Hướng dẫn bài soạn “Phong cách ngôn ngữ chính luận (tiếp theo)” ngắn gọn, súc tích

Nội dung bài Soạn bài Phong cách ngôn ngữ chính luận (tiếp theo) sgk Ngữ văn 11 tập 2 bao gồm đầy đủ bài soạn, tóm tắt, miêu tả, phân tích, cảm nhận, thuyết minh, nghị luận,… đầy đủ các bài văn lớp 11 hay nhất, giúp các em học tốt môn Ngữ văn và ôn thi THPT Quốc gia.

Bài soạn “Phong cách ngôn ngữ chính luận (tiếp theo)” số 1

1. Các phương tiện diễn đạt

Qua việc tìm hiểu các trích đoạn văn bản chính luận ở tiết học trước, có thể rút ra một số nhận xét về các phương tiện diễn đạt của phong cách ngôn ngữ chính luận như sau:

a) Về từ ngữ

Văn bản chính luận sử dụng ngôn ngữ thông thường nhưng có khá nhiều từ ngữ chính trị: độc lập, đồng bào, bình đẳng, tự do, quyền lợi, phát xít, thực dân, kháng chiến, thống nhất, công bằng, dân chủ, đa số, thiểu số,…

Nhiều từ ngữ chính trị có nguồn gốc từ văn bản chính luận, nhưng được dùng rộng khắp trong sinh hoạt chính trị nên chúng đã thấm vào lớp từ thông dụng, đến mức người dân dùng quen thuộc, không còn quan niệm đó là từ ngữ lí luận nữa. Ví dụ: đa số, thiểu số, phát xít, dân chủ, bình đẳng, tự do,…

b) Về ngữ pháp

Câu văn trong văn bản chính luận thường là câu có kết cấu chuẩn mực, gắn với những phán đoán logic trong một hệ thống lập luận, cấu trước liên kết với câu sau, câu sau nối tiếp câu trước trong một mạch suy luận. Ví dụ (xem them các đoạn trích ở tiết trước):

– […] Đó là những lẻ phải không ai chối cãi được.

(Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)

– […] Có thể nói là quân Pháp ở Đông Dương đã không kháng chiến và công cuộc kháng chiến ở Đông Dương là công cuộc duy nhất của nhân dân ta.

(Trường Chinh, Cao trào chống Nhật, cứu nước)

– […] Xuân mới, thế và lực mới, chúng ta tự tin đi tới!

(Việt Nam đi tới, theo báo Quân đội nhân dân, số Tết 2004)

Các văn bản chính luận thường dùng những câu phức hợp có những từ ngữ liên kết như: do vậy, bởi thế, cho nên, vì lẽ đó…; tuy… nhưng; dù … nhưng… để phục vụ cho lập luận được chặt chẽ.

c) Về biện pháp tu từ

Ngôn ngữ chính luận không phải lúc nào cũng mang tính công thức, ước lệ, khô khan. Ngược lại, nó có thể rất sinh động do sử dụng khá nhiều các biện pháp tu từ.

Ví dụ:

– Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

(Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)

– […] Khắp non sông Việt nam đang bừng dậy một sinh khí mới. Sinh khí ấy đang biểu hiện trên khuôn mặt từng người dân, trong từng thôn bản, ngõ phố, trên từng cánh đồng, công trường, trong từng viện nghiên cứu, trên cá chốt tiền tiêu đầu sóng ngọn gió,…

(Việt Nam đi tới, theo báo Quân đội nhân dân, số Tết 2004)

– Đất nước đang căng tràn sức xuân trong ý chí và khát vọng vươn tới của 80 triệu người con đất Việt, Nguồn sinh lực mới được kết tụ và nhân lên trong xuân Giáp Thân đang hứa hẹn tạo ra một sức băng lướt mới trên con đường dài xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

(Việt Nam đi tới, theo báo Quân đội nhân dân, số Tết 2004)

Tuy vậy, việc dùng các biện pháp tu từ chỉ giúp cho lí lẽ, lập luận thêm hấp dân vì đích của văn bản chính luận là thuyết phục người đọc, người nghe bằng lí lẽ và lập luận.

Ở dạng nói (khẩu ngữ), ngôn ngữ chính luận chú trọng đến cách phát âm, người nói phải diễn đạt sao cho khúc chiết, rõ ràng, mạch lạc. Trong trường hợp cần thiết (ví dụ: hô hào, kêu gọi hoặc tranh biện) thì ngữ điệu đóng một vai trò quan trọng để thu hút người nghe. Những diễn giả tài năng sử dụng giọng điệu như một phương tiện quan trọng để thuyết phục thính giả.

2. Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận

Từ những nhận xét về ngôn ngữ chính luận nói trên, có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ chính luận gồm:

a) Tính công khai về quan điểm chính trị

Tuy đề tài của văn bản chính luận là những vấn đề thời sự trong cuộc sống, nhưng ngôn từ chính luận không chỉ có chức năng thông tin một cách khách quan mà phải thể hiện đường lối, quan điểm, thái độ chính trị của người viết (hay nói) một cách công khai, dứt khoát, không che giấu, úp mở.

Chẳng hạn ở bài bình luận thời sự Cao trào chống Nhật, cứu nước, ngay từ những dòng đầu tiên, tác giả đã khẳng định kẻ thù của cách mạng lúc đó là phát xít Nhật, và ta phải phát động cao trào chống Nhật, không còn hi vọng mơ hồ rằng người Pháp sẽ là đồng minh chống Nhật (lúc đó thực dân Pháp ở Đông Dương là lực lượng đồng mình chống phát xít). Thái độ chính trị thể hiện rõ ràng qua lời lẽ phê phán nghiêm khắc : hạ sũngin hàng, nhằm biên giới cắm đầu chạy, bỏ ta chạy,… và cả trong kết luận: Có thể nói là quân Pháp ở Đông Dương đã không kháng chiến và công cuộc kháng chiến ở Đông Dương là công cuộc duy nhất của nhân dân ta.

Từ ngữ sử dụng trong văn bản chính luận phải được cân nhắc kĩ càng, đặc biệt là những từ ngữ thể hiện lập trường, quan điểm chính trị. (Xem Tuyên ngôn Độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến,…). Người viết tránh dùng những từ ngữ mơ hồ, không thể hiện thái độ chính trị rõ ràng, dứt khoát, tránh những câu nhiều ý làm người đọc lẫn lộn quan điểm, lập trường, chính kiến.

b) Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận

Nói chung, trừ nhưng lời phát biểu đơn lẽ, phong cách chính luận thể hiện tính chặt chẽ của hệ thống lập luận. Có thể thấy cách diễn đạt có giá trị lập luận, thiên về khẳng định trong văn bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ những luận cứ được mọi người thừa nhận, tác giả khẳng định : “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”, tiếp đó, tác giả đưa ra những luận chứng lịch sử để đi đến luận điểm khẳng định quyền độc lập của nước Việt Nam. Đó là một hệ thống luận điểm chặt chẽ, trong đó từng ý, từng câu, từng đoạn được phối hợp với nhau một cách hài hòa, mạch lạc. Ta hiểu vì sao văn chính luận thường dùng nhiều từ ngữ liên kết như: để, mà, với, và, tuy, nhưng, do đó mà, bởi vậy,…

c) Tính truyền cảm, thuyết phục

Ngôn ngữ chính luận là công cụ để trình bày, thuyết phục, tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc (người nghe).

Ngoài giá trị lập luận, văn bản chính luận còn thể hiện giá trị ở giọng văn hùng hồn, tha thiết, bộc lộ nhiệt tình của người viết. Đặc biệt, trong những cuộc tranh luận, diễn thuyết thì ngữ điệu, giọng nói được coi là phương tiện quan trọng hỗ trợ cho lí lẽ, ngôn từ.

Viết văn chính luận cũng như trình bày, diễn thuyết trước công chúng là cả một nghệ thuật – nghệ thuật hùng biện – thể hiện cá tính sáng tác tạo của người trình bày. Vì vậy, trong các tác phẩm chính luận đã hình thành những phong cách khác nhau. Có thể thấy văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị, dễ hiểu mà thấm thía sâu sắc, mộc mạc mà khúc chiết, hùng hồn ; văn chính luận của Phạm Văn Đồng gãy gọn, đanh thép ; văn chính luận của Trường Chinh nhiều tầng bậc mà sáng tỏ, mạch lạc,…

Tóm lại, ngôn ngữ chính luận ở nước ta rất phát triển và đã hình thành một phong cách ngôn ngữ độc lập với ba đặc trưng chủ yếu : tính công khai về quan điểm chính trị ; tính chặt chẽ trogn diễn đạt và suy luận ; tính truyền cảm, thuyết phục.

Cái đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận thể hiện tính chất trung gian giữa ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ khoa học. Phong cách ngôn ngữ chính luận có ảnh hưởng đến các phong cách ngôn ngữ khác và góp phần vào sự phát triển của tiếng Việt.

LUYỆN TẬP

1. Câu 1 trang 108 Ngữ văn 11 tập 2

Chỉ ra biện pháp tu từ trong đoạn văn chính luận sau:

Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuồng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chông thực dân pháp cứu nước.

(Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến)

Trả lời:

Biện pháp tu từ trong đoạn trích:

– Biện pháp điệp ngữ kết hợp với điệp cấu trúc cú pháp: ai có… dùng.

– Biện pháp liệt kê: súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc.

– Câu văn giàu nhịp điệu, giọng văn dứt khoát, thúc giục.

2. Câu 2 trang 108 Ngữ văn 11 tập 2

Viết một đề cương bài nói để chứng minh cho câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt nam có bước tới đài vinh quan để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.

(Hồ Chí Minh, Thư gửi các học sinh)

Trả lời:

Đề cương bài nói chứng minh câu nói của Hồ Chí Minh: Non sông… của các em.

– Ở thời đại nào, thanh niên cũng là lực lượng quan trọng đối với nước nhà:

+ Thời chiến: thanh niên là lực lượng đông đảo và sung sức, sáng tạo trên mặt trận, trong sản xuất. (Ví dụ: thời chống Pháp, chống Mĩ).

+ Thời bình: thanh niên là nguồn nhân lực chính để xây dựng, kiến thiết đất nước.

+ Từ trung đại đến hiện đại: thời nào thanh niên cũng là lực lượng chính trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

– Sức mạnh và phẩm chất đáng quý của lực lượng thanh niên:

+ Sức trẻ mạnh mẽ, dẻo dai.

+ Dễ dàng tiếp thu cái mới, cái tiến bộ và có sức sáng tạo dồi dào.

+ Có lí tưởng, ý chí và khát vọng mãnh liệt.

– Vai trò của thanh niên, học sinh: trụ cột của đất nước.

3. Câu 3 trang 108 Ngữ văn 11 tập 2

Viết một đoạn văn để chứng minh nhận định sau: Lòng yêu nước bắt nguồn từ tình yêu những người thân, yêu nơi chôn nhau cắt rốn với những kỉ niệm tuổi thơ không bao giờ quên.

Trả lời:

Lòng yêu nước có thể hội tụ trong mỗi người bằng nhiều con đường khác nhau. Đó là sự tiếp nối truyền thống lâu đời của ông cha, là bài học rút ra từ sách vở từ chương nhưng gần gũi nhất, tình cảm ấy còn bắt nguồn từ tình yêu những người thân, yêu nơi chôn rau cắt rốn với những kỉ niệm tuổi thơ không bao giờ quên. Yêu người thân là yêu những người máu mủ ruột già trong gia đình như ông bà, cha mẹ, anh chị em. Cái nôi gia đình thổi vào tâm hồn mỗi người một tình cảm gắn bó tự nhiên trên cơ sở huyết thống và sự gần gũi, cộng sinh, cộng cảm. Yêu nơi chôn rau cắt rốn là yêu những con đường, những dòng sông, những cánh đồng, những phố phường… bất kì nơi nào đã trở thành nơi ta sinh ra và có những kỉ niệm thời thơ ấu. Những sợi dây tình cảm nhỏ bé nhưng sâu sắc, bền chặt không gì có thể chia cắt hay xóa nhòa ấy là cốt lõi hình thành tình cảm lớn lao, đó là tình yêu đất nước. Đến một lúc nào đó, tình yêu nước sẽ trở thành hành động bảo vệ, dựng xây đất nước mạnh mẽ, kiên quyết và đáng tự hào ở mỗi công dân.

 

Bài soạn “Phong cách ngôn ngữ chính luận (tiếp theo)” số 2

1. Các phương tiện diễn đạt

a) Về từ ngữ

Sử dụng ngôn ngữ thông thường nhưng có nhiều từ ngữ chính trị.

b) Về ngữ pháp

VD1:

(1) Đảng ta là Đảng lãnh đạo. Đảng ta cần phải mạnh mẽ, trong sạch.

(2) Là một đảng lãnh đạo, Đảng ta / cần phải mạnh mẽ, trong sạch.

              Tr.N                      CN                   VN

VD2:

(1) Chúng tôi là chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố …

(2) Chúng tôi, chính phủ …, trịnh trọng tuyên bố …

       CN          Chú thích                VN

–> Câu thường có kết cấu chuẩn mực gần với kiểu câu phán đoán lôgic trong hệ thống lập luận (câu trước gợi câu sau…) các câu lkết với nhau một cách chặt chẽ.

– Thường sử dụng kiểu câu phức hợp dùng từ ngữ liên kết: Do vậy, bởi thế, cho nên, vì lẽ đã…

– Kiểu câu ghép chính phụ với nhiều mối quan hệ (nguyên nhân kết quả, nhượng bộ tăng tiến, phương tiện mục đích).

c) Về biện pháp tu từ

– Sử dụng biện pháp tu từ khá nhiều giúp lí lẽ lập luận thêm phần hấp dẫn (không phải là mục đích chủ yếu).

– Ở dạng nói: chú trọng đến phát âm, đến cách diễn đạt có khi cả ngữ điệu.

2. Đặc trưng của Phong cách ngôn ngữ chính luận

a) Tính công khai về quan điểm chính trị

– Tính công khai về quan điểm chính trị: rõ ràng, công khai về quan điểm, không mơ hồ, úp mở.

– Tránh sử dụng từ ngữ mơ hồ, câu nhiều ý, dễ làm người đọc (nghe) nhầm lẫn quan điểm.

b) Tính chặt chẽ trong biểu đạt và suy luận

Luận điểm, luận cứ, ý lớn, ý nhỏ, câu, đoạn phải rõ ràng, rành mạch.

c) Tính truyền cảm và thuyết phục

– Mục đích: hấp dẫn, lôi cuốn, để thuyết phục.

– Thể hiện: hùng hồn, tha thiết, thể hiện nhiệt tình và sáng tạo của người viết.

III. LUYỆN TẬP

Câu 1: Biện pháp tu từ trong đoạn văn chính luận là:

– Điệp ngữ: Ai có… dùng ….

– Liệt kê: súng, gươm, cuốc, thuồng, gậy gộc (Cách liệt kê giáng bậc, từ lớn đến nhỏ, từ vũ khí đến dụng cụ thô sơ).

– Ngắt đoạn câu phối hợp với các phép tu từ trên tạo cho đoạn văn có giọng điệu dứt khoát và mạnh mẽ.

Câu 2: Viết một đề cương bài nói chứng minh câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích “Thư gửi học sinh“:

Non sông Việt Nam có trở lên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cuơng quốc năm châu được hay không, chính nhờ một phần lớn ở công họ tập của các em.

Gợi ý:

Có thể nêu một số ý sau để chứng minh câu nói của Hồ CHí Minh:

a. Luận cứ: Ở thời điểm nào thì thanh niên cũng gánh vác nhiệm vụ quan trọng của đất nước, thanh niên là rường cột của nước nhà, là người chủ tương lai của đất nước. Thanh niên có sức khỏe, có ý chí, có khát khao dấn thân và cống hiến, có sáng tạo. Đó là những phẩm chất làm nên sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.

b. Các luận chứng:

– Thế hệ thanh niên trong cuộc Cách mạng tháng Tám đã gánh vác sứ mệnh thiêng liêng giải phóng dân tộc như thế nào?

– Thế hệ thanh niên trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đã anh dũng chiến đấu, chịu muôn vàn gian khó và thậm chí nhiều người đã hi sinh cho nền độc lập của nước nhà.

– Thế hệ thanh niên ngày nay đã làm được gì để góp sức vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, hội nhập với thế giới.

c. Thanh niên (trong đó phần lớn là học sinh) cần xác định nhiệm vụ là phải học tập để xây dựng đát nước sánh vai với các nước văn minh, tiến bộ.

Câu 3: Viết một đoạn văn chứng minh nhận định sau: Lòng yêu nước bắt nguồn từ tình yêu những người thân, yêu nơi chôn nhau cắt rốn với những kỉ niệm tuổi thơ không bao giờ quên.

Có thể dựa vào các ý sau để viết đoạn văn:

– Tình cảm yêu nước không phải tự nhiên sinh ra là đã có sẵn hoặc không phải do nhận thức lí trí, trừu tượng mà có.

– Tình yêu nước ở mỗi người bắt đầu từ những tình cảm nhỏ bé: đó là tình yêu với những người thân yêu, ruột thịt (ông bà, cha mẹ, anh chị, …); tình yêu đối với làng quê, những con phố nhỏ, nơi chôn rau cắt rốn.

– Tình cảm “nhỏ bé” đó phát triển đến độ sâu sắc, thiết tha trở thành một thứ tình cảm tình thiêng liêng, luôn thường trực trong mỗi con người.

– Yêu nước phải gắn với ý thức về nghĩa vụ bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước. Đó là cơ sở tạo nên tình cảm lớn: Lòng yêu nước

 

Bài soạn “Phong cách ngôn ngữ chính luận (tiếp theo)” số 3

Bài 1: (SGK Ngữ văn 11 tập 2 trang 108)

Biện pháp tu từ trong đoạn văn chính luận là:

-Nghệ thuật điệp ngữ:Ai có… dùng ….⇒ khẳng định, nhấn mạnh vai trò của mỗi người trong sự nghiệp đấu tranh dân tộc

-Liệt kê, điệp: : súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc⇒ khẳng định chúng ta sẽ đánh địch bằng tất cả những gì mình có

– Ngắt câu dài-ngắn phối hợp với các phép tu từ trên tạo cho đoạn văn có giọng điệu dứt khoát và mạnh mẽ.

Bài 2: (SGK Ngữ văn 11 tập 2 trang 108)

Cần xác định vấn đề cụ thể cần chứng minh: Tầm quan trọng của học tập với thế hệ trẻ đối với sự phát triển của đất nước

Đề cương:

– Khẳng định tính đúng đắn trong câu nói của chủ tịch Hồ Chí Minh

– Chứng minh “công học tập” của học sinh ảnh hưởng đến tương lai đất nước:

   + Học tập nâng cao nhận thức và tầm hiểu biết, chỉ có sự hiểu biaats mới có thể giúp chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề phức tạp

   + Học tập giúp ta có đủ trình độ tiếp nhận, ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật tiến bộ trên thế giới

   + Học tập biến lí thuyết thành thực tiễn

   + Học tập giúp trẻ em trở thành những người có đạo đức, có nhân cách, biết ứng xử…

        – Dẫn chứng một số tấm gương học tập ngay từ nhỏ đem vinh quang về cho đất ngước: Đỗ Nhật Nam, các kì thi hsg quốc tế….

        – Bàn luận mở rộng vấn đề

        – Liên hệ bản thân và mọi người

Bài 3 (SGK Ngữ văn 11 tập 2 trang 108)

Có thể sẽ nhiều lúc, ta tự mặc định rằng yêu nước là phải làm được những gì thật lớn lao, vĩ đại cho đất nước, nhưng sự thật, yêu nước, chỉ đơn giản là chúng ta biết cách “yêu người thân”, “yêu nơi chôn rau cắt rốn…”. Yêu nước là yêu người thân, vì người thân trước hết là những người cùng đất nước, sâu sa hơn, đó là những người sinh ra, bên cạnh, thân thuộc nhất với ta: ông bà, bố mẹ, vợ chồng, con cháu…Chúng ta yêu người thân tức là chúng ta giữ cho mái ấm gia đình hạnh phúc. Đất nước bình yên hạnh phúc thì lại được tạo ra từ những mái ấm bình yên như thế. Yêu “nới chôn rau cắt rốn” là yêu nước vì mỗi vùng quê nhỏ bé ta được sinh ra, ta sống, ta gắn bó hằng ngày là nới chứng kiến biết bao vui buồn của tuổi thơ ta, mỗi vùng đất quê hương dù nhỏ bé ấy cũng là một phần lãnh thổ của quốc gia rộng lớn. Những điều lớn lao luôn bắt nguồn từ những gì nhỏ nhặt bởi vậy, yêu đất nước, chỉ đơn giản trước hết là chúng ta yêu người thân và mảnh đất quê hương mình.

 

Bài soạn “Phong cách ngôn ngữ chính luận (tiếp theo)” số 4

Bài 1 (trang 108 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Biện pháp tu từ trong đoạn văn chính luận:

– Điệp ngữ: Ai có… dùng…

Liệt kê: súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc ( Cách liệt kê giáng bậc, từ lớn đến nhỏ, từ vũ khí đến dụng cụ thô sơ)

– Ngắt đoạn câu phối hợp với các phép tu từ tạo cho đoạn văn giọng điệu dứt khoát, mạnh mẽ

Bài 2 (trang 108 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Đề cương bài nói chứng minh câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thư gửi học sinh”

Có thể trình bày một số luận điểm và luận cứ:

– Ở thời điểm nào thì thanh niên cũng đóng góp, gánh vác trách nhiệm với đất nước

– Thanh niên là thế hệ trẻ, trụ cột của nước nhà

– Thanh niên có sức khỏe, có ý chí, có khao khát dấn thân, cống hiến, sáng tạo

→ Những phẩm chất cần có của con người trong thời đại mới

Luận chứng:

Thanh niên trong cuộc Cách mạng tháng Tám gánh trên vai sứ mệnh giải phóng dân tộc

– Thanh niên thời kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ anh dũng chiến đấu, chịu nhiều khó khăn, thậm chí nhiều người hi sinh tuổi trẻ, tính mạng cho vận mệnh dân tộc

– Thế hệ thanh niên ngày nay ra sức học tập, góp phần xây dựng xã hội chủ nghĩa, trong thời kì hội nhập

c, Thanh niên cần xác định nhiệm vụ, phải học tập, rèn luyện để dựng xây đất nước giàu mạnh, tiến bộ

Bài 3 (Trang 108 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Viết đoạn văn:

Tình yêu nước cũng gắn bó, gần gũi và bắt nguồn từ những điều bình dị, thân thuộc “Lòng yêu nước bắt nguồn từ tình yêu người thân, yêu nơi chôn rau cắt rốn với những kỉ niệm tuổi thơ không bao giờ quên”. Tình yêu nước không phải điều gì xa lạ, lớn lao, mà nó xuất phát, hình thành từ chính tình thân: tình yêu thương cha mẹ, ông bà, anh chị em, tình cảm gia đình là nguồn cội để xây đắp tình yêu nước.

Tình yêu nước còn bắt nguồn và hợp thành từ tình cảm với quê hương, với nơi mình sinh ra và lớn lên. Bởi lẽ, sự gắn bó trong từng hơi thở, hoạt động, quê hương là nơi nuôi dưỡng ta, vì thế yêu quê hương, yêu nơi chôn rau cắt rốn cũng chính là yêu nước. Từ nguồn tình cảm nhỏ bé, bình dị, thiết tha đó đã hợp thành tình cảm thiêng liêng luôn chan chứa, thường trực trong mỗi con người.

Yêu nước luôn gắn với ý thức về nghĩa vụ bảo vệ, xây dựng, tạo nền tảng vững chắc hình thành tình yêu nước, yêu tổ quốc.

 

Bài soạn “Phong cách ngôn ngữ chính luận (tiếp theo)” số 5

Câu 1. Chỉ ra biện pháp tu từ trong đoạn văn chính luận sau:

Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

(Hồ Chí Minh – Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến)

Trả lời:

Đoạn văn trên có sử dụng các biện pháp tu từ:

– Điệp ngữ kết hợp với điệp câu: Ai có… dùng…

– Liệt kê ngắn: gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc.

– Ngắt đoạn câu (nhịp điệu) phối hợp với các phép tu từ trên tạo cho đoạn văn có giọng điệu dứt khoát và mạnh mẽ.

Câu 2Viết một đề cương bài nói để chứng minh cho câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

 Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.

(Hồ Chí Minh – Thư gửi các học sinh)

Trả lời:

Có thể nêu một số ý sau để chứng minh câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

* Luận cứ:Ở thời điểm nào thì thanh niên cũng gánh vác nhiệm vụ quan trọng của đất nước, thanh niên là rường cột của nước nhà, là người chủ tương lai của đất nước. Thanh niên có sức khoẻ, có ý chí, có khát khao dấn thân và cống hiến, có sáng tạo. Đó là những phẩm chất làm nên sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.

* Các luận chứng:

–  Thế hệ thanh niên trong cuộc Cách mạng tháng Tám đã gánh vác sứ mệnh thiêng liêng giải phóng dân tộc như thế nào?

– Thế hệ thanh niên trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mĩ đã anh dũng chiến đấu, chịu muôn vàn gian khó và thậm chí nhiều người đã hi sinh cho nền độc lập của nước nhà.

– Thế hệ thanh niên ngày nay đã làm được gì để góp sức vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, hội nhập với thế giới.

* Thanh niên (trong đó phần lớn là học sinh) cần xác định nhiệm vụ là phải học tập để xây dựng đất nước sánh vai với các nước văn minh, tiến bộ.

Câu 3. Viết một đoạn văn để chứng minh nhận định sau:

Lòng yêu nước bắt nguồn từ tình yêu những người thân, yêu nơi chôn nhau cắt rốn với những kỉ niệm tuổi thơ không bao giờ quên.

Trả lời:

Các ý chính có thể nêu trong đoạn văn:

– Lòng yêu nước có thể được giáo dục từ truyền thống, nhưng cũng bắt nguồn từ những tình cảm thiết thực, “nhỏ bé”, đó là:

+ Tình yêu đối với những người thân yêu, ruột thịt: cha mẹ, ông bà, anh chị em,…

+ Tình yêu đối với làng quê, với những con phố nhỏ, nơi chôn nhau cắt rốn, tình yêu đối với những kỉ niệm ấu thơ.

– Từ tình cảm cụ thể và “nhỏ bé” nhưng sâu sắc, thiết tha, lòng yêu nước được hình thành và trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng, gần gũi và luôn thường trực trong mỗi con người.

– Yêu nước phải gắn với việc bảo vệ và xây dựng đất nước.

—TỔNG KẾT—

  • Phong cách ngôn ngữ chính luận có ba đặc trưng cơ bản: tính công khai về quan điểm chính trị; tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận; tính truyền cảm, thuyết phục. Các đặc trưng đó được thể hiện ở những phương tiện diễn đạt nhằm đạt mục đích trình bày ý kiến hoặc bình luận, đánh giá vấn đề theo một quan điểm chính trị nhất định.

Nguồn: Tổng Hợp