Hướng dẫn bài soạn “Chữ người tử tù” văn học 11 chi tiết đầy đủ nhất

Xin chào các em! Hôm nay, Soạn Văn sẽ hướng dẫn các em soạn một văn bản trong chương trình Ngữ Văn 11. Đó là tác phẩm Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân. Được biên soạn trong chương trình Ngữ Văn 11 Tập 1. Các em hãy cùng tham khảo để chuẩn bị thật tốt cho bài giảng trên lớp của thầy cô nhé!

Bài soạn “Chữ người tử tù” số 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Nguyễn Tuân (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Truyện ngắn Chữ người tử tù được in trong tập Vang bóng một thời. Nhân vật chính trong tác phẩm là Huấn Cao – một con người tài hoa nhưng lại mang một số phận tù đày nhưng vẫn được tác giả khắc họa với những phẩm chất và khí phách đáng quý thông qua tình huống truyện và những chi tiết, hành động.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Tình huống truyện của tác phẩm: cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường:

  • Ông Huấn Cao: một người tử tù đang chờ ngày ra pháp trường nhưng lại có tài viết chữ đẹp, ông đại diện cho cái đẹp, chống lại triều đình phong kiến.
  • Viên quản ngục: một kẻ đại diện cho quyền lực, nhưng lại khát khao và say mê cái đẹp.

* Tác dụng của tình huống truyện: làm nổi bật hình tượng nhân vật Huấn Cao và tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục. Đồng thời, góp phần làm nổi bật chủ đề của tác phẩm.

Câu 2:

a) Phân tích vẻ đẹp độc đáo của hình tượng nhân vật Huấn Cao:

* Vẻ đẹp về tài hoa:

  • Được thể hiện qua lời nói của viên quản ngục với thơ lại: Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm; có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một báu vật ở đời; Nét chữ vuông tươi tắn nói lên những hoài bão tung hoành của một đời con người.
  • Được thể hiện qua thái độ và hành động của quản ngục liều chết để biệt nhỡn Huấn Cao (nói năng lễ phép, đãi Huấn Cao rượu thịt), từng bước bày tỏ mong muốn xin chữ của ông.

* Vẻ đẹp về khí phách:

  • Huấn Cao là một người có lý tưởng sống cao cả, dám phất cờ dấy binh chống lại triều đình, hi sinh hạnh phúc riêng tư vì sự nghiệp lớn nên phải đi tù và chịu án tử hình.
  • Ông có tài bẻ khóa vượt ngục, vào tù ra tội, là người từng trải, có nhiều kinh nghiệm sống
  • Ung dung, đường hoàng.

-> Qua đây, cho ta thấy khí phách bất khuất, anh hùng. Huấn Cao chính là hình mẫu tiêu biểu đẹp đẽ của bậc hào kiệt.

* Vẻ đẹp về thiên lương:

  • Coi khinh tiền bạc, quyền thế: Ta nhất sinh không vì tiền bạc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối.
  • Hiểu được tấm lòng biệt nhỡn thiên tài và sở nguyện cao quý của viên quản ngục, Huấn Cao đã đồng ý cho chữ viên quản ngục.

=> Huấn Cao được Nguyễn Tuân xây dựng là một hình mẫu hoàn hảo và trọn vẹn bởi cảm hứng lãng mạn và bút pháp lý tưởng hóa của Nguyễn Tuân: một con người vừa có tâm, vừa có tài, hiên ngang, bất khuất trước những cái xấu, cái ác, nhưng lại mềm lòng trước cái quý, cái đẹp.

b) Quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp:

  • Cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau
  • Một nhân cách cao đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài

Câu 3: Về nhân vật viên quản ngục:

* Là con người say mê, quý trọng cái đẹp, cái tài:

  • Khi chưa gặp Huấn Cao: ông vẫn luôn ngợi khen tài viết chữ đẹp và chí khí ngang tàn của Huấn Cao; ông có ý muốn biệt đãi Huấn Cao trong những ngày ở ngục tù
  • Khi gặp Huấn Cao: viên quản ngục vẫn luôn đối đãi tử tế với một kẻ tử tù đại nghịch.

* Là một con người có tâm hồn nghệ sĩ:

  • Thú chơi chữ, say mê thư pháp
  • Ông luôn có một sở nguyện cao quý là xin được chữ của Huấn Cao.

=> Qua đây, chúng ta có thể thấy viên quản ngục chính là một tấm lòng trong thiên hạ, là một thanh âm trong trẻo trong chốn ngục tù tối tăm.

Câu 4: Đoạn văn tả cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trong nhà lao:

* Thời gian: một đêm khuya tối tăm, u ám, đặc biệt đây là đêm cuối cùng của một con người.

* Không gian: trong ngục tù tối tăm, chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy màng nhện, dưới đất bừa bãi phân chuột, phân gián.

* Ánh sáng: chỉ có bó đuốc tẩm dầu đỏ rực, vuông lụa trắng tinh.

* Con người: trong không gian ấy, con người hiện lên:

  • Ông Huấn Cao: cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô những nét chữ trên vuông lụa trắng tinh
  • Viên quản ngục: khúm núm
  • Thơ lại: run run bưng chậu mực

* Tác giả coi đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” là bởi vì:

  • Cảnh cho chữ không được diễn ra trong một không gian thư phòng sạch sẽ mà lại diễn ra trong ngục tù tối tăm, chật hẹp, bẩn thỉu và ẩm ướt.
  • Người nghệ sĩ sáng tạo là một kẻ tử tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, sắp bị tử hình.
  • Kẻ tử tù ở tư thế bên trên oai phong, uy nghi, trái ngược lại với kẻ đại diện cho quyền thế (viên quản ngục, thơ lại) thì khúm núm, run run.

=> Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, con người vẫn luôn khao khát hướng tới chân – thiện – mĩ. Đó chính là giá trị nhân văn của tác phẩm.

Câu 5:

* Bút pháp xây dựng nhân vật: bút pháp lý tưởng hóa cảm hứng lãng mạn.

* Bút pháp miêu tả cảnh vật: được xây dựng bằng nghệ thuật tương phản, làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa cái xấu và cái đẹp, giữa cái thiện và cái ác, giữa tính cách và hoàn cảnh.

* Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tác giả: sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình, sử dụng nhiều từ Hán Việt, từ cổ để tạo không khí thời đại và của người vang bóng.

 

Bài soạn “Chữ người tử tù” số 2

Bố cục

Phần 1 (Từ đầu… dò ý tứ hắn ra sao rồi sẽ liệu): mường tượng hình ảnh của Huấn Cao trong mắt viên quản ngục qua lời của thầy thơ lại. Một chút tâm trạng của viên quản ngục được bộc lộ.

– Phần 2 (tiếp… đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ): tình cảnh ngược: viên quản ngục đối xử đặc biệt tốt với Huấn Cao, thì ra viên quản ngục là một người yêu cái đẹp, ông ngưỡng mộ tài năng của Huấn Cao.

– Phần 3 (còn lại): Cảnh tượng cho chữ trong tù

Tóm tắt: Chữ người tử tù 

     Huấn Cao bị tù vì mang tội là người cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình, ông bị kết án tử hình. Ông là người nổi danh viết nhanh viết đẹp nên có nhiều người xin chữ, tuy nhiên ông chỉ cho chữ những ai xứng đáng mà không cho chữ bừa bãi. Ở nhà tù nơi Huấn Cao bị giam, viên ngục tù ở đó là người có thiên lương, tâm hồn nghệ sĩ, viên quản ngục đã tiếp đãi đối xử với Huấn Cao một cách tử tế. quản ngục đã biệt đãi Huấn Cao và các đồng chí của ông. Viên quản ngục ngưỡng mộ nét chữ của Huấn Cao nên rất muốn xin được chữ của ông. Ban đầu khi chưa hiểu tấm lòng quản ngục, Huấn Cao tỏ ý khinh miệt, nhưng khi mọi điều đã rõ, hiểu được tấm lòng thiện lương của viên quản ngục, cảnh tượng cho chữ trong ngục tù tối tăm bẩn thỉu giữa đêm khuya đã diễn ra, đó quả thực là một cảnh tượng chưa từng thấy: Huấn Cao – kẻ tử tù – tay viết như rồng bay phượng múa trên tấm lụa bạch còn viên quán ngục và thầy thơ lại – người coi tù- khúm núm đứng bên. Huấn Cao cũng đưa ra những lời khuyên tốt cho quản ngục, ông khuyên quản ngục hãy về quê để giữ cho “thiên lương” trong sáng,  bởi cái đẹp khó có thể dung hòa và vẹn nguyên nơi tối tăm của cái ác. Viên quản ngục nghe lời khuyên của ông Huấn Cao một cách kính cẩn “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

Soạn bài: Chữ người tử tù 

Câu 1 (trang 144 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Có rất nhiều truyện ngắn nắm bắt được cái xuất sắc của tình huống và khai thác nó, với Chữ người tử tù cũng vậy. Nguyễn Tuân cũng vậy, ông dựng nên cảnh cho chữ ở nơi tối tăm xấu xí thành một cảnh cho chữ xuất thần của người nghệ sĩ Huấn Cao. Tưởng chừng kẻ xấu là viên quản ngục, nhưng không, viên quản ngục cũng chỉ là nạn nhân của xã hội, một tấm lòng đẹp nhưng vì hoàn cảnh trở nên xấu xí tàn bạo ở lớp vỏ của người coi phạm nhân. Chính vì thế cái đẹp tâm hồn khi gặp Huấn Cao- một tử tù lại càng đẹp hơn. Đó chính là giá trị của nghệ thuật, của cái đẹp tâm hồn thoát xác khỏi chiếc áo danh phận.

– Tác dụng của tình huống đặc biệt: tôn lên vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao – con người tài hoa và nét đẹp tâm hồn của viên quản ngục. Chúng cũng tô đậm sâu sắc chủ đề ca ngợi cái đẹp, nghệ thuật, cái thiện chiến thắng tà ác giữa không gian tối tăm của cái ác. 

Câu 2 (trang 144 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

a. Hình tượng nhân vật Huấn Cao

Cái đẹp lẩn khuất và len lỏi mọi nơi, dù cho nơi đó bao trùm bóng tối. Huấn Cao và viên quản ngục là hình ảnh thể hiện điều đó.

    ∗ Huấn Cao là người nghệ sĩ tài hoa

– Một con người có nhân cách của người nghệ sĩ, có tài viết chữ rất nhanh, rất đẹp – con chữ thể hiện con người và tâm hồn. Mỗi đường mỗi nét chữ đều lan tỏa, chứa đựng khát vọng, hoài bão tung hoành

 – Người ta đồn: Có được chữ ông Huấn là có được báu vật ở đời. Ấy mới bảo chữ ông đẹp và quý lắm

    → Đó chính là truyền nhân của hình tượng tài hoa mà Nguyễn Tuân viết nên, ông ca ngợi nét tài hoa của Huấn Cao cũng là ca ngợi cái đẹp, cái xuất sắc. Từ đó toát lên tư tưởng trọng người tài hoa, yêu mến nghệ thuật thư pháp cổ truyền của dân tộc. 

  ∗Huấn Cao là con người có khí phách hiên ngang

– Thái độ, tư thế của người có đạo đức: dỗ gông, nhận rượu thịt một cách thản nhiên. Và tư thế với cái ác cái xấu luôn vững vàng. 

  ∗ Thiên lương trong sáng, nhân cách cao cả

– Quan niệm cho chữ: không coi trọng tiền bạc, vì cái đẹp con chữ không đến từ tiền : trừ chỗ tri kỉ ngoài ra không vì vàng bạc châu báu mà cho chữ

– Thái độ với quản ngục:

     + Khinh miệt khi ban đầu cho rằng tên coi ngục cũng chỉ là kẻ tiểu nhân.

     + Khi đã nhận ra, Huấn Cao xúc động trước tấm lòng chân thành và yêu cái đẹp của quản ngục, ôngđã coi quản ngục là tri âm tri kỉ 

  → Huấn Cao là khuôn mẫu của con người có có vẻ đẹp uy nghi, đan cài hài hòa cái tài cái tâm nghệ sĩ, bậc anh hùng vững vàng đứng hiên ngang dẫu giông bão ập đến.

    b. Quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp

– Cái đẹp đi liền với cái thiện

 – Chỉ có sự dung hòa giữa cái tâm – cái tài thì đó mới là một nhân cách đẹp

 – Nguyễn Tuân ca ngợi và quý trọng Huấn Cao, tiếc nuối những người nghệ sĩ có tâm có tài như ông Huấn

Câu 3 (trang 144 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

    Để trở thành một nhân vật được Huấn Cao cảm kích yêu quý, nhân vật quản ngục ấy hẳn là một người có say mê, có tình yêu với nghệ thuật, đồng thời cũng là người có tài năng. Dù là khi chưa gặp Huấn Cao hay là khi đã gặp rồi, con người ấy vẫn giữ được nét phẩm chất đáng quý là yêu mến cái đẹp. Viên quản ngục ngợi khen cái tài cái tâm của người viết nên các nét chữ đẹp, khen ngợi Huấn Cao (một tử tù) có một chí khí ngang tàng, đồng thời trân trọng người có tài mà muốn biệt đãi Huấn Cao trong những ngày ở tù khổ cực. Còn khi đã gặp Huấn Cao rồi, con người ấy thể hiện thái độ tôn trọng của mình, dùng phẩm chất của mình để khiến Huấn Cao nhận biết được tấm lòng mình, ông đã thiết đãi đặc biệt tử tế với một kẻ tử tù có tài có tâm.

Con người đẹp khi họ có tâm hồn đẹp. Viên quản ngục ở đây cũng vậy, tác giả đã ngợi ca con người ấy như “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”, bởi người đại diện bảo đảm cho cái ác lại có một tâm hồn thiện nghệ, một  tâm hồn nghệ sỹ. Ông ta có thú say mê thư pháp mà chỉ những người yêu cái đẹp mới nuôi dưỡng được tình yêu này. Mà thú chơi chữ ấy có đơn thuần là một con chữ đâu, con chữ ấy phải được viết ra bởi một người cao quý trong sạch như Huấn Cao. 

Nói vậy đã rõ, quản ngục chính là  một tấm lòng trong thiên hạ như Huấn Cao đã nói, cũng là một nốt nhạc trong giữa chốn ngục tù như.

Câu 4 (trang 144 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Cảnh cho chữ thì không có gì lạ vào thời thư pháp lên ngôi bấy giờ. Nhưng để trở thành một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” thì nó thật không đơn giản chút nào. Nó phải có dấu ấn, phải có đặc biệt để trở thành cảnh tượng hiếm hoi và đáng trân trọng.

Xét nét khung cảnh ấy, con chữ đẹp đến mấy cũng dễ bị mờ bẩn bởi không gian tăm tối của chốn ngục tù. Nhưng không, nơi này tối tăm thật, bẩn thỉu ẩm ướt thật, nhưng nó chỉ càng làm tôn lên con chữ và tấm lòng người cho chữ cũng như người xin chữ mà thôi. Tại sao phải cho chữ trong không gian tối và thời gian đêm khuya như thế? Có khó nói gì không? Có đấy. Một câu hỏi tại sao không khó để trả lời, ấy là bởi điều này không thể thực hiện giữa ánh sáng ban ngày, giữa ánh sáng độc ác của xã hội, của chế độ, nó bị kìm hãm. Nhưng chính cái kìm hãm đó mới nói lên giá trị của cảnh cho chữ hiếm thấy.

 – Cảnh tượng đẹp cũng bởi hai con người mang danh nghĩa của hai giai cấp, hai thế lực khác nhau lại có nút giao giữa thế giới tâm hồn. Người cho chữ là tử tù, mất tự do, khắp người là gông là xích, còn người kia, con người xin chữ ấy lại là kẻ giữ khóa gông xích nhưng không thể mở khóa theo ý mình, ngược lại với quyền năng cầm khóa, người quản ngục lại khúm núm trong thế bị động. Người tử tù là người đem tặng chữ và cũng là người cho lời khuyên.

– Sự hoán đổi ngôi vị tạo ra thế nghịch đảo trong tình huống. Người tử tù đưa ra lời khuyên rằng cái đẹp có thể mọc mầm và dưỡng trong nơi tối tăm của cái ác. Nhưng nó không thể hòa thuận sống chung mãi được. Vì thế con người chốn tăm tối địa ngục chỉ xứng đáng được thưởng thức cái đẹp khi thiên lương được vững vàng. Đây cũng là thông điệp ý nghĩa mà Nguyễn Tuân đưa ra tới người đọc, cảm hóa con người. Cái đẹp, cái tài, và thiên lương trong sáng được cảm hóa bởi một người tử tù đã mang đến ánh sáng tươi mới cho truyện ngắn.

 Câu 5 (trang 144 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Nguyễn Tuân thật sự là bậc thầy khi sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hình tượng, nghệ thuật lãng mạn, tương phản. Hình tượng nhân vật được khắc họa qua những tình huống éo le kịch tính (người có thiên lương lại làm nghề giết chết thiên lương). Nhân vật trong truyện được lí tưởng hóa  về vẻ đẹp nội tâm đến mức phi thường. Rồi thì tác giả cũng hài hòa và sâu sắc trong sử dụng ngôn từ cổ kính sang trọng giàu tạo hình và gợi cảm. 

Luyện tập

Huấn Cao – một người tài hoa và có tâm với chính nghĩa, với nghệ thuật. Hình ảnh Huấn Cao được khắc họa qua các tình huống éo le, qua ngôn ngữ và nhân phẩm cao đẹp. Ông loáng thoáng xuất hiện ở đầu truyện qua lời qua tiếng đồn về tài viết chữ rất nhanh rất đẹp. Người ta bảo nhau chữ ông Huấn là báu vật đời người, thế nên có được chữ của  ông khác nào có được con chữ đầy khát vọng, đầy hoài bão tung hoành. Một con người chịu gông xích trên người nhưng không bao giờ khuất phục, mang trong mình khí phách hiên ngang, khí phách của người có đức trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Một con người bị lấp trong bóng tối của ngục tù tối tăm bẩn thỉu nhưng chưa bao giờ bị mờ đi thiên lương trong sáng và nhân phẩm cao đẹp. Ông dồn tâm tình vào con chữ nên ông quan niệm chỉ cho chữ những người xứng đáng, không vì vàng bạc mà cho chữ. Đối với viên quản ngục, Huấn Cao không cho chữ nếu chưa rõ tấm lòng quản ngục, ông từng cho rằng quản ngục chỉ là kẻ tiểu nhân mà tỏ khinh biệt. Nhưng khi đã rõ lòng người, Huấn Cao không ngại gì cho chữ mà còn coi quản ngục như một tri kỉ. 

Vốn dĩ Huấn Cao được Nguyễn Tuân viết lên thật có vẻ đẹp đủ đầy giữa tài và tâm, cái tài cái tâm của một người nghệ sĩ, của bậc anh hùng có khí phách.

Bài soạn “Chữ người tử tù” số 3

I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Tuân

– Nguyễn Tuân (1910- 1987)

– Ông sinh ra trong gia đình nhà Nho khi Hán học đã suy tàn

– Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công ông đến với cách mạng, tự nguyện dùng ngòi bút phục vụ hai cuộc kháng chiến

– Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa , thích xê dịch, sang trọng lịch lãm, phóng túng và rất ngông

– Các tác phẩm chính: Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1960),……

– Phong cách nghệ thuật: tài hoa uyên bác độc đáo

   + Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời tôn thờ và tận hiến cho cái đẹp

   + Với niềm đam mê khám phá mọi vật đến kì cùng thông tỏ Nguyễn Tuân đã huy động vốn kiến thức uyên bác của mọi lĩnh vực đời sống như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, thể thao,…..

   + Nguyễn Tuân luôn thay đổi thực đơn cho các giác quan, ham mê những cái mới lạ, phi thường tuyệt đỉnh, tuyệt đối

   + có nhiều sáng tạo độc đáo trong việc dùng từ đặt câu, sử dụng các biện pháp tu từ

II. Đôi nét về tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

1. Xuất xứ

– Truyện ngắn Chữ người tử tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng in năm 1939 trên tạp chí Tao đàn sau được tuyển in trong tập Vang bóng một thời

– Vang bóng một thời in lần đầu năm 1940 gồm 11 truyện ngắn kết tinh tài năng tâm huyết của nhà văn, là văn phẩm đạt đến sự toàn thiện toàn mĩ

2. Bố cục

– Phần 1 (Từ đầu đến để mai ta dò ý tứ hắn ra sao rồi sẽ liệu): cuộc trò truyện giữa viên quản ngục và thầy thơ lại về Huấn Cao, tâm trạng của viên quản ngục

– Phần 2 (tiếp theo đến thiếu một chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ): cuộc nhận tù nhân và sự đối xử đặc biệt của viên quản ngục dành cho Huấn Cao cùng tấm lòng ngưỡng mộ của viên quản ngục với Huấn Cao.

– Phần 3 (còn lại): Cảnh cho chữ

3. Tóm tắt

Huấn Cao là người cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình nên bị kết án tử hình. Trước khi chịu án chém, ông bị đưa đến giam tại một nhà tù. Khi trát gửi đến nhà tù, biết trong danh sách có ông Huấn Cao, người nổi tiếng viết chữ đẹp, viên quản ngục đã cho thầy thơ lại bảo người quét dọn phòng giam nơi Huấn Cao và những người tử tù sẽ ở. Trong những ngày Huấn Cao ở tù, viên quản ngục đã biệt đãi ông và những người đồng chí của ông. Sở nguyện của viên quản ngục là xin được chữ viết của Huấn Cao. Lúc đầu, Huấn Cao tỏ ý khinh miệt viên quản ngục, nhưng khi hiểu được tấm lòng viên quản ngục, ông đã quyết định cho chữ vào cái đêm trước khi ông bị xử chém. Trong đêm cho chữ, ông Huấn Cao tay viết như rồng bay phượng múa trên tấm lụa bạch còn viên quán ngục và thầy thơ lại thì khúm núm đứng bên cạnh. Sau khi cho chữ, ông Huấn Cao khuyên viên quản ngục về quê để giữ cho “thiên lương” trong sáng. Viên quản ngục nghe lời khuyên của ông Huấn Cao một cách kính cẩn “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

4. Giá trị nội dung

– Qua truyện ngắn Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng Huấn Cao- môt con người tài hoa, có cái tâm trong sáng và khí phách hiên ngang bất khuất. Qua đó nhà văn thể hiện quan niệm về cái đẹp, khẳng định sự bất tử của cái đẹp và bộc lộ thầm kín tấm lòng yêu nước

5. Giá trị nghệ thuật

– Tác phẩm thể hiện tài năng độc đáo của Nguyễn Tuân trong việc tạo dựng tình huống truyện độc đáo; trong nghệ thuật dựng cảnh, khắc họa tính cách nhân vật, tạo không khí cổ kính, trang trọng; trong việc sử dụng thủ pháp đối lập và ngôn ngữ giàu tính tạo hình

III. Dàn ý phân tích Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

1. Nghệ thuật thư pháp

– Có truyền thống lâu đời ở phương Đông

– Ở Việt Nam , thời phong kiến thư pháp khá phát triển

– Là nét đẹp trong truyền thống văn hóa người Việt thể hiện tài hoa, tâm hồn, nết người, bản lĩnh,… của người viết

– Người chơi chữ phải có trình độ văn hóa và khiếu thẩm mĩ, biết thưởng thức cái đẹp của chữ, cái sâu của nghĩa

2. Tình huống truyện đặc biệt

– Huấn Cao- một tử tù chờ ngày ra pháp trường và viên quản ngục tình cờ gặp nhau hiểu lầm nhau và rồi trở thành tri âm tri kỉ trong một hoàn cảnh đặc biệt: nhà lao tỉnh Sơn nơi quản ngục làm việc

– Chính tình huống đặc biệt đôc đáo này đã làm nổi bật vẻ đẹp hình tượng Huấn Cao, làm sáng tỏ tấm lòng biệt nhỡn liên tài của quản ngục đồng thời thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm: ca ngợi cái đẹp, cái thiện có thể chiến thắng cái xấu cái ác ngay ở trong nơi bóng tối bao trùm, cái ác ngự trị

– Bút pháp lãng mạn, lí tưởng hóa được sử dụng thành công

3. Vẻ đẹp các nhân vật

a. Hình tượng nhân vật Huấn Cao

♦ Huấn Cao là người nghệ sĩ tài hoa

– Là người có tài viết chữ rất nhanh, rất đẹp. Hơn thế mỗi con chữ của Huấn Cao còn chứa đựng khát vọng, hoài bão tung hoành cả đời người

– Có được chữ ông Huấn là có được báu vật ở đời

⇒ Ca ngợi nét tài hoa của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã thể hiện tư tưởng nghệ thuật của mình: kính trọng những con người tài hoa tài tử, trân trọng nghệ thuật thư pháp cổ truyền của dân tộc

♦ Khí phách hiên ngang

– Thể hiện rõ nét qua các hành động: dỗ gông, thảm nhiên nhận rượu thịt

– Trong mọi hoàn cảnh khí phách hiên ngang ấy vẫn không thay đổi

♦ Thiên lương trong sáng, nhân cách cao cả

– Quan niệm cho chữ: trừ chỗ tri kỉ ngoài ra không vì vàng bạc châu báu mà cho chữ

– Đối với quản ngục:

   + khi chưa hiểu tấm lòng quản ngục Huấn Cao cho hắn là kẻ tiểu nhân tỏ ra khinh biệt

   + khi nhận ra tấm lòng quản ngục Huấn Cao không những cho chữ mà còn coi quản ngục là tri âm tri kỉ

⇒ Huấn Cao là hình tượng có vẻ đẹp uy nghi giữa tài và tâm của người nghệ sĩ, của bậc anh hùng tuy thất thế nhưng vẫn hiên ngang lẫn liệt

b. Hình tượng nhân vật quản ngục

– Một tấm lòng biệt nhỡn liên tài

– Có sở thích cao quý chơi chữ

c. Cảnh cho chữ: Cảnh tượng xưa nay chưa từng có

– Không gian: ngục tối ẩm ướt, bẩn thỉu

– Thời gian: đêm khuya

– Dấu hiệu:

   + người cho chữ là tử tù, người xin chữ là quản ngục

   + người cho chữ mất tự do cổ đeo gông chân vướng xiềng trong khi quản ngục- người xin chữ khúm núm bị động

   + tử tù lại là người khuyên quản ngục

– Sự hoán đổi ngôi vị

   + ý nghĩa lời khuyên của Huấn Cao: cái đẹp có thể sản sinh ở nơi đất chết, nơi tội ác ngự trị nhưng không thể sống chung với cái xấu cái ác. Người ta chỉ xứng đáng được thưởng thức cái đẹp khi giữ được thiên lương

   + tác dụng: cảm hóa con người

⇒ Điều lạ lùng ở đây không chỉ là thú chơi chữ tao nhã, thanh cao được thể hiện ở nơi tối tăm bẩn thỉu, người trổ tài là kẻ tử tù mà đặc biệt hơn là trong chốn lao tù tối tăm ấy cảnh cho chữ là sự thăng hoa của cái tài, cái đẹp, người tử tù sắp chết lại cảm hóa được người coi tù. Chính những điều này đã tạo nên hào quang rực rỡ, bất tử cho hình tượng Huấn Cao

4. Nghệ thuật

– Xây dựng hình tượng nhân vật qua tình huống truyện éo le, oái oăm đầy kịch tính

– Khai thác triệt để bút pháp lãng mạn, nghệ thuật tương phản để lí tưởng hóa vẻ đẹp nhân vạt đến mức phi thường

– Ngôn từ cổ kính trang trọng giàu chất tạo hình, gợi cảm

 

Bài soạn “Chữ người tử tù” số 4

Câu 1 trang 114 SGK Ngữ văn 11 tập 1

   Tình huống truyện của tác phẩm Chữ người tử tù là gì? Tác dụng của tình huống này đối với việc thể hiện tính cách nhân vật và kịch tính của truyện?

Trả lời:

– Tình huống truyện: Cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường:

+ Viên quản ngục- kẻ đại diện cho quyền lực tăm tối 

+ Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp, 

=> Chính tình huống độc đáo này đã giúp làm nổi bật trọn vẹn, tự nhiên vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao và làm sáng tỏ tấm lòng biệt đãi người tài của viên quản ngục.

Câu 2 trang 114 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Phân tích vẻ đẹp độc đáo của hình tượng Huấn Cao. Qua nhân vật Huấn Cao, anh (chị) có nhận xét gì về quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp ?

Trả lời: 

Huấn Cao có vẻ đẹp thể hiện qua phẩm chất:

    + Con người tài hoa, ưu việt, đầy quyền năng (tài viết chữ “đẹp và vuông lắm”, tiếng tăm nổi khắp tỉnh Sơn, khiến quan ngục muốn xin chữ)

    + Khí phách hiên ngang, gan dạ của Huấn Cao (Vẫn giữ được sự hiên ngang, khảng khái ngay cả trong tù)

    + Người có “thiên lương” trong sáng và cao đẹp (thái độ trọng cái đẹp, chia sẻ lời gan ruột với quản ngục)

– Tác giả xây dựng hình tượng Huấn Cao với dụng ý nghệ thuật:

    + Bày tỏ quan niệm nghệ thuật về cái đẹp của tác giả

    + Cái tài phải đi đôi với cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời: quan niệm tiến bộ của tác giả

Câu 3 trang 114 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Nhân vật quản ngục có phẩm chất gì khiến Huấn Cao cảm kích coi là “một tấm lòng trong thiên hạ”, và tác giả coi đó là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ“.

Trả lời:

– Say mê, quý trọng cái đẹp, cái tài:

+ Khi chưa gặp Huấn Cao: ngợi khen tài viết chữ đẹp, chí khí ngang tàng, có ý muốn biệt đãi Huấn Cao trong những ngày ông ở tù ngục.

+ Khi gặp Huấn Cao: Thiết đãi tử tế với một kẻ tử tù đại nghịch.

– Tâm hồn nghệ sỹ:

+ Thú chơi chữ, say mê thư pháp.

+ Có sở nguyện cao quý: Có được chữ Huấn Cao.

=> Quản ngục chính là một tấm lòng trong thiên hạ, là một thanh âm trong trẻo trong chốn ngục tù tăm tối.

Câu 4 trang 114 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Phân tích đoạn văn tả cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trong nhà lao. Vì sao tác giả lại coi đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có“?

Trả lời:

– Nguyễn Tuân dụng công miêu tả “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” làm nổi bật vẻ đẹp trang trọng, uy nghi, bất tử hình tượng Huấn Cao

    + Việc cho chữ- hoạt động nghệ thuật thanh cao diễn ra trong căn buồng tối tăm, chật hẹp, ẩm ướt, hôi hám

    + Cái đẹp tỏa sáng, người nghệ sĩ tô từng nét chữ không phải người được tự do mà là kẻ tử tù

    + Hình tượng người tử tù uy nghi, cao đẹp >< quản ngục, thơ lại là kẻ tự do

    + Trật tự trong nhà tù bị đảo ngược: người tù ban phát cái đẹp, răn dạy quản ngục

⇒ Sự chiến thắng của thiện lương, của ánh sáng nghệ thuật chân chính. Tô đậm nhân cách thanh cao, ngang tàng của Huấn Cao.

Câu 5 trang 114 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Anh (chị) có những nhận xét gì về bút pháp xây dựng nhân vật, bút pháp miêu tả cảnh vật, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân trong Chữ người tử tù?

Trả lời:

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: bằng bút pháp lý tưởng hóa

– Cảnh cho chữ trong tác phẩm có nghệ thuật tương phản làm nổi bật cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác, tính cách với hoàn cảnh

    + Thủ pháp đối lập cảnh tượng hiện lên đầy đủ vẻ uy nghi, rực rỡ của nó

– Ngôn ngữ: giàu chất tạo hình, biểu cảm, gợi được không khí thời đại (cổ kính, thiêng liêng…)

Bài soạn “Chữ người tử tù” số 5

Bài 1 trang 114

Tình huống truyện cuả tác  phẩm Chữ người tử tù  là gì? Tác dụng của tình huống này đối với việc thể hiện tính cách nhân vật và kịch tính của truyện?

Trả lời:

– Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra tình huống truyện độc đáo: Cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường: viên quản ngục – kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại rất khát khao ánh sáng của chữ nghĩa với Huấn Cao – người tử tù đang chờ ngày ra pháp trường nhưng có tài viết chữ đẹp nổi tiếng.

+ Hai nhân vật: Huấn Cao và Quản ngục, trên bình diện xã hội hoàn toàn đối lập nhau, nhưng hai nhân vật này đều là những người có tâm hồn nghệ sĩ. Trên bình diện nghệ thuật, họ là những người tri âm, tri kỉ với nhau.

+ Tác giả đã đặt những nhân vật này vào tình thế đối địch: tử tù và quản ngục, tạo nên cuộc gặp gỡ kì lạ trong chốn ngục tù tối tăm, dơ bẩn. 

=> Mối quan hệ đặc biệt éo le, đầy trớ trêu giữa những những tâm hồn tri âm, tri kỉ. Từ đây nảy sinh nhiều kịch tính: người tử tù thành người mà viên quản ngục nhờ vả muốn xin chữ; đồng thời lại là người mở đường hướng thiện cho cuộc sống về sau của viên quản ngục. Chính tình huống độc đáo này đã giúp làm nổi bật trọn vẹn, tự nhiên vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao  và làm sáng tỏ tấm lòng biệt đãi người tài của viên quản ngục.

– Tác dụng của tình huống truyện đối với việc thể hiện tính cách nhân vật:

+ Tính cách của mỗi nhân vật mỗi lúc thêm đầy đủ, rõ nét và trọn vẹn hơn.

+ Từ tình huống truyện này mà Huấn Cao đã hiểu thêm về viên quản ngục.

+ Tình huống truyện đã tạo nên kịch tính cho thiên truyện.

Bài 2 trang 114 

Phân tích vẻ đẹp độc đáo của hình tượng Huấn Cao. Qua nhân vật Huấn Cao, anh (chị) có nhận xét gì về quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp ?

Trả lời: 

* Vẻ đẹp tài hoa của Huấn Cao

– Qua lời nói:

+ Của quản ngục với thơ lại: người mà khắp vùng….rất đẹp đó không?

+ Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm

+ Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật ở đời.

+ Nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của một đời con người.

– Qua thái độ và hành động: quản ngục liều chết biệt nhỡn Huấn Cao (nói năng lễ phép, đãi Huấn Cao rượu thịt), từng bước bày tỏ khát vọng xin chữ.

* Vẻ đẹp khí phách

– Lý tưởng sống cao cả: dám phất cờ dấy binh chống lại triều đình, hi sinh hạnh phúc riêng vì sự nghiệp lớn, đi tù và chịu án tử hình.

– Tư thế, hành động:

+ Có tài bẻ khóa vượt ngục, vào tù ra tội, từng trải

+ Ung dung, đường hoàng:

=> Vẻ đẹp của Huấn Cao là vẻ đẹp của khí phách bất khuất, anh hùng. Đó là hình mẫu tiêu biểu đẹp đẽ của bậc hào kiệt “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”.

* Vẻ đẹp thiên lương

– Thiên lương tự tỏa sáng từ con người Huấn Cao.

+ Tỏ rõ thái độ lạnh lùng, kiêu bạc, thậm chí coi thường những trò “tiểu nhân thị oai” của bọn lính lệ cũng như hành động kì lạ của viên quản ngục.

+ Sau khi hiểu tấm lòng của quản ngục:

+) “mỉm cười với thầy thơ lại” -> chân thành, cởi mở

+) “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ

=> Câu nói vừa thoáng một chút ân hận vì đã đối xử khinh bạc với quản ngục, lại vừa rưng rưng niềm cảm động.

– Thiên lương có khả năng làm bừng sáng vẻ đẹp của người khác

+ Lời khuyên với quản ngục: “Ở đây lẫn lộn…mất cái đời lương thiện đi” -> Lời khuyên khuyến khích con người hướng thiện.

=> Bằng chứng rõ nhất về khả năng cảm hóa và làm bừng sáng thiên lương ở người khác của nhân vật Huấn Cao. Điều mà con người này ban tặng cho cuộc đời không chỉ là cái đẹp của nghệ thuật thư pháp mà còn là khả năng cứu rỗi những cuộc đời khác.

=> Huấn Cao là người vừa có tài vừa có tâm, bất khuất trước cái ác cái xấu nhưng mềm lòng trước cái thiện, cái đẹp.

* Quan niệm thẩm mĩ và thái độ của nhà văn

– Quan niệm thẩm mĩ:

+ Cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau

+ Một nhân cách đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài.

– Thái độ của nhà văn: Yêu mến, ca ngợi Huấn Cao, tiếc nuối những người như ông Huấn.

Bài 3 trang 114

Nhân vật quản ngục có phẩm chất gì khiến Huấn Cao cảm kích coi là “một tấm lòng trong thiên hạ”, và tác giả coi đó là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ“.

Trả lời:

* Phẩm chất của nhân vật viên quản ngục

+ Dù là cai tù, chứng kiến bao điều dễ đẩy con người vào chốn bùn nhơ nhưng ông có thú chơi chữ. Có thể thấy viên quản ngục là một người có tâm hồn nghệ sĩ.

+ Là một người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”, cảm phục tài năng và nhân cách Huấn Cao.

+ Quản ngục suy nghĩ về nghề của mình và cho rằng “chọn nhầm nghề”. Một lòng  tâm phục, khẩu phục, nghẹn ngào “vái người tù một vái, chắp tay nói một câu: “ kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. “quản ngục” hai tiếng ấy để chỉ công việc chức trách. Đó chỉ là cái áo khoác phủ ngoài một tâm hồn đẹp.

=> Đây chính là những phẩm chất khiến Huấn Cao cảm kích, coi là “một tấm lòng trong thiên hạ”.

* Quan niệm nghệ thuật của nhà văn

+ Trong mỗi con người đều có một người nghệ sĩ, đều ẩn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài.

+ Có khi cái đẹp tồn tại trong môi trường của cái ác, cái xấu nhưng không vì thế mà nó lụi tàn, trái lại nó càng mạnh mẽ và bền bỉ giống như hoa sen mọc trên đầm lầy.

=> Tác giả xem ngục quan là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.

Bài 4 trang 114

Phân tích đoạn văn tả cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trong nhà lao. Vì sao tác giả lại coi đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có“?

Trả lời:

* Địa điểm cho chữ đặc biệt:

– Thông thường người ta cho chữ và xin chữ ở những nơi sạch sẽ, yên tĩnh, tôn nghiêm, trang trọng.

– Cảnh cho chữ và xin chữ trong tác phẩm diễn ra ở nhà tù tối tăm, bẩn thỉu, xưa nay chỉ tồn tại cái xấu và cái ác.

* Thời điểm cho chữ đặc biệt:

– Thông thường người ta cho chữ khi tâm trạng thoải mái, thư thái, thanh thản, tâm tĩnh.

– Thời điểm cho chữ ở tác phẩm là đêm trước khi Huấn Cao đi chịu án tử hình, dành trọn những phút cuối đời để tặng lại cái đẹp cho đời, cho tấm lòng ở đời.

* Vị thế của người cho chữ và xin chữ

– Người cho chữ là người nghệ sĩ sáng tạo ra cái đẹp lại ở vị thế của tử tù; vốn là đối tượng cần được giáo dục, cảm hóa lại ban phát những lời khuyên chí tình cho quản ngục.

– Người xin chữ ở vị thế quản ngục, cai quản tử tù, tiếp nhận, bái lĩnh những lời khuyên của tử tù.

-> Vị thế trên bình diện xã hội khác, trên bình diện nghệ thuật lại khác.

=> Giữa chốn ngục tù tàn bạo, không phải kẻ thống trị làm chủ mà là người tù làm chủ. Cái thiện vẫn hiện lên mạnh mẽ chiến thắng được cái ác. Đó là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối; là sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con người. 

Bài 5 trang 114

Anh (chị) có những nhận xét gì về bút pháp xây dựng nhân vật, bút pháp miêu tả cảnh vật, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân trong Chữ người tử tù?

Trả lời:

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nhân vật được xây dựng bằng bút pháp lí tưởng hóa cảm cảm hứng lãng mạn.

– Cảnh trong tác phẩm được xây dựng bằng nghệ thuật tương phản, làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa cái đẹp và cái xấu, cái ác và cái thiện, tính cách và hoàn cảnh.

– Trong truyện đoạn miêu tả cảnh vật và không khí thiêng liêng, cổ kính của cảnh cho chữ . Đoạn văn thể hiện tài năng sắc sảo của Nguyễn Tuân trong việc sử dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, giàu tính tạo hình, kết hợp với bút pháp đối lập trong tạo dựng cảnh.

Nguồn: Tổng Hợp