cách trung thực.

– Bộc lộ thái độ một cách kín đáo qua việc miêu tả khách quan.

– Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo; bút pháp tả cảnh sinh động.

– Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và việc.

– Giọng điệu châm biếm, phê phán một cách nhẹ nhàng, kín đáo.

– Kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm tạo sức hút, tăng giá trị hiện thực, gây ấn tượng sâu sắc về cảnh và người nơi phủ chúa.

LUYỆN TẬP

Câu hỏi. Anh chị hãy dựng lại hình tượng nhân vật Lê Hữu Trác qua đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (Bài tập chương trình nâng cao).

Gợi ý:

Qua đoạn trích có thể dựng lại hình tượng nhân vật Lê Hữu Trác như sau:

− Lê Hữu Trác – nhà văn, nhà thơ tài năng, khái quát được cảnh giàu sang của chúa khác hẳn người thường qua đoạn trích. Lời thơ pha một chút châm biếm, từ ngữ đăng đối, ý tứ sâu xa.

− Lê Hữu Trác – bậc túc nho, tính tình thâm trầm, hóm hỉnh, luôn mỉm một nụ cười kín đáo châm biếm chúa Trịnh.

− Lê Hữu Trác – một danh y từ tâm và am hiểu y lí sâu sắc. Quan niệm chữa bệnh của ông khác hẳn các danh y của hai cung, sáu viện.

– Vì y lí sâu sắc, lại có lòng từ tâm của một bậc danh y, nên ở Lê Hữu Trác có sự mâu thuẫn khó xử: nếu chữa chạy cho thế tử Cán khỏi bệnh, sẽ được chúa trọng dụng, nghĩa là bị giữ lại trong cung không được về với núi xưa vườn cũ, nhưng nếu không hết lòng vì con bệnh thì trái với đạo đức của bậc lương y. Cuối cùng, y đức thắng sở thích ẩn dật của bậc trí ẩn. Lê Hữu Trác đành phải tận tâm chữa bệnh cho thế tử Cán. Chỉ tiếc rằng, chúa và những kẻ “quân sư” cho chúa không dám dùng phương thuốc của ông.

C – Kiến thức mở rộng

1. Ghi nhớ

Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh mang giá trị hiện thực sâu sắc. Bằng tài quan sát tinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, sắc sảo, tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời cũng bộc lộ thái độ coi thường danh lợi.

2. Ý nghĩa

Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo.

Bức tranh chân thực, sinh động về cuộc sống xa hoa đầy quyền uy nơi phủ chúa Trịnh và thái độ, tâm trạng của nhân vật “tôi” khi vào phủ chúa Trịnh chữa bệnh cho Trịnh Cán.

– Vẻ đẹp  tâm  hồn  của  Hải  Thượng  Lãn  Ông:  lương  y,  nhà  nho  thanh  cao,  coi thường danh lợi.

– Những nét đặc sắc của bút pháp kí sự: tài quan sát, miêu tảsinh động những sự việc có thật; lối kểchuyện lôi cuốn, hấp dẫn; chọn lựa chi tiết đặc sắc, đan xen văn xuôi và thơ.

Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh phản ánh quyền lực to lớn của Trịnh Sâm, cuộc sống xa hoa hưởng lạc trong phủ chúa, đồng thời bày tỏ thái độ coi thường danh lợi, quyền quý của tác giả.

3. Giá trị nội dung và nghệ thuật

* Giá trị nội dung

– Đoạn trích mang giá trị hiện thực sâu sắc

+ Cuộc sống sa hoa, quyền quý của chúa Trịnh và tầng lớp quan lại thực dân. Sự sa hoa trong cách bày trí, kiến trúc, nội thất ở đây hoàn toàn đối lập với sự nghèo đói, thiếu thốn, khổ cực của nhân dân ở ngoài kia.

+ Bộ máy quan lại, guồng máy phục vụ đông đúc, tấp nập với những nghi lễ kì lạ, sự kiểm soát nghiêm ngặt và những phép tắc , quy củ ngặt nghèo, ngay cả với việc khám bệnh cho thế tử.

+ Cuộc sống ăn chơi, trụy lạc, sa đọa dẫn tới bện tật của cha con chúa Trịnh Sâm, Trịnh Cán được hiện lên rõ nét chỉ bằng một vài chi tiết miêu tả của tác giả.

– Hình ảnh của người thầy thuốc Lê Hữu Trác.

+ Thờ ơ, dửng dưng thậm chí là châm biếm, mỉa mai với cuộc sống sa hoa, giàu sang quyền quý trong phủ Chúa. Đồng thời cũng cho ta thấy được ông là một con người coi thường danh lợi, không để vinh hoa phú quý, tiền tài công danh ràng buộc.

+ Là một người thầy thuốc giỏi, có lương y, có đạo đức cao cả: ông bắt được ngay bệnh của chúa Trịnh Cán và có cách chữa trị từ cội nguồn, gốc rễ của bệnh. Dù biết có thể sẽ bị vướng chân vào vòng danh lợi nhưng lương tâm của người thầy thuốc không cho phép ông chữa bệnh theo cách cầm chừng, vô thưởng, vô phạt.

+ Là người cương trực, thẳng thắn, bảo vệ quan điểm, ý kiến của mình mặc dù ý kiến ấy không đồng thuật với số đông ý kiến của các lương y trong phủ Chúa lúc bấy giờ và cả chính quan Chánh đường, người đã tiến cử ông.

=> Quan điểm sống nhàn nhã, ẩn dật, thanh đạm để giữ mình trong sạch, không bị tiền tài, giàu sang phú quý ràng buộc của Lê Hữu Trác hoàn toàn đối lập với cuộc sống sa hoa, trụy lạc trong phủ Chúa.

* Giá trị nghệ thuật

– Tài quan sát tinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, sắc sảo đã dựng nên bức tranh phủ chúa với hiện thực cuộc sống vô cùng sinh động.

– Tác giả đã lựa chọn khắc họa những chi tiết đặc sắc tạo nên cái thần của cảnh vật. Những chi tiết đắt giá ấy đã giúp cho người đọc hình dung ngay về hiện thực, nhân vật mà tác giả đang nói tới.

– Sự đang xen thơ vào trong tác phẩm làm cho bài kí của ông đậm chất trữ tình.

Nguồn:Tổng Hợp