Hướng dẫn bài soạn “Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)” chi tiết đầy đủ nhất

Vũ Trọng Phụng được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc”. Các tác phẩm của ông đều phản ánh chân thực xã hội Việt Nam đương thời. Trong đó đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia  (trích tiểu thuyết Số đỏ) sẽ được tìm hiểu trong chương trình Ngữ Văn lớp 11

Soạn văn Hạnh phúc của một tang gia – số 1

I. Tác giả

– Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) sinh tại Hà Nội, trong một gia đình nghèo.

– Ông quê ở làng Hảo (huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).

– Sau khi tốt nghiệp tiểu học, Vũ Trọng Phụng đi làm kiếm sống nhưng chẳng được bao lâu thì mất việc. Từ đó, ông sống chật vật bằng nghề viết báo, viết văn chuyên nghiệp.

– Khoảng từ 1937 – 1938, ông mặc bệnh lao nhưng lại không có điều kiện để chữa chạy.

– Đến năm 1939, Vũ Trọng Phụng mất tại Hà Nội.

– Ông được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc” với những tác phẩm như:

  • Phóng sự: Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936).
  • Tiểu thuyết: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê (1936), Trúng số độc đắc (1938)…

– Các tác phẩm của ông toát lên niềm căm phẫn mãnh liệt cái xã hội đen tối, thối nát đương thời.

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

– Đoạn trích thuộc chương XV của tiểu thuyết Số đỏ.

– Tiểu thuyết “Số đỏ” được đăng ở “Hà Nội báo” từ số 40 ngày 7 tháng 10 năm 1969 và in thành sách lần đầu năm 1938.

2. Tóm tắt

Sau ba ngày, cụ cố tổ chết thật. Cả bọn con cháu trong gia đình ấy vô cùng sung sướng. Mỗi người có một niềm vui riêng của mình. Đến gần một ngày rồi mà chưa phát phục. Đến khi Văn Minh hứa là sẽ tìm cách cho Tuyết lấy chồng một cách danh giá thì cụ cố Hồng mới cho phát phục. Bầy con cháu tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma…

Bảy giờ sáng hôm sau thì cất đám. Hai cảnh sát Min Đơ, Min Toa được thuê giữ trật tự cho đám. Tuyết mặc bộ đồ ngây thơ đi mời trầu. Đám ma theo cả lối Ta, Tàu, Tây. Có kiệu bát cống, có lợn quay đi lọng, có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa. Có lốc bốc xoảng, bu dích và vòng hoa. Khi đám ma đi được bốn phố khi vợ chồng, bà Phó Đoan và mấy người nữa đang lào xào phê bình thái độ của Xuân thì bỗng có sáu chiếc xe, trên có sư chùa Bà Banh, xe nào cũng che hai lọng xuất hiện. Hai vòng hoa đồ sộ, một của báo Gõ Mõ, một của Xuân len vào hàng đầu. Cậu tú Tân vội bấm máy. Cụ bà chạy lên sung sướng vì ông Đốc Xuân đã không giận mà lại giúp đáp phúng viếng đến thế. Bọn quan khách thì cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau…

Lúc hạ huyệt, cậu tú Tân bắt bẻ từng người một để chụp ảnh. Ông Phán mọc sừng, khóc to “Hứt! Hứt! Hứt!” nhưng lại bí mật dúi vào tay Xuân cái giấy bạc năm đồng gấp tư. Xuân Tóc Đỏ nắm lấy rồi đi tìm cụ Tăng Phú đang lạc trong đám ba trăm người đương buồn rầu và đau đớn về những điều sơ suất của khổ chủ.

3. Bố cục

Gồm 3 phần:

– Phần 1. Từ đầu đến “Tối hôm ấy, khách khứa đến hỏi thăm, phúng viếng, chia buồn tấp nập…”. Niềm hạnh phúc của những thành viên trong một gia đình có người chết.

– Phần 2. Tiếp theo đến “đám ma như kể đã là danh giá nhất tất cả”. Cảnh đám tang đầy lố bịch, hợm hĩnh nhưng không có tình người.

– Phần 3. Còn lại. Cảnh đoàn người lúc đưa tang và lúc hạ huyệt.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Niềm hạnh phúc của những thành viên trong một gia đình có người chết

– Niềm vui chung của gia đình: cái chết của cụ cố tổ đem lại lợi ích cho tất cả các thành viên trong gia đình.

– Niềm vui riêng của từng thành viên:

  • Cụ Hồng (con trai): nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mấu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: “Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa!”. Niềm sung sướng vì được diễn trò già yếu trước mắt mọi người.
  • Văn Minh (cháu trai): cái chúc thư kia sẽ vào thời kỳ thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa.
  • Bà Văn Minh (cháu dâu): mừng rỡ khi có dịp lăng xê những mốt trang phục mới của cửa hiệu.
  • Ông Phán mọc sừng (cháu rể): sung sướng khi được chia thêm một số tiền là vài nghìn đồng
  • Cô Tuyết (cháu gái): được mặc bộ trang phục ngây thơ để khoe với thiên hạ mình vẫn còn trong trắng.
  • Cậu Tú Tân (cháu trai): sung sướng vì có dịp sử dụng cái máy ảnh đã lâu không dùng đến.

– Niềm vui của những người ngoài gia đình:

  • Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa: sung sướng cực điểm, đã trông nom rất hết lòng – vì giữa lúc không có ai đáng phạt mà phạt, đương buồn rầu như những nhà buôn sắp vỡ nợ
  • Bạn bè cụ cố Hồng: đến dự đám tang nhưng thực chất là để khoe những danh hiệu.
  • Người dân trong phố: đám ma đi đến đâu huyên náo đến đấy, cả phố nhốn nháo khoe đám ma to, thiên hạ chỉ chú ý vào những kiểu quần áo tang…

2. Khung cảnh của một đám ma gương mẫu

* Cảnh đưa tang

– Tả bao quát đám ma khi đang đi trên đường:

  • Kết hợp theo cả lối Ta, Tàu, Tây.
  • Có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng và bú dích và vòng hoa, có đến ba trăm câu đối.
  • Vài trăm người đi đưa.
  • Cậu tú Tân chỉ huy, những nhà tài tử chụp ảnh đã thi nhau như ở hội chợ chậm chạp, nhốn nháo.

=> Một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không thì cũng phải gật gù cái đầu…

– Tả cận cảnh:

  • Ai cũng làm ra bộ mặt nghiêm chỉnh, nhưng sự thật là đang thì thầm với nhau chuyện về vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may…
  • Họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau, bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma..
  • Điệp ngữ: “đám cứ đi”:

* Cảnh hạ huyệt

– Cậu Tú Tân bắt bẻ từng người một, hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc còng lưng, hoặc lau mắt như thế này, như thế nọ… để cậu chụp ảnh kỷ niệm lúc hạ huyệt.

– Phán mọc sừng khóc to “Hứt!… Hứt!… Hứt!…” nhưng thực chất là dúi vào tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư.

=> Một màn hài kịch thể hiện sự lố lăng, vô cảm của lũ con cháu đại bất hiếu.

IV. Tổng kết

– Nội dung: Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng đã phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối, lối lăng và đồi bại của xã hội “thượng lưu” ở thành thị những năm trước Cách mạng.

– Nghệ thuật: nghệ thuật trào phúng, miêu tả tâm lí nhân vật…

Soạn văn Hạnh phúc của một tang gia – số 2

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Hạnh phúc của một tang gia là một phần của nhan đề chương XV tiểu thuyết Số đỏ do chính Vũ Trọng Phụng đặt. Anh chị có suy nghĩ gì về nhan đề này và tình huống trào phúng của đoạn trích.

– Hạnh phúc: trạng thái thuộc về tinh thần, là niềm vui sướng khi con người đạt được những mong muốn, mục tiêu trong cuộc sống.

– Tang gia: gia đình có người mất, gắn với trạng thái buồn bã, đau đớn.

=> “Hạnh phúc của một tang gia” đã nêu rõ một mâu thuẫn: gia đình có người mất mà lại cảm thấy hạnh phúc. Chính mâu thuẫn này đã trở thành tình huống trào phúng của đoạn trích. Tiếng cười bi hài được tạo ra không chỉ phê phán một gia đình trong truyện, mà còn phê phán cả xã hội lố lăng, kệch cỡm đương thời.

Câu 2. Vì sao cái chết của cụ cố tổ lại là niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên trong gia đình cụ? Phân tích những niềm hạnh phúc khác nhau của các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng và những người đến đưa đám ma do cái chết của cụ cố tổ đem lại.

* Cái chết của cụ cố tổ lại là niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên trong gia đình cụ vì: Cụ cố tổ qua đời có nghĩa di chúc sẽ được thực hành – con cháu trong gia đình sẽ được thừa kế gia sản.

* Phân tích:

– Niềm vui riêng của từng thành viên:

  • Cụ Hồng (con trai): nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mấu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: “Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa!”. Niềm sung sướng vì được diễn trò già yếu trước mắt mọi người.
  • Văn Minh (cháu trai): cái chúc thư kia sẽ vào thời kỳ thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa.
  • Bà Văn Minh (cháu dâu): mừng rỡ khi có dịp lăng xê những mốt trang phục mới của cửa hiệu.
  • Ông Phán mọc sừng (cháu rể): sung sướng khi được chia thêm một số tiền là vài nghìn đồng
  • Cô Tuyết (cháu gái): được mặc bộ trang phục ngây thơ để khoe với thiên hạ mình vẫn còn trong trắng.
  • Cậu Tú Tân (cháu trai): sung sướng vì có dịp sử dụng cái máy ảnh đã lâu không dùng đến.

– Niềm vui của những người ngoài gia đình:

  • Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa: sung sướng cực điểm, đã trông nom rất hết lòng – vì giữa lúc không có ai đáng phạt mà phạt, đương buồn rầu như những nhà buôn sắp vỡ nợ
  • Bạn bè cụ cố Hồng: đến dự đám tang nhưng thực chất là để khoe những danh hiệu.
  • Người dân trong phố: đám ma đi đến đâu huyên náo đến đấy, cả phố nhốn nháo khoe đám ma to, thiên hạ chỉ chú ý vào những kiểu quần áo tang…

Câu 3. Anh/chị hãy phân tích cảnh đám ma gương mẫu

* Cảnh đưa tang

– Tả bao quát đám ma khi đang đi trên đường:

  • Kết hợp theo cả lối Ta, Tàu, Tây.
  • Có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng và bú dích và vòng hoa, có đến ba trăm câu đối.
  • Vài trăm người đi đưa.
  • Cậu tú Tân chỉ huy, những nhà tài tử chụp ảnh đã thi nhau như ở hội chợ chậm chạp, nhốn nháo.

=> Một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không thì cũng phải gật gù cái đầu…

– Tả cận cảnh:

  • Ai cũng làm ra bộ mặt nghiêm chỉnh, nhưng sự thật là đang thì thầm với nhau chuyện về vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may…
  • Họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau, bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma.
  • Điệp ngữ: “đám cứ đi”:

* Cảnh hạ huyệt:

– Cậu Tú Tân bắt bẻ từng người một, hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc còng lưng, hoặc lau mắt như thế này, như thế nọ… để cậu chụp ảnh kỷ niệm lúc hạ huyệt.

– Phán mọc sừng khóc to “Hứt!… Hứt!… Hứt!…” nhưng thực chất là dúi vào tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư.

=> Một màn hài kịch thể hiện sự lố lăng, vô cảm của lũ con cháu đại bất hiếu.

Câu 4. Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem lại và cảnh tượng của “cái đám ma gương “mẫu”, anh chị nhận xét như thế nào về xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời? Thái độ của nhà văn đối với xã hội này ra sao?

– Xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời: một xã hội nhố nhăng, suy đồi khi những giá trị đạo đức truyền thống đang dần bị băng hoại.

– Thái độ của nhà văn đối với xã hội: đả kích, châm biếm những thói xấu xa trong xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời.

Câu 5. Anh/chị nhận xét gì về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng ở đoạn trích này?

– Xây dựng được mâu thuẫn trào phúng ấn tượng.

– Giọng điệu mỉa mai, chế giễu

– Các thủ pháp như: cường điệu, nói ngược…

II. Luyện tập

Hãy chỉ ra những mâu thuẫn và chân dung trào phúng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”.

Gợi ý:

– Mâu thuẫn trào phúng:

  • Nhan đề của đoạn trích: Hạnh phúc của một tang gia – sự sung sướng, vui vẻ có được từ sự mất mát, đau thương (cái chết của người thân).
  • Cái thật – cái giả: một cái chết thật dẫn đến một đám ma giả (cái chết của cụ cố tổ dần đến một đám ma to tát nhưng thiếu đi tình người), một đám ma giả dẫn đến một hạnh phúc thật (đằng sau những gương mặt đau đớn, tiếng khóc tha thiết là những tính toán về vật chất, quyền lợi).
  • Vật chất – tình cảm: đám ma long trọng, không thiếu một thứ gì mà chỉ thiếu đi cái quan trọng nhất là tình người.

– Chân dung trào phúng:

  • Cụ Hồng (con trai): nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mấu, để cho thiên hạ bình phẩm khen ngợi.
  • Cụ báo: chạy đôn chạy đáo để lo cưới chạy tang cho cô Tuyết, biết ơn Xuân – người vô tình gây ra cái chết cho bố chồng.
  • Văn Minh (cháu trai): cái chúc thư kia sẽ vào thời kỳ thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa, không biết xử trí Xuân ra sao.
  • Bà Văn Minh (cháu dâu): mừng rỡ khi có dịp lăng xê những mốt trang phục mới của cửa hiệu.
  • Ông Phán mọc sừng (cháu rể): sung sướng khi được chia thêm một số tiền là vài nghìn đồng.
  • Cô Tuyết (cháu gái): được mặc bộ trang phục ngây thơ để khoe với thiên hạ mình vẫn còn trong trắng, buồn rầu vì không thấy Xuân đâu.
  • Cậu Tú Tân (cháu trai): sung sướng vì có dịp sử dụng cái máy ảnh đã lâu không dùng đến.

=> Mỗi nhân vật đều có những nỗi niềm hạnh phúc riêng, đều đáng mỉa mai.

 

Soạn văn Hạnh phúc của một tang gia – số 3

Đọc – hiểu

Bài 1 trang 128

Hạnh phúc của một tang gia là một phần của nhan đề chương XV tiểu thuyết Số đỏ do chính Vũ Trọng Phụng đặt. Anh (chị) có suy nghĩ gì về nhan đề này và tình huống trào phúng của đoạn trích?

Trả lời:

– Cách đặt tên nhan đề rất lạ, gây cảm giác tò mò, chú ý cho người đọc và cũng thể hiện một nghịch lí nực cười: trong tang gia mà lại có hạnh phúc.

– Mâu thuẫn trào phúng cơ bản nằm ngay trong nhan đề. Đám con cháu vô cùng hạnh phúc trước cái chết của cụ Tổ vì họ đã phải chờ đợi quá lâu. Cụ cố Tổ mất đi đối với con cháu này lại là một niềm sung sướng vì chúng sẽ được hưởng gia tài.

 

– Trong đoạn trích này, tác giả cũng dựng nên bối cảnh của một tang gia bối rối; chẳng những bối rối mà còn rất lo lắng và bận rộn. Nhưng nghịch lí lại tiếp tục được bộc lộ khi lo lắng, bận rộn không phải cho một đám ma mà là lo tổ chức cho chu đáo, linh đình một ngày vui, một đám hội. Như vậy, cách đặt tiêu đề vừa gây chú ý cho người đọc, vừa phản ánh đúng một sự thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn.

Bài 2 trang 128

Vì sao cái chết của cụ cố tổ lại là niềm hạnh phúc của mọi thành viên trong gia đình cụ? Phân tích những niềm hạnh phúc khác nhau của mỗi người trong đại gia đình cụ cố Hồng và những người đến đưa đám ma do cái chết của cụ cố tổ đem lại.

Trả lời:

Cái chết của cụ cố tổ lại là niềm hạnh phúc của mọi thành viên trong gia đình cụ vì nó đồng nghĩa với việc tờ di chúc của cụ đã tới lúc được thực thi, con cháu sẽ được hưởng gia tài.

* Niềm hạnh phúc của mỗi thành viên:

– Cụ cố Hồng:

+ Tuy 50 tuổi nhưng lâu nay chỉ mơ ước được gọi là cụ cố.

+ Dịp may đã tới, cụ nhắm nghiền mắt nghĩ đến lúc được mặc áo xô gai.

+ Lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu máo diễn trò già nua, ốm yếu giữa phố đông người để cho thiên hạ phải trầm trồ

=> Nhân vật này điển hình cho loại người ngu dốt, háo danh.

– Văn Minh – nhà cải cách y phục Âu hóa “phân vân”, “đăm đăm chiêu chiêu”, “vò đầu rứt tóc” nhưng không phải vì cái chết của cụ cố tổ mà là làm thế nào để cái chúc thư kia sớm đi vào thời kì thực hành và xử trí với Xuân Tóc Đỏ ra sao khi hắn có “hai cái tội nhỏ” nhưng “một cái ơn to”.

=> Đây là cơ hội để ông quảng cáo hàng, để kiếm tiền.

– Bà Văn Minh được mặc đồ xô gai tân thời và được dịp lăng-xê những mốt y phục táo bạo nhất.

– Cô Tuyết được dịp “mặc bộ y phục ngây thơ, xinh xinh” đồng thời “trên mặt lại hơi có một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám“.

– Ông Phán mọc sừng cũng thật sự sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị đến thế và ông tin chắc rằng mình sẽ được trả công xứng đáng.

  • Xuân tóc đỏ thì danh giá và uy tín càng cao vì chính nhờ hắn mà cụ cố tổ chết

* “Niềm hạnh phúc” còn lây ra cả những người ngoài tang quyến

– Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa đang lúc thất nghiệp thì được thuê giữ trật tự cho đám tang, đã “sung sướng cực điểm”.

– Xã hội trưởng giả bè bạn cụ cố Hồng được dịp khoe các thứ huy chương, phẩm hàm

– Sư cụ Tăng Phú thì “sung sướng mà vênh váo” vì tin chắc rằng trong số thiên hạ đứng xem ở các phố thế nào cũng có người nhận ra rằng “sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo”.

=> Chi tiết hài hước: Ông sư này không đến làm lễ mà để thiên hạ nhận ra mình với thành tích: đánh đổ Hội Phật giáo.

=> Mỗi người đều có những niềm hạnh phúc riêng, nhưng bọn chúng chỉ hành động như những kẻ bất hiếu. Qua đây phê phán những kẻ lố lăng đồi bại và có những hành động không có nhân tính và toàn những kẻ bất hiếu.

Bài 3 trang 128

Anh (chị) hãy phân tích cảnh “đám ma gương mẫu”.

Trả lời:

– Toàn cảnh đám tang khiến cho người đọc hình dung được sự nhốn nháo, pha tạp Tây Tàu của đám tang. Nó làm lộ rõ vẻ học đòi vô học và rởm đời của tang chủ:

+ Đủ cả kèn ta, kèn tây, kèn tàu.

+ Hàng trăm câu đối, vòng hoa, bức trướng.

– Y phục, tâm trạng và hành động của các nhân vật là con cháu trong tang gia và bè bạn của người chết,… mâu thuẫn với ý nghĩa của đám tang.

– Khi miêu tả cận cảnh, tác giả chú ý đến những hành động, những lời bàn tán thầm thì của những người đi đưa đám. Những câu chuyện chẳng liên quan gì đến người chết.

– Nhà văn đã lặp lại điệp khúc “Đám cứ đi…”. Điệp khúc này có ý nghĩa châm biếm, hài hước. Một đám ma hỗn độn và hài hước, pha tạp đủ thứ, học đòi đủ kiểu để khoe khoang. Xe chở người chết cứ đi, người đưa cứ chim chuột nhau, con cháu cứ hưởng thụ niềm hạnh phúc sung sướng của mình. Mỗi người một tâm lí, một mục đích khác nhau, hội tụ lại để thực hiện “nghĩa tử là nghĩa tận” với người chết. Điểm nổi bật nhất và chung nhất của đám người này là sự giả dối, thói đạo đức giả.

=> Cảnh đưa đám có vẻ ngoài long trọng nhưng chẳng khác gì một đám rước lố lăng, vô văn hóa của những con người vô đạo đức.

– Đỉnh cao của đám ma là cảnh hạ huyệt:

+ Cậu tú Tân bắt bẻ mọi người tạo dáng để chụp ảnh kỉ niệm lúc hạ huyệt, bạn của cậu nhảy lên các nấm mộ khác để chụp cho ảnh khỏi giống nhau.

+ Ông Phán mọc sừng oặt người đi khóc mãi không thôi.

– Màn kịch kết thúc bằng chi tiết hài hước “chó đểu”. Ông Phán mọc sừng dúi vào tay Xuân 5 đồng gấp tư thanh toán tiền thuê Xuân tố cáo cái nhục mọc sừng của ông ta.

bài 4 trang 128

Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem lại và cảnh tượng của cái đám tang gương mẫu, anh chị nhận xét như thế nào về xã hội thượng lưu thành thị đương thời? Thái độ của nhà văn với xã hội này ra sao?

Trả lời:

Một xã hội suy tàn với những chế độ thối nát, tác giả đã miêu tả đầy đủ những hình ảnh đó để thể hiện những hình ảnh chi tiết trong đoạn văn, hình ảnh này biểu tượng cho một điều đó là đồng tiền làm mờ mắt con người họ chỉ biết đến tiền mà không biết đến tình người.

Bài 5 trang 128

Anh (chị) nhận xét gì về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng ở đoạn trích này?

Trả lời:

– Nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích thể hiện qua những mâu thuẫn của tinh huống đám ma và niềm vui sướng của những người thân.

– Từ một tình huống trào phúng cơ bản – Hạnh phúc của một tang gia được tác giả triển khai mâu thuẫn theo nhiều tình huống khác nhau, tạo nên một màn hài kịch lớn, phong phú và biến hóa khôn lường gây nhiều thú vị cho người đọc. Một trong những thủ pháp quen thuộc được tác giả sử dụng là phát hiện những chi tiết đối lập gay gắt nhưng cùng tồn tại trong một sự vật, một con người để từ đó làm bật lên tiếng cười châm biếm.

– Nghệ thuật trào phúng thể hiện qua những chân dung biếm hoạ, thể hiện tài quan sát và thể hiện một cách hài hước của tác giả, như: cô Tuyết – con gái yêu của cụ cố Hồng, những ông bạn thân của cụ cố Hồng, vợ chồng Văn Minh, Xuân Tóc Đỏ, ông Phán mọc sừng…

– Nghệ thuật trào phúng thể hiện qua ngôn ngữ hài hước của Vũ Trọng Phụng: cách đặt tên nhân vật, gọi tên đồ vật, lối so sánh ví von hài hước, cách đặt câu chứa đựng mâu thuẫn trào phúng,…

– Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nhiều thủ pháp cường điệu: nói ngược, nói mỉa mai… sử dụng đan xen linh hoạt trong đoạn trích và đều mang lại hiệu quả nhất định. Chẳng hạn, cái chết của cụ tổ khiến mọi người trong cái đại gia đình bất hiếu không ai giống ai. Đặc biệt, đám rước đưa ma được tổ chức nhố nhăng, lố bịch và nó trở thành cơ hội tốt để mọi người gặp gỡ, giao lưu, phô trương thanh thế và cười cợt, nói xấu, nói mỉa nhau…

– Tác giả còn có con mắt tinh đời để nhìn thấy và miêu tả đúng cái nét riêng của từng nhân vật xuất hiện trong đoạn trích. Ngòi bút miêu tả của Vũ Trọng Phụng linh hoạt, biến hóa, giàu yếu tố hài hước gây cười và sắc sảo tinh tế đến từng chi tiết nhỏ. Vũ Trọng Phụng xứng đáng là một bậc thầy – một nhà văn hiện thực xuất sắc trong việc sử dụng nghệ thuật trào phúng.

=> Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng đã đạt đến trình độ bậc thầy.

Soạn văn Hạnh phúc của một tang gia – số 4

Câu 1 trang 128

Tìm đọc toàn bộ tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng

Câu 2 trang 128

Những mâu thuẫn và những chân dung trào phúng ở đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia:

– Mâu thuẫn trong đoạn trích thể hiện ngay từ nhan đề của tác phẩm:

Hạnh phúc của một tang gia -> tang gia không sự buồn bã, khổ đau mà hạnh phúc, vui sướng – một hạnh phúc thật khiến con người ta đau lòng.

+ Mâu thuẫn giữa cái thật và cái giả: Từ một cái chết thật đến đám ma giả, từ một đám ma giả đến hạnh phúc có thật.

– Chân dung trào phúng được thể hiện rõ nét qua từng nhân vật: cụ cố Hồng, vợ chồng Văn Minh, cô Tuyết, cậu Tú Tân, ông Phán mọc sừng, Xuân Tóc Đỏ. Bên cạnh đó là chân dung của những người ngoài gia đình (hai tên cảnh sát Min Đơ, Min Toa, bạn cụ cố Hồng…).

Câu 1 trang 128 SGK Ngữ văn 11 tập 1

– Nhan đề: nhan đề của đoạn trích thật lạ và giật gân, chứa đựng một mâu thuẫn đầy nghịch lí, kích thích trí tò mò khiến người đọc phải chú ý: Tang gia mà lại hạnh phúc. Gia đình có tang mà lại vui vẻ, sung sướng, hạnh phúc. Nhân đề hạnh phúc của một tang gia phản ánh một sự thật mỉa mai, hài hước: con cháu của đại gia đình này sung sướng khi cụ cố tổ chết. Đó là một sự mâu thuẫn tâm lí giữa một bên là sự hạnh phúc, một bên là sự mất mát không thể bù đắp được, vậy mà chúng lại song hành, gắn kết với nhau.

– Tình huống trào phúng độc đáo của đoạn trích: Cụ cố tổ mất đi nghĩa là tờ di chúc của cụ đã đến lúc được thực hiện, nghĩa là từ đây cái gia tài kếch sù của cụ được chia cho con và cháu, trai và gái, dâu và rể… “chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa”. Như vậy cái chết của cụ đã được mọi người chờ đợi, thậm chí mong muốn nó đến thật nhanh từ rất lâu rồi. Cái không thể có đã thành hiện hữu của tang gia này, đó là sự vô lí đồng thời mỉa mai.

Câu 2 trang 128 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Cái chết của cụ cố tổ là niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên trong gia đình cụ vì: khi cụ cố tổ chết cái chúc thư kia sẽ đi vào thực hành, mọi người sẽ được nhận một số tiền lớn, mỗi người đều có lòng tham và coi tiền bạc là tất cả.

Niềm vui của các thành viên trong gia đình:

+ Cụ Cố Hồng: Tuy năm mươi tuổi nhưng lâu nay vẫn mơ ước được gọi là cụ cố, mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xơ gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: “úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa”.

+ Ông Văn Minh: là món gia tài kếch sù mà ông nội để lại cho đứa cháu đích tôn, thích thú vì cái chúc thư kia đã đi vào thời kì thực hành.

+ Bà Văn Minh và ông Typn: được khoe một mốt váy áo đại tang mới – dernieres creation – trong cái đám tang to nhất Hà Thành trước mắt xã hội thượng lưu lúc bấy giờ.

+ Cô Tuyết: được dịp mặc y phục ngây thơ để khoe cái thân thể nõn nà của mình trước mọi người, đặc biệt là những ông tai to mặt lớn đến đi đưa tang.

+ Cậu Tú Tân: sung sướng điên người vì lâu được sử dụng máy ảnh mà đã lâu không còn được dùng đến.

+ Ông Phán mọc sừng: được cụ cố Hồng nói rằng sẽ chia cho con gái và rể thêm một số tiền.

+ Xuân Tóc Đỏ ngày càng danh giá và uy tín vì chính y mà cụ cố tổ chết.

 Niềm vui của những người đến đưa đám ma:

– Hai tên cảnh sát Min Đơ và Min Toa đang lúc thất nghiệp, được thuê giữ trật tự cho đám tang. Đó là cơ hội không thể tốt hơn vì vừa nhàn nhã lại có tiền.

– Bạn bè cụ cố Hồng: có dịp phô trương đủ thứ huân chương, các kiểu quần áo, đầu tóc…

– Những ông tai to mặt lớn có dịp được nhìn tận mắt tấm thân nõn nà của Tuyết mà không tốn tiền.

– Đám phụ nữ quý phái, đám trai thanh gái lịch có dịp tụ tập để hẹn hò nhau, bình phẩm nhau, đưa tình, liếc mắt, cười tình với nhau,……

Câu 3 trang 128 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Cảnh “đám ma gương mẫu”: Đám ma được Vũ Trọng Phụng miêu tả bằng một bút pháp trào lộng, hài hước. Đám ma mà như một đám rước lố lăng vậy, lại được tổ chức theo lối “hổ lốn”, đủ kèn ta, kèn Tây, kèn Tàu lại có hàng trăm câu đối, vòng hoa, bức trướng. Người đi đưa đông đúc, sang trọng nhưng không ai nghĩ đến người chết mà chỉ để “chim nhau, cười tình với nhau”.

Câu 4 trang 128 SGK Ngữ văn 11 tập 1

– Nhận xét về xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời: Đám ma diễn ra như một tấn đại hài kịch. Nó nói lên sự lố lăng, đồi bại của cái xã hội thượng lưu Âu hóa đương thời.

– Thái độ của nhà văn đối với xã hội này: tác giả đã phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối và sự lố lăng, đồi bại của xã hội “thượng lưu” thành thị, đồng thời thể hiện niềm căm phẫn mãnh liệt, đả kích sâu cay đối với xã hội đen tối, thối nát đương thời.

Câu 5 trang 128 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Nghệ thuật trào phúng  của Vũ Trọng Phụng ở đoạn trích này:

– Tạo tình huống cơ bản rồi mở ra những tình huống khác.

– Khai thác và sử dụng triệt để biện pháp nghệ thuật đối lập nhưng cùng tồn tại trong một sự vật, một con người để làm nổi bật lên tiếng cười.

– Giọng văn mỉa mai, thủ pháp cường điệu, nói quá được sử dụng một cách linh hoạt.

– Ngòi bút miêu tả sắc sảo: Tác giả có con mắt tinh tường để nhìn thấy và miêu tả đúng cái nét riêng của từng nhân vật trong tấn đại hài kịch.

Soạn văn Hạnh phúc của một tang gia – số 5

Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

I. Tác giả Vũ Trọng Phụng

1. Cuộc đời

– Vũ Trọng Phụng (1912-1939) xuất thân trong một gia đình nghèo, quê gốc làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Thân sinh của Vũ Trọng Phụng chuyển lên Hà Nội khoảng đầu thế kỉ XX, làm thợ điện và sớm qua đời vì bệnh lao khi nhà văn mới 7 tháng tuổi.

– Vào đời đúng vào thời điểm xã hội Việt Nam đang bị cuốn vào cơn khủng hoảng kinh tế, Vũ Trọng Phụng liên tục bị mất việc, ông đành phải chọn nghề viết báo, viết văn chuyên nghiệp làm kế mưu sinh.

– Cuộc sống khốn quẫn, công việc cực nhọc, Vũ Trọng Phụng mắc bệnh lao mà không có điều kiện chạy chữa. Ông qua đời năm 1939 tại Hà Nội khi còn một tuần nữa mới đầy 27 tuổi.

2. Sự nghiệp

– Phóng sự: Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936), Lục xì (1937)…

– Tiểu thuyết: Dứt tình (1934), Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đi (1936), Lấy nhau vì tình (1937), Trúng số độc đắc (1938)…

– Và hàng chục truyện ngắn nổi tiếng khác. Ngoài ra, Vũ Trọng Phụng còn dịch một số vở kịch và tiểu luận khá dài cùng hàng trăm bài phê bình, tiểu luận, bài báo và xã luận

3. Phong cách nghệ thuật

– Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được coi là những bức chân dung biếm họa về xã hội hiện thực đương thời. Ông là nhà văn nhiều chất phóng sự nhất, cũng là nhà báo nhiều chất văn chương nhất.

– Vũ Trọng Phụng là nhà văn sớm thể hiện nét sắc sảo của một cây bút hiện đại nhưng đồng thời về sự nghiệp sáng tác cũng như thế giới quan cũng bộc lộ những nét phức tạp, đôi khi mâu thuẫn, gây ngộ nhận và tranh cãi qua một thời gian khá dài trong nhiều thế hệ người đọc.

– Do chuyên chú xây dựng bức tranh xã hội nên ông rất sở trường xây dựng kiểu nhân vật đám đông.

– Ông sử dụng tài tình hai thủ pháp đối lập và cường điệu để làm nổi bật bản chất hiện thực.

– Vũ Trọng Phụng dùng tiếng cười để lật tẩy, tạo điều kiện cho công chúng nhận ra bản chất Âu hoá rởm, thể thao rởm, bình dân rởm, nữ quyền rởm mà thực dân Pháp và chế độ phong kiến lúc bấy giờ muốn tạo ra.

II. Tác phẩm Số đỏ

1. Tiểu thuyết Số đỏ

– Số đỏ được xem là kiệt tác của Vũ Trọng Phụng và cũng là kiệt tác của văn xuôi Việt Nam trước 1945, xuất bản dưới dạng đăng nhiều kì trên Hà Nội báo, bắt đầu từ số 40, từ ngày 7 tháng 10/1936, in thành sách vào năm 1938.

– Số đỏ ra đời như một sự thể hiện thái độ của Vũ Trọng Phụng đối với các phong trào rầm rộ nhưng nông nổi và hời hợt trong xã hội đô thị Việt Nam những năm 30 của thế kỷ trước. Đó là những làn sóng mới với những cái tên rất kêu như: Âu hoá, thể thao, bình dân, nữ quyền nhưng thực chất chỉ là những trò lừa mị, quảng cáo để che đậy lối sống chạy theo vật chất, dục vọng tầm thường và nhiều thú vui phù phiếm của tầng lớp thượng lưu, giàu có mới nổi.

2. Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

– Hạnh phúc của một tang gia chính là chương XV trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng xuất bản lần đầu năm 1936. Tên nguyên của chương này trong tiểu thuyết là Hạnh phúc của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – Một đám ma gương mẫu. Nhan đề của đoạn trích là do người biên soạn sách giáo khoa lược bớt.

– Ý nghĩa nhan đề:

+ Lập tức mang tới cho độc giả cảm giác bi hài bởi sự đối lập (tang gia – hạnh phúc).

+ Nhan đề cũng phần nào giúp người đọc hình dung được thái độ của con người và bản chất của xã hội đương thời.

 

Nguồn: Tổng Hợp