Hướng dẫn bài soạn ” Chí Phèo” ( Nam Cao) văn học 11 chi tiết nhất

Hướng dẫn soạn bài Chí Phèo phần 1: Tác giả, gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu về tác giả Nam Cao trang 142 SGK Ngữ Văn lớp 11 tập 1.
Trong nội dung soạn bài Chí Phèo phần 1, Tài Liệu sẽ tóm tắt lại những nội dung cơ bản về tác giả Nam Cao (tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp văn học, phong cách nghệ thuật). Thông qua việc trả lời các câu hỏi đọc hiểu cuối bài, các em sẽ hiểu được những nét chính về con người, về quan điểm nghệ thuật, các đề tài chính, tư tưởng chủ đạo và phong cách nghệ thuật của Nam Cao.

Bài soạn ” Chí Phèo” ( Nam Cao) số 1

Bài 1 trang 142

Tiểu sử và con người nhà văn Nam Cao có những đặc điểm gì giúp ta thêm hiểu về sự nghiệp văn học của ông?

Trả lời:

* Tóm tắt tiểu sử nhà văn Nam Cao:

Nam Cao, tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân (nay là xã Hoà Hậu, huyện Lí Nhân), tỉnh Hà Nam. Làng này xuất hiện nhiều trong những sáng tác của Nam Cao với cái tên Vũ Đại. Nam Cao sinh ra trong gia đình trung nông, đông con, theo đạo Thiên Chúa. Tuy không thuộc những gia đình nghèo nhất ở làng Đại Hoàng và ông thân sinh Nam Cao có thời kì làm chủ một cửa hàng gỗ ở Nam Định, nhưng gia đình Nam Cao vẫn luôn túng bấn. Trong số bảy anh em, chỉ Nam Cao là được ăn học tới nơi tới chốn. Gia đình này cũng được mô tả nhiều trong các sáng tác của Nam Cao mà rõ nét hơn cả là trong tiểu thuyết Sống mòn.

Học hết bậc Thành chung, năm 1935, Nam Cao theo người cậu vào Sài Gòn và có ý định ra nước ngoài học tập, nhưng không thành. Sau khoảng hơn ba năm, do đau ốm, ông phải về quê. Từ đó, Nam Cao phải sống vất vưởng, khi làm ông giáo trường tư, khi viết văn, làm gia sư, lúc thì phải về quê sống nhờ vợ.

Nam Cao gia nhập Hội Văn hoá cứu quốc năm 1943, khi hội này vừa được thành lập. Từ đó tới lúc hi sinh (1951), ông một lòng tận tụy phục vụ cách mạng và kháng chiến. Năm 1946, Nam Cao có mặt trong đoàn quân Nam tiến vào đến Nam Trung Bộ. Năm 1947, ông lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ và được kết nạp vào Đảng tại Bắc Kạn. Năm 1950, tham gia chiến dịch Biên Giới,… Nam Cao cùng Nguyễn Huy Tưởng đi công tác khu Ba, tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp vào vùng địch hậu. Ông có ý định thu thập thêm tài liệu để viết cuốn tiểu thuyết đang thai nghén. Nhưng Nam Cao và đoàn công tác bị địch phục kích. Nam Cao hi sinh trong chuyến đi đó.

* Con người Nam Cao

Nam Cao là con người có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm phong phú. Ông luôn nghiêm khắc đấu tranh với mình để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ hẹp, vươn tới cuộc sống cao đẹp xứng đáng với danh hiệu con người. Nam Cao thường hổ thẹn với những gì mà ông cảm thấy tầm thường, thấp kém của mình.

Nam Cao là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình thương, đặc biệt có sự gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nông dân nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt trong xã hội. Vì thế, không ít tác phẩm của Nam Cao viết về người lầm than là những thiên trữ tình đầy sự đồng cảm, xót thương. Ông hay suy nghĩ về nhiều vấn đề trong đời sống để rút ra những nhận xét có tầm triết lí sâu sắc và mới mẻ.

Tâm trạng bất hòa sâu sắc với xã hội đương thời -> xã hội tàn bạo, bất công, bóp nghẹt sự sống -> Nỗi phẫn uất của người tri thức có ý thức về sự sống mà không được sống.

Bài 2 trang 142

Những nội dung chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao.

Trả lời:

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao:

– Văn học phải gắn bó với đời sống của nhân dân lao động, phản ánh chân thực cuộc sống.

– Văn chương chân chính phải có nội dung nhân đạo sâu sắc, vừa mang nỗi đau nhân thế, vừa có thể tiếp sức mạnh cho con người vươn tới cuộc sống nhân ái, công bằng. Ông không chạy theo cái đẹp, cái thơ mộng, quay lưng lại với hiện thực rồi viết ra những lời giả dối, phù phiếm.

– Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người

– Nghề văn phải là một nghề sáng tạo.

Bài 3 trang 142

Viết về người trí thức nghèo và người nông dân khốn cùng, Nam Cao thường trăn trở, day dứt nhất về vấn đề gì?

Trả lời:

Những trăn trở, day dứt của Nam Cao khi viết về người trí thức nghèo và nông dân khốn cùng:

– Với người trí thức nghèo:

+ Họ là những nhà văn nghèo, những viên chức, những anh giáo khổ trường tư,… Họ có ý thức sâu sắc về giá trị sống và nhân phẩm, mang nhiều hoài bão cao đẹp, có tâm huyết và tài năng, luôn khát khao được phát triển nhân cách, được đóng góp cho xã hội.

+ Tuy nhiên, họ luôn bị gánh nặng cơm áo gạo tiền và hoàn cảnh xã hội o ép đến ngột ngạt, bất công làm cho “chết mòn”, thành “người thừa”. Nam Cao đã phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời thể hiện niềm khao khát một lẽ sống lớn, một cuộc sống có ích và có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.

– Với người nông dân:

+ Nam Cao đã vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội về nông thôn Việt Nam nghèo đói, xơ xác, thê thảm. Đối tượng được hướng tới là những con người thấp cổ bé họng, chịu số phận đắng cay, đoạ đày

=> Từ đó ông lên án xã hội tàn bạo đã huỷ hoại nhân cách con. Tuy nhiên, ông đi sâu vào miêu tả nội tâm để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện đó.

Bài 4 trang 142

Nêu những nét chính trong phong cách nghệ thuật Nam Cao

Trả lời:

Vài nét chính về phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

– Là cây bút hiện thực xuất sắc, Nam Cao thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc đời con người, đặc biệt chú ý và hướng tới thế giới bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài. Với ông, bản tính nội tại của con người là quan trọng. Nó chi phối hết thảy suy nghĩ, hành động bên ngoài. Vì lẽ đó, thế giới nội tâm nhân vật luôn được ông chú trọng. Nhân vật của ông hiện lên thường với tư cách là nhân vật tâm trạng. Họ cố vượt thoát khỏi cảnh ngộ mà chính họ ý thức rất rõ sự khốn cùng và bế tắc.

– Yêu thương và trân trọng những giá trị cao quý trong nhân cách con người, tác phẩm của Nam Cao ánh lên những giá trị nhân đạo vô bờ. Ông là nhà văn của những trí thức, nông dân nghèo khổ, vốn là hai mảng đề tài thường trực trong tác phẩm Nam Cao.

– Có biệt tài trong việc diễn tả và phân tích tâm lí nhân vật.

– Là nhà văn hiện thực ông tôn trọng hiện thực khách quan, đứng về phía quần chúng nghèo khổ để nói lên tiếng nói chính đáng của họ.

– Viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày nhưng vẫn làm nổi bật được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật.

– Giọng điệu buồn thương, chua chát, dửng dưng, lạnh lùng mà đầy thương cảm.

– Truyện của Nam Cao giàu chất triết lí, ngôn ngữ vừa trữ tình vừa sắc sảo, uyên bác mà lại sống động, tinh tế, uyển chuyển phù hợp với cuộc sống đời thường của quần chúng lao động.

=> Ngòi bút của ông lạnh lùng, tỉnh táo, nặng trĩu ưu tư và đằm thắm yêu thương. Nam Cao được đánh giá là nhà văn hàng đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

 

Bài soạn ” Chí Phèo” ( Nam Cao) số 2

Hướng dẫn soạn văn bài Chí Phèo phần 1 ngắn gọn nhất cho các bạn học sinh nắm được các kiến thức trọng tâm của phần tác giả trước khi tìm hiểu về tác phẩm.

Câu 1 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

* Tiểu sử Nam Cao

– Nam Cao (1915 – 1951) tên thật là Trần Hữu Tri, quê làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

– Xuất thân trong một gia đình nghèo khó, là người duy nhất trong gia đình được đi học.

– Học hết Thành chung, đi làm nhiều nơi: Sài Gòn, Hà Nội. Do đau ốm, ông phải về quê, sống vất vưởng, khi làm ông giáo trường tư, khi viết văn, làm gia sư, lúc thì phải về quê sống nhờ vợ.

– Năm 1943 tham gia Hội Văn hóa cứu quốc.

– Sau cách mạng tháng Tám, ông vừa viết văn vừa tham gia cách mạng.

– Năm 1946 tham gia đoàn quân Nam tiến, năm 1950 tham gia chiến dịch Biên Giới.

– Năm 1951 hi sinh trên đường đi công tác.

* Con người Nam Cao

– Là con người có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm phong phú, tâm trạng bất hòa sâu sắc đối với xã hội đương thời.

– Có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình thương, gắn bó ân tình sâu nặng, thiết tha với người nông dân nơi đồng ruộng làng quê.

– Luôn nghiêm khắc tự đấu tranh với mình một cách trung thực để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ hẹp, cố khắc phục tâm lí, lối sống tiểu tư sản vươn tới cuộc sống cao đẹp.

– Ông quan niệm, không có tình thương đồng loại thì không đáng gọi là người

=> Tất cả những đặc điểm về hoàn cảnh cuộc đời và con người Nam Cao đã đưa ông đến với con đường nghệ thuật hiện thực “vị nhân sinh” và tạo nên những tác phẩm thấm đượm tư tưởng nhân đạo sâu sắc.

Câu 2 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao:

– Văn học phải gắn bó với đời sống của nhân dân lao động, phản ánh chân thực cuộc sống.

– Văn chương chân chính phải có nội dung nhân đạo sâu sắc, vừa mang nỗi đau nhân thế, vừa có thể tiếp sức mạnh cho con người vươn tới cuộc sống nhân ái, công bằng.

– Lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu, người cầm bút phải có lương tâm.

– Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người

– Nghề văn phải là một nghề sáng tạo.

– Nhà văn phải có đôi mắt tình thương, tác phẩm văn chương hay, có giá trị chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc.

Câu 3 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Những trăn trở, day dứt của Nam Cao:

* Khi viết về người trí thức nghèo

– Các nhân vật ấy là những nhà văn nghèo, những viên chức, những anh giáo khổ trường tư,… có ý thức sâu sắc về giá trị sống và nhân phẩm, mang nhiều hoài bão cao đẹp, có tâm huyết và tài năng, luôn khát khao được phát triển nhân cách, được đóng góp cho xã hội, được khẳng định trước cuộc đời. Tuy nhiên, họ lại bị xã hội bất công và cuộc sống nghèo đói bóp nghẹt, tàn phá tâm hồn.

* Khi viết về người nông dân

– Nam Cao đã vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội về nông thôn Việt Nam nghèo đói, xơ xác, thê thảm. Đối tượng được hướng tới là những con người thấp cổ bé họng, chịu số phận đắng cay, đoạ đày. Từ đó ông lên án xã hội tàn bạo đã huỷ hoại nhân cách của những con người bản chất vốn hiền lành. Tuy nhiên, ông đi sâu vào miêu tả nội tâm để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện của họ ngay cả khi họ bị xã hội vùi dập, cướp mất cả nhân hình, nhân tính.

=> Các sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao tập trung vào cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản, cuộc sống của người nông dân, thể hiện nỗi day dứt, đau đớn của tác giả trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, hủy hoại nhân cách trong xã hội.

Câu 4 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Đặc điểm cơ bản trong phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

– Nam Cao đặc biệt quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, có hứng thú khám phá con người trong con người

– Có biệt tài và khuynh hướng tìm hiểu, đi sâu khai thác nội tâm nhân vật, phân tích, diễn tả tâm lý nhân vật.

– Cách tạo dựng đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm chân thật, sinh động

– Viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc.

– Giọng văn: buồn thương, chua chát, đau xót nhưng đầy thương cảm, thương yêu thân phận con người yếu đuối trong xã hội.

Tìm hiểu chung về tác giả Nam Cao

I. Cuộc đời

– Nam Cao (1917-1951) tên thật Trần Hữu Trí, sinh tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam – nay là xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân, Hà Nam. Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao.

– Học hết bậc Thành chung, ông vào Sài Gòn làm thư kí cho một hiệu may, bắt đầu viết truyện ngắn, sáng tác của Nam Cao thời kì đầu chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn.
– Trở ra Bắc, sau khi tự học lại để thi lấy bằng Thành chung, Nam Cao dạy học ở Trường tư thục Công Thành, trên đường Thụy Khuê. Khi phát xít Nhật vào Đông Dương, trường bị trưng dụng, Nam Cao thôi dạy học.

– Rời Hà Nội, Nam Cao về dạy học ở làng quê Đại Hoàng. Thời kì này, Nam Cao cho ra đời nhiều tác phẩm, tiêu biểu như Truyện người hàng xóm và hoàn thành Sống mòn. Năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này.

– Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lí Nhân. Năm 1946, Nam Cao ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc. Tiếp đó, ông vào miền Nam với tư cách phóng viên.

– Năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc. Ông là thư kí tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc.

– Năm 1948 Nam Cao gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam và hi sinh trong chuyến công tác tại Ninh Bình vào năm 1951.

II. Sự nghiệp văn học

– Nam Cao bắt đầu sự nghiệp sách tác của mình vào năm 1936. Ông có sáng tác thơ nhưng không thành công.

– Ông chỉ viết một vở kịch: Đóng góp (1951)

– Ông nổi tiếng với những sáng tác văn xuôi, bao gồm: tiểu thuyết Chuyện người hàng xóm (1944), Sống mòn (1956); truyện ngắn: khoảng 50 truyện, trong đó những truyện tiêu biểu nhất là Chí Phèo, Đời thừa, Lão Hạc,…

– Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, có đóng góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa truyện ngắn và tiểu thuyết ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.

– Nam Cao là người có quan điểm nghệ thuật xuất sắc, tiến bộ, đạt được thành tựu xuất sắc về đề tài về người tri thức nghèo và người nông dân cùng khổ. Đặc biệt, ông quan tâm đến đời sống tinh thần của con người, luôn đau đớn trước tình trạng con người bị rơi vào thảm cảnh “sống mòn”.

– Ông là nhà văn có phong cách độc đáo: luôn hướng tới thế giới nội tâm của con người; có biệt tài trong việc miêu tả và phân tích tâm lí, viết về những cái nhỏ nhặt hằng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc.

Tổng kết

  • Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, có đóng góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hoá truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Ông có quan điểm nghệ thuật sâu sắc, tiến bộ, đạt được thành tựu xuất sắc về đề tài người trí thức nghèo và người nông dân cùng khổ. Ông đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của con người, luôn đau đớn trước tình trạng con người bị rơi vào thảm cảnh sống mòn, bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí bị huỷ hoại cá nhân tính.
  • Nam Cao là nhà văn có phong cách độc đáo: luôn hướng tới thế giới nội tâm của con người; có biệt tài trong việc miêu tả và phân tích tâm lí; viết về cái nhỏ nhặt hằng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc.

 

Bài soạn ” Chí Phèo” ( Nam Cao) số 3

Câu 1 (trang 142 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

* Tiểu sử

– Trần Hữu Tri ( 1917- 1951), quê Hà Nam – vùng chiêm trũng, nông dân xưa nghèo đói, bị ức hiếp, đục khoét.

– Sau khi học xong bậc thành chung, ông vào Sài Gòn làm báo, thất nghiệp, đi dạy học ở Hà Nội,về quê.

– 1943 tham gia Hội văn hóa cứu quốc, làm chủ tịch xã (1945), kháng chiến chống Pháp.Hy sinh 1951.

* Con người

– Thường mang tâm trạng u uất, bất hòa với XHTDPK. Thừơng luôn tự đấu tranh nội tâm để hướng tới những điều tốt đẹp.

– Có tấm lòng đôn hậu, yêu thương con người, nhất là những người bé nhỏ, nghèo khổ; gắn bó sâu nặng với bà con ruột thịt ở quê hương.

Câu 2 (trang 142 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

Nội dung chính trong quan điểm nghệ thuật của:

– Văn chương phải vì con người, phải trung thực, không nên viết những điều giả dối, phù phiếm.

– Tác phẩm VH phải có ý nghĩa XH rộng lớn sâu sắc, phải có nội dung nhân đạo sâu sắc.

– Người viết văn phải không ngừng sáng tạo, tìm tòi.

– Nhà văn phải có vốn sống phong phú thì mới viết được tp có giá trị.

Câu 3 (trang 142 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Viết về người trí thức nghèo: trăn trở bởi bi kịch tinh thần, giữa một bên là khát khao lí tưởng và thực tại.

– Viết về người nông dân: trăn trở, day dứt vì số phận bi thảm, bần cùng, bị tha hóa

Câu 4 (trang 142 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

Nét chính trong phong cách nghệ thuật của:

– Đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần – con người bên trong của nhân vật.

– Có biệt tài phát hiện, miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật

– Lời văn đối thoại và độc thoại tinh tế, đặc sắc.

– Cốt truyện đơn giản đề tài gần gũi nhưng đặt ra những vấn đề sâu xa

– Giọng điệu lời văn: buồn thương, chua chát dửng dưng, lạnh lùng mà thương cảm, đằm thắm.

B. Tác giả

– Tên: Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri

– Quê quán: Hà Nam

– Quá trình hoạt động văn học, kháng chiến:

+ Sau hơn ba năm bôn ba ở Sài Gòn kiếm sống ông trở về quê nhà dạy học ở trường tư thục nhưng cuộc đời giáo khổ trường tư cũng không yên ổn, quân Nhật vào Đông Dương, trường đóng của ông phải sống chật vật, lay lắt bằng nghề viết văn và gia sư

+ Ông tham gia cách mạng từ năm 1943 và tích cực hoạt động, dùng ngòi bút để chiến đấu

+ Năm 1951 trên đường đi công tác ông bị giặc phục kích và sát hại

– Phong cách nghệ thuật:

– Luôn đi sâu khám phá tinh tế nội tâm nhân vật

+ Đặc biệt sắc xảo trong việc diễn tả trạng thái lưỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc, dở cười ở nhân vật

+ Xây dựng được những đoạn độc thoại nội tâm hết sức chân thực sống động

– Nam Cao thường viết về cái nhỏ nhặt xoàng xĩnh hằng ngày nhưng lại đặt ra những vấn đề lớn lao có tầm triết lí sâu sắc

– Giọng văn đa dạng, linh hoạt nhưng nổi lên hai giọng tự sự lạnh lùng và trữ tình sôi nổi thiết tha

– Ngôn ngữ của Nam Cao giản dị sống động như đời sống thực và có chiều sâu cảm xúc

+ Phê phán sự thoát li, khẳng định giá trị văn học nghệ thuật: Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than

+ Văn học chân chính là văn học thấm đượm tư tưởng nhân đạo, vừa mang nỗi đau, vừa tiếp thêm sức mạnh cho con người trong cuộc đấu tranh vươn tói cuộc sống nhân ái, công bằng, hòa hợp, làm cho người gần người hơn

+ Đề cao sự tìm tòi sáng tạo trong nghề văn

+ Nhà văn phải có lương tâm, nhân cách và trách nhiệm với nghề nghiệp của mình

⇒ Đây là những quan niệm đúng đắn toàn diện thể hiện quan niệm sống cùng nhân cách của nhà văn

– Tác phẩm chính:

“Giăng sáng”; “Chí Phèo”; “Đời thừa”; “Lão Hạc”; “Sống mòn”; “Một bữa no”; “Quên điều độ”; “Tư cách mõ”; “Mua danh”

C. Tác phẩm Chí Phèo

– Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:

+ Lúc đầu truyện có tên là “Cái lò gạch cũ”; khi in sách lần đầu, nhà xuất bản tự ý đổi tên là “Đôi lứa xứng đôi”

+ Sau khi in lại trong tập “Luống cày”, tác giả đặt tên là “Chí Phèo”.

– Thể loại: Truyện ngắn

– Phương thức biểu đạt: Tự sự

– Tóm tắt

Chí Phèo là một đứa trẻ bị bỏ hoang trong một lò gạch cũ và được nhặt về nuôi. Khi lớn lên Chí Phèo đi ở hết nhà này nhà khác để nuôi thân. Đến năm 20 tuổi, hắn làm canh điền cho nhà Bá Kiến và tấm bi kịch cuộc đời hắn từ diễn ra từ đây. Vì Bá Kiến ghen nên hắn bị giải lên huyện và bị bắt bỏ tù. Hắn ở tù bảy tám năm, sau khi trở về, hắn xuất hiện với bộ dạng khác hẳn ngày xưa với nhiều hình xăm trên mình. Hắn lúc nào cũng say và cứ say là hắn lại đến nhà Bá Kiến để chửi bới, rạch mặt ăn vạ. Bá Kiến đã biến Chí Phèo thành kẻ tay sai chuyên đâm thuê chém mướn cho lão. Trong tình trạng luôn say mèm, ai cho tiền sai gì hắn cũng làm, hắn trở thành một con quỷ dữ của làng Vũ Đại luôn làm những trò tác quái phá làng, phá xóm, khiến người dân ai ai cũng khiếp sợ. Cuộc đời hắn không lúc nào tỉnh. Vào một đêm trăng, Phèo say thì gặp Thị Nở. Đêm đó, họ ăn nằm với nhau. Phèo nửa đêm đau bụng, nôn mửa, sáng hôm sau, Thị cho hắn một bát cháo hành. Cũng từ đó hắn khao khát trở về cuộc sống lương thiện và được sống cùng Thị Nở. Nhưng một lần nữa hắn bị đạp xuống vực vì bà cô của Thị không đồng ý. Chí Phèo tuyệt vọng, lại uống và lại xách dao ra đi, vừa đi hắn vừa chửi rủa sự đời. Hắn cầm dao đến nhà Bá Kiến đòi trả lương thiện cho hắn. Hắn đâm chết Bá Kiến rồi tự tử. Thị Nở nghe tin hắn chết nhìn xuống bụng và nghĩ đến lò gạch.

– Bố cục:

+ Truyện ngắn Chí Phèo có tên là Cái lò gạch cũ; khi in sách lần đầu, nhà xuất bản tự ý đổi tên là Đôi lứa xứng đôi

+ Sau khi in lại trong tập Luống cày tác giả đặt tên là Chí Phèo

– Ngôi kể (đối với văn bản truyện) : Thứ 3

– Ý nghĩa nhan đề

+ Truyện ngắn Chí Phèo có tên là Cái lò gạch cũ; khi in sách lần đầu, nhà xuất bản tự ý đổi tên là Đôi lứa xứng đôi

+ Sau khi in lại trong tập Luống cày tác giả đặt tên là Chí Phèo

– Giá trị nội dung:

+ Qua truyện ngắn Nam Cao đã khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám: một bộ phận nông dân lương thiện bị đẩy và tình trạng lưu manh hóa.

+ Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác tâm hồn của người nông dân lương thiện đồng thời khẳng định bản chất lương thiện ngay trong khi họ bị vùi dập mất cả

– Giá trị nghệ thuật:

Tác phẩm thể hiện tài năng truyện ngắn bậc thầy của Nam Cao: xây dựng nhân vật điển hình bất hủ; nghệ thuật trần thuật linh hoạt, tự nhiên mà vẫn nhất quán chặt chẽ; ngôn ngữ trần thuật đặc sắc

 

Bài soạn ” Chí Phèo” ( Nam Cao) số 4

Câu 1:

Tiểu sử và con người của nhà văn Nam Cao có những đặc điểm giúp ta hiểu thêm về sự nghiệp văn học của ông là:

  • Tên khai sinh: Trần Hữu Tri
  • Quê quán: Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
  • Xuất thân trong một gia đình nghèo khó, là người duy nhất trong gia đình được đi học.

* Trước cách mạng:

  • Học hết Thành Chung, đi làm ở nhiều nơi: Sài Gòn, Hà Nội. Do đau ốm nên ông phải về quê, sống vất vưởng, khi làm ông giáo trường tư, khi thì viết văn, làm gia sư, lúc thì phải về quê sống nhờ vợ.
  • Năm 1943, ông tham gia Hội Văn hóa cứu quốc.

* Sau cách mạng:

  • Vừa viết văn vừa tham gia cách mạng
  • Năm 1946, ông tham gia đoàn quân Nam tiến
  • Năm 1950, tham gia chiến dịch Biên giới.
  • Năm 1951, ông hi sinh trên đường đi công tác

* Con người của Nam Cao:

    • Có bề ngoài lạnh lùng, ít nói, đời sống nội tâm phong phú
    • Tâm trạng bất hòa sâu sắc đối với xã hội đương thời
  • Sự gắn bó ân tình sâu nặng, thiết tha với người nông dân nơi đồng ruộng, nơi làng quê
  • Tinh thần tự đấu tranh để vượt qua chính mình, cố khắc phục tâm lý, lối sống tiểu tư sản.

Câu 2:

Những nội dung chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao:

* Trước cách mạng tháng Tám:

    • Nghệ thuật phải bám sát vào cuộc đời, gắn bó với đời sống nhân dân lao động
    • Nhà văn có đôi mắt tình thương, tác phẩm văn chương hay, có giá trị chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc.
    • Văn chương là lĩnh vực đòi hỏi phải khám phá, tìm tòi, sáng tạo.
  • Lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu, người cầm bút phải có lương tâm.

* Sau cách mạng: Nam Cao khẳng định sứ mệnh của nhà văn lúc đó phải phục vụ cho cuộc chiến đấu. Đây là bước tiến vượt bậc trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao.

Câu 3:

Viết về người trí thức nghèo và người nông dân cùng khổ, Nam Cao thường trăn trở, day dứt nhất về vấn đề: tình trạng con người bị “xói mòn” về nhân phẩm, hủy hoại nhân cách trong xã hội ngột ngạt, phi nhân tính. Đó cũng chính là lý do tại sao những sáng tác trước cách mạng tháng Tám của ông thường tập trung vào những người tiểu tư sản nghèo và cuộc sống của người nông dân.

Câu 4:

Những nét chính trong phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

  • Ông luôn hướng tới thế giới nội tâm của con người
  • Có biệt tài trong việc miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật
  • Viết về những cái nhỏ nhặt hằng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lý sâu sắc và có giọng văn đặc sắc

=> Nói chung, Nam Cao có ngòi bút lạnh lùng, tỉnh táo, nặng trĩu ưu tư và đằm thắm yêu thương. Ông được đánh giá là nhà văn hàng đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

 

Bài soạn ” Chí Phèo” ( Nam Cao) số 5

Câu 1 (trang 155 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Cách vào truyện độc đáo của Nam Cao và ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo

+ Nam Cao mở đầu truyện bằng một tình huống độc đáo, ấn tượng: Chí Phèo vừa đi vừa chửi, nhưng điều lạ lùng là không có người chửi lại hắn và cũng không có người nghe hắn chửi. 

– Ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo:

+ Tiếng chửi mở đầu tác phẩm một cách bất ngờ: Đây cũng là cách giới thiệu nhân vật một cách ấn tượng.

+ Đây là tiếng chửi của một kẻ say rượu có vẻ vu vơ mơ hồ. Nhưng thật ra rất tỉnh táo. Hình như anh ta mượn rượu để chửi đời. Tiếng chửi rất văn vẻ có thứ tự: Chửi trời, chửi đời, cả làng Vũ Đại, Cha đứa nào không chửi nhau với hắn, đứa chết mẹ nào đã đẻ ra Chí. Đối tượng vì thế đã được xác định: Cái xã hội đã sinh ra kiếp sống Chí Phèo.

+ Tiếng chửi ấy thể hiện tâm trạng bi phẫn cùng cực của Chí.

+ Thể hiện khao khát được giao tiếp với mọi người của Chí

Câu 2 (trang 156 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Thị Nở: xấu xí, dở hơi, gia đình có mả hủi nên cả làng xa lánh, chê cười.

– Thị Nở là người đầu tiên và duy nhất đem lại cho Chí Phèo sự quan tâm và tình thương yêu chân thành.

– Chí Phèo có sự thay đổi, nhận thức về cuộc đời mình:

+ Hắn thấy già mà vẫn cô độc.

+ Đói rét, bệnh tật hắn có thể chịu được nhưng hắn sợ nhất là cô độc.

+ Chí cảm nhận được âm vang cuộc sống chung quanh mình:

+ Tiếng chim hót trong lành buổi sáng.

+ Tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá ven sông.

+ Tiếng người cười nói đi chợ về.

– Chí hồi tưởng về quá khứ và hi vọng vào tương lai:

+ Có một thời hắn mơ ước có cuộc sống gia đình: “Chồng cày thuê…”

+ Thị sẽ mở đường cho Chí trở lại cuộc sống lương thiện.

Câu 3 (trang 155 SGK Ngữ văn 1 1tập 1)

* Khi bị thị Nở dứt tình thì tâm trạng của Chí có nhiều thay đổi: Chí ngạc nhiên sau đó Chí chợt hiểu. Quá trình diễn biến tâm lí đầy phức tạp: thức tỉnh – hi vọng – thất vọng, đau đớn – phẫn uất – tuyệt vọng.

+ Chí thức tỉnh và muốn làm người lương thiện. Chí không thể đập phá, rạch mặt ăn vạ được nữa.

+ Nhưng ai cho Chí lương thiện.

+ Kẻ thù của Chí không phải một mình bá Kiến mà là cả xã hội đương thời thối nát và độc ác.

+ Dưới con mắt của mọi người, của xã hội ấy, Chí Phèo chỉ có thể là con quỷ dữ không thể là người. Vì thế một người tập trung tất cả cái xấu như thị Nở đã phủ phàng cự tuyệt chí.

+ Chí vô cùng đau đớn tuyệt vọng “ôm mặt khóc rưng rức”. Chí dùng dao đâm chết kẻ thù và tự sát.  Chí đã chết trên ngưỡng cửa lương thiện => Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

* Những hành động bất ngời của Chí:

– Càng tuyệt vọng, hắn càng uống rượu; nhưng càng uống rượu, hắn càng tỉnh ra.

– Hắn ý thức được nỗi đau thân phận của mình

– Hành động Chí Phèo đâm chết Bá Kiến không phải vì say rượu mà vì hắn hiểu rõ nguồn gốc bi kịch của đời mình, để đòi làm người lương thiện.

Câu 4 (trang 155 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Nghệ thuật điển hình hóa của Nam Cao trong xây dựng nhân vật:

– Qua nhân vật Chí Phèo, người đọc có thể thấy rõ nghệ thuật điển hình hóa của Nam Cao. Chí Phèo là hiện tượng có tính quy luật trong xã hội đương thời, là sản phẩm của tình trạng đè nén, áp bức ở nông thôn trước Cách mạng. Vì bị đè nén áp bức đến đường cùng mà họ không còn cách nào khác buộc phải chống trả bằng cách lưu manh hóa

– Tính cách: Chí Phèo có tính cách đặc biệt, độc đáo, là con quỷ làng Vũ Đại, là kẻ chuyên ăn vạ đòi nợ thuê, lè nhè say khướt.

– Nghệ thuật miêu tả nhân vật:

+ Khắc họa qua ngoại hình: dữ tợn, hệt như quỷ dữ.

+ Khắc họa qua ngôn ngữ: tiếng chửi, lời nói.

+ Khắc họa qua hành động.

– Nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật: tinh tế, sâu sắc, tâm lý phức tạp nhiều tầng bậc được Nam Cao thể hiện bằng ngòi bút hiện thực đỉnh cao.

=> Nhân vật hiện lên sống động, thật như một số phận ở ngoài đời.

=> Dù rất riêng, rất đặc sắc nhưng Chí Phèo lại mang tính đại diện cho một hạng người, một số phận người trong xã hội phong kiến nửa thực dân: đó là những người nông dân bị dồn vào đường cùng tha hoa, quằn quại trước bi kịch muốn được làm người.

Câu 5 (trang 155 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

    Nghệ thuật kể chuyện

– Cách dẫn dắt tình tiết linh hoạt (không theo trật tự thời gian) 

– Giọng văn biến hóa, không đơn điệu

– Ngôn ngữ đặc biệt tự nhiên, sống động, sử dụng khẩu ngữ quần chúng một cách triệt để, mang hơi thở của đời sống.

– Giọng điệu trần thuật có sự kết hợp hài hòa giữa đối thoại với độc thoại, giữa lời gián tiếp và lời nửa tiếp.

Câu 6 (trang 155 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

 – Tư tưởng nhân đạo của phần lớn các cây bút hiện thực khác chủ yếu thể hiện ở sự đồng cảm với nỗi khổ về vật chất của người nông dân, lên án cái xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy họ vào đường cùng, ngợi ca phẩm chất của họ.

– Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao trong truyện ngắn này mới mẻ và sâu sắc:

Chí Phèo tố cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa phong kiến tàn bạo đã cướp đi nhân hình, nhân tính của người dân lương thiện, đẩy họ vào bi kịch bị tha hóa, lưa manh hóa, bi kịch về tinh thần.

+ Phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người ngay cả khi tưởng họ biến thành quỷ dữ.

Luyện tập

Câu 1 (trang 156 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

    Nam Cao đã gửi gắm những suy tư và những quan niệm sâu sắc của mình về nghề văn và sứ mạng của người cầm bút chân chính. Bản chất của văn chương là sáng tạo, không chấp nhận sự rập khuôn và sự dễ dãi. “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. 

    Ý kiến nêu trên khẳng định yêu cầu hết sức quan trọng đối với tác phẩm văn chương và các tác phẩm nghệ thuật. Người nghệ sĩ ở đây phải sáng tạo, tìm tòi và phát hiện ra những cái mới.

    Đây là ý kiến hoàn toàn đúng, phản ánh bản chất của nghệ thuật, đã được nhiều người thừa nhận và khẳng định theo những cách diễn đạt khác nhau. Ở đây, Nam Cao đã diễn đạt điều đó một cách ngắn gọn, hàm xúc và giàu hình ảnh. Soi tỏ vào các sáng tác của Nam Cao có thể thấy rất rõ vấn đề này.

    Ví dụ: Trong các sáng tác của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám ở đề tài người nông dân. Đây là đề tài không phải mới mẻ đối với các nhà văn hiện thực, bởi trước Nam Cao đã có Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… Nhưng Nam Cao không đi lại lối mòn của các nhà văn trước đó, mà ông đi sâu vào việc khá phá quá trình con người bị tha hóa, bị đè nén trở thành những tên lưu manh hóa. Từ đó ông đặt ra các vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân sinh.

Câu 2 (trang 156 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

    Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao được coi làm một kiệt tác của nền văn chương hiện đại.

– Nam Cao đã khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

– Nhà văn kết án đanh thép xã hội tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động. Khẳng định bản chất lương thiện của họ ngay cả khi họ bị vùi dập cả nhân hình, nhân tính.

– Nghệ thuật:

+ Xây dựng thành công những nhân vật điển hình

+ Nghệ thuật trần thuật linh hoạt, tự nhiên mà nhất quán, chặt chẽ

+ Ngôn ngữ đặc sắc, diễn tả tâm lí nhân vật một cách khéo léo, sâu sắc.

Tóm tắt

   Truyện ngắn Chí Phèo là câu truyện về nhân vật cùng tên Chí Phèo – một đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi trong một cái lò gạch cũ. Hắn được người làng chuyền tay nhau nuôi. Lớn lên, Chí Phèo đi ở hết nhà này tới nhà nọ và làm canh điền cho Lý Kiến. Vì ghen tuông vô lí, Lý Kiến đẩy Chí Phèo vào tù, bảy năm sau Chí Phèo trở về làng trong một bộ dạng khác hẳn của một tay anh chị. Hắn bị Bá Kiến lợi dụng và biến thành tay sai. Hắn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, chuyên vạch mặt ăn vạ và gây tai họa cho người trong làng.

   Mối tình với Thị Nở đã làm Chí Phèo hồi sinh, hắn khao khát làm hòa với mọi người và sống lương thiện. Nhưng bà cô Thị Nở và cái xã hội đương thời đã chặn đứng con đường trở về làm người lương thiện của Chí . Tuyệt vọng, hắn tìm giết Bá Kiến và tự sát. Nghe tin Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn xuống bụng và thầm nghĩ đến một cái lò gạch bỏ không, xa đường cái và vắng người qua lại.

Bố cục: 3 phần

 Phần 1 (từ đầu đến cả làng Vũ Đại cũng không ai biết): Chí Phèo xuất hiện cùng tiếng chửi.

– Phần 2 ( tiếp đến không bảo người nhà đun nước mau lên): Chí Phèo mất hết nhân tính.

– Phần 3 (còn lại): Sự thức tỉnh, ý thức về bi kịch của cuộc đời Chí Phèo.

ND chính

 Chí Phèo là lời tố cáo đanh thép của Nam Cao về xã hội đương thời tàn bạo, thối nát đã đẩy người dân lương thiện vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của con người ngay cả khi bị vùi dập mất hết cả nhân hình, nhân tính

Nguồn : Tổng Hợp