Hệ thống toàn bộ các bài soạn “Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ” văn lớp 12

Hệ thống toàn bộ các bài soạn “Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ” văn lớp 12

Bài soạn “Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ”- 1

I. Tìm hiểu đề và lập dàn ý

Tìm hiểu đề: xác định đề bài, yêu cầu nội dung, phương pháp, phạm vi tư liệu

Dàn ý

MB: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ được phân tích

TB:

– Hoàn cảnh sáng tác, phong cách sáng tác, nội dung chính, vị trí thơ…

– Bàn về giá trị nội dung, nghệ thuật

– Có thể phân tích từng khổ, từng dòng

– Phân tích hình tượng thơ, chỉ ra biện pháp nghẹ thuật, phân tích nhịp điệu, cấu tứ

KB: Khẳng định, đánh giá chung về bài thơ

II. Luyện tập

Dàn ý:

MB: Giới thiệu về Huy Cận, bài thơ Tràng Giang và đoạn thơ phân tích

TB: Nêu hoàn cảnh sáng tác, cảm xúc bao trùm bài

– Nội dung bao quát cảnh và tình trong toàn bộ bài thơ

   + Hai câu thơ đầu: Cảnh thiên nhiên lúc chiều tà

   + Một nét vẽ mây núi hùng vĩ

   + Một cánh chim nhỏ tựa bóng chiều

– Thủ pháp tương phản: nỗi lòng cô đơn, nhỏ bé, chấp chới giữa dòng đời

   + Hai câu thơ thể hiện nỗi nhớ nhà, nhớ quê dâng ngập lòng người, nỗi khao khát tìm chỗ dựa cho tâm hồn

Nghệ thuật dùng từ láy âm “dờn dợn” lấy cái không có ngoại cảnh để nói cái có ở lòng người

Đánh giá nội dung và nghệ thuật đoạn thơ

   + Đoạn thơ nói lên nỗi niềm bơ vơ, buồn bã của “cái tôi” trữ tình, cảm xúc hướng về quê hương

   + Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển ở hình thức ngôn ngữ, ở bút pháp tả cảnh ngụ tình

KB: Đánh giá chung về đoạn thơ

Bài soạn “Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ”- 2

1. Tìm hiểu đề và lập dàn ý

Đề 1 :

a. Tìm hiểu đề:

– Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ ra đời vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Địa điểm là vùng chiến khu Việt Bắc. Lúc này Chủ tịch Hồ Chí Minh đang trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ.

b. Lập dàn ý:

– Mở bài: Giới thiệu khái quát hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

– Thân bài:

Gợi ý:

     + Vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng trong một đêm trăng nơi chiến khu Việt Bắc.

     + Nổi bật lên giữa bức tranh thiên nhiên là người chiến sĩ “nặng nỗi nước nhà” (khác với hình ảnh ẩn sĩ và thiên nhiên trong thơ cổ).

     + Tính cổ điển và hiện đại trong phong cách thơ HCM.

* Cổ điển: Thể thơ Đường luật, hình ảnh thiên nhiên (trăng, suối, hoa…)

* Hiện đại: Nhân vật trữ tình lo “nỗi nước nhà”

– Kết bài:

     + Sự hài hòa về tâm hồn nghệ sĩ và ý chí chiến sỹ trong bài thơ.

     + Đánh giá chung: Khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

Đề 2 :

a. Tìm hiểu đề:

– Nhớ lại quang cảnh chiến đấu sục sôi, hào hùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Bắc với nhiều lực lượng tham gia.

– Nhớ lại niềm vui khi tin tức chiến thắng của mọi miền đất nước tiếp nối báo về. (4 câu cuối).

b. Lập dàn ý:

– Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ.

– Thân bài:

     + Triển khai các ý trong phần tìm hiểu đề.

     + Nghệ thuật điêu luyện trong việc sử dụng thể thơ lục bát:

* Cách dùng từ ngữ, hình ảnh.

* Cách vận dụng các biện pháp tu từ (so sánh, cường điệu).

* Giọng thơ hào hùng, sôi nổi.

– Kết bài:

Đoạn thơ thể hiện thành công cảm hứng ngợi ca cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.

2. Cách viết bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.

– Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ là trình bày ý kiến , nhận xét, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ đó.

– Nội dung:

     + Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ

     + Bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật

     + Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ.

II. Hướng dẫn soạn bài

Luyện tập

1. Mở bài

   – Giới thiệu về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng Giang.

   – Nêu khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ cần phân tích.

2. Thân bài

* Khái quát chung về đoạn thơ: Bốn câu thơ kết thúc bài thơ là khổ thơ hay nhất, đặc sắc nhất, nó vừa thể hiện nội dung, cảm hứng sáng tạo của bài thơ, đồng thời cũng thể hiện phong cách của thơ Huy Cận.

* Nội dung:

   – Cảnh chiều xuống trên sông đẹp nhưng buồn.

   – Tâm trạng của nhà thơ: nỗi buồn nhớ nhà, nhớ quê hương.

* Nghệ thuật:

   – Hình ảnh thơ đối lập, gợi cảm của mây hùng vĩ, của cánh chim bé nhỏ.

   – Sử dụng thành công các từ láy: lớp lớp, dợn dợn; âm điệu thơ phù hợp với việc giãi bày tâm trạng nhà thơ.

   – Đoạn thơ có sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển của thơ Đường với bút pháp lãng mạn, hiện đại của thơ Mới.

Bài soạn “Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ”- 3

2. Tóm tắt nội dung bài học

Các bước triển khai bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

2.1. Bước 1: Xác định các yêu cầu của đề

  • Xác định dạng đề, yêu cầu nội dung (đối tượng), yêu cầu về phương pháp, Yêu cầu về phạm vi tư liệu – dẫn chứng.

2.2. Bước 2: Lập dàn ý

  • Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, bài thơ, đoạn thơ (vị trí đoạn thơ).
  • Thân bài:
    • Khái quát về phong cách tác giả, hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính, … của bài thơ. Nêu vị trí đoạn thơ, thể thơ, chú ý âm điệu, giọng điệu.
    • Bàn về những giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ để làm rõ vấn đề cần nghị luận.
    • Có thể bổ ngang : phân tích từng khổ, từng dòng.
    • Có thể bổ dọc bài thơ : Phân tích theo hình tượng, theo nội dung xuyên suốt bài thơ.
    • Chú ý những hình ảnh biểu tượng, những lối nói ví von so sánh, những biện pháp nghệ thuật tiêu biểu.
    • Cần bám sát từ ngữ, âm thanh, vần , nhịp điệu, cấu tứ,… của bài thơ để phân tích.
  • Kết bài: Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ.

2.3. Bước 3: Viết bài

2.4. Bước 4: Kiểm tra, chỉnh sửa (nếu có)

3. Soạn bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

Đề bài:

Hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài “Tràng giang” của Huy Cận:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Gợi ý làm bài:

a. Mở bài

  • Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.
  • Giới thiệu về đoạn thơ cần phân tích.

b. Thân bài

  •  Nội dung:
    • Cảnh chiều xuống trên sông: đẹp như­ng buồn.
    • Tâm trạng của nhà thơ: Nỗi buồn nhớ nhà, nhớ quê hư­ơng.
  • Nghệ thuật:
    • Hình ảnh đối lập, gợi cảm: núi mây hùng vĩ cánh chim bé nhỏ.
    • Âm điệu phù hợp: dập dềnh, mênh mang như­ sóng n­ước trên Tràng giang.
    • Tứ thơ mới mẻ có sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển của thơ Đ­ường với bút pháp lãng mạn của thơ mới.

c. Kết bài

  • Đánh giá lại giá trị của đoạn thơ.

Bài soạn “Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ”- 4

    Soạn bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ do Đọc Tài Liệu tổng hợp, biên soạn giúp các em củng cố và nâng cao kiến thức về văn nghị luận, biết cách làm bài nghị luận về một bài thơ, một đoạn thơ.

Cùng Đọc tài liệu tham khảo nội dung soạn bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ để làm quen với phương pháp nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ, cách làm và lập dàn ý chi tiết cho bài văn nhé !

KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ NGHỊ LUẬN MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ

1. Thế nào là nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ ?

Nghị luận về thơ (tác phẩm hoặc đoạn thơ) là quá trình sử dụng những thao tác làm văn để làm rõ tư tưởng, phong cách nghệ thuật của thơ đã tác động tới cảm xúc thẩm mĩ, tư duy nghệ thuật và những liên tưởng sâu sắc của người viết.

2. Cách viết bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

a) Các thao tác cần thực hiện:

– Đọc kĩ đoạn thơ, bài thơ, nắm chắc mục đích, hoàn cảnh sáng tác, vị trí đoạn thơ, bài thơ.

– Đoạn thơ, bài thơ có dấu hiệu gì đặc biệt về ngôn ngữ, hình ảnh?

– Đoạn thơ, bài thơ thể hiện phong cách nghệ thuật, tư tưởng tình cảm của tác giả như thế nào?

b) Cấu trúc bài làm

Bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ thông thường gồm 3 phần:

–  Mở bài: Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ.

– Thân bài: Bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ.

– Kết bàiĐánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ.

=>  Bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cũng có cấu trúc như các nghị luận khác. Nhưng trong phần thân bài, cần biết bám sát vào các yếu tố của thơ như: hình ảnh, cảm xúc, nhịp, vần,… để phân tích, từ đó phát hiện ra cảm xúc chủ đạo và sự độc đáo của nhà thơ trong cảm xúc, trong miêu tả.

SOẠN BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ

Không chỉ mang cho các em học sinh bài soạn Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ ngắn gọn, Đọc tài liệu còn cung cấp cho các em bài soạn hay nhất cho các em tham khảo.

SOẠN BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ NGẮN GỌN

Câu 1 trang 84 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Tìm hiểu đề và lập dàn ý cho 2 đề bài sau:

Đề 1:

Phân tích bài thơ sau của Hồ Chí Minh

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

1947

Đề 2:

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu

Những đường Việt Bắc của ta
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miềm
Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

Trả lời

  Tìm hiểu đề Lập dàn ý
Đề 1

+ Hoàn cảnh ra đời bài thơ: viết vào mùa đông 1947, năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

+ Phân tích tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ trong hoàn cảnh lớn và hoàn cảnh nhỏ của bài thơ để thấy hết giá trị.

Mở bài: Giới thiệu khái quát hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Thân bài:

+ Vẻ đẹp huyền ảo, lung linh của núi rừng đêm trăng (trăng, hoa, cây cổ thụ, tiếng suối).

+ Nhân vật trữ tình mải mê lo việc nước đến tận khuya, tình cờ bắt gặp tiếng suối dưới trăng (khác các ẩn sĩ tìm đến thiên nhiên để lánh đời, dưỡng tính).

+ Bài thơ hiện đại ở chỗ con người nổi bật giữa bức tranh thiên nhiên, cổ điển ở bút pháp chấm phá, tả cảnh ngụ tình.

Kết bài: Khẳng định vẻ đẹp hài hòa giữa tâm hồn nghệ sĩ và ý chí chiến sĩ trong bài thơ.

Đề 2

Khí thế cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dũng mãnh, hào hùng (thể hiện qua lực lượng tham gia, những con đường và thời điểm tổng tiến công sôi nổi,…)

Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ (xuất xứ, trích dẫn nguyên văn đoạn thơ).

Thân bài:

+ Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Bắc: 8 câu đầu.

+ Khí thế chiến thắng của các chiến trường khác: 4 câu sau.

+ Nghệ thuật sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ tài tình của tác giả trong đoạn thơ.

Kết bài: Đoạn thơ thể hiện thành công cảm hứng ngợi ca cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.

 

Câu 2 trang 86 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Từ các đề bài và kết quả thảo luận, anh (chị) hãy cho biết đối tượng, nội dung của bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.

Trả lời

– Đối tượng của bài nghị luận rất đa dạng (bài thơ/đoạn thơ/hình tượng thơ…).

– Nội dung bài nghị luận bao gồm: giới thiệu khái quát về bài thơ/đoạn thơ, bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ/đoạn thơ, đánh giá chung về bài thơ/đoạn thơ.

Bài soạn “Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ”- 5

I. Khái niệm

1. Nghị luận về thơ (đoạn thơ, bài thơ):

Là cách sử dụng tổng hợp những thao tác lí luận để làm rõ nội dung tư tưởng, phong cách nghệ thuật của thơ (đã tác động dưới cảm xúc thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật và những liên tưởng sâu sắc của người viết.

II. Nghị luận về một bài thơ

1. Đề bài: Phân tích bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.

a. Tìm hiểu đề

  • Hoàn cảnh ra đời của bài thơ: 
    • Thời gian: Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp
    • Địa điểm: Chiến khu Việt Bắc. Lúc này, chủ tịch Hồ Chí Minh đang trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của nhân dân ta.
  • Nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ
    • Nội dung:
      • Vẻ đẹp núi rừng đêm trăng chiến khu Việt Bắc
      • Hình ảnh người thi sĩ chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh (yêu thiên nhiên, nặng lòng lo nỗi nước nhà).
    • Nghệ thuật: Vẻ đẹp hài hòa giữa chất cổ điển và hiện đại

b. Lập dàn ý:

  • Mở bài: Hoàn cảnh sáng tác, luận đề, trích dẫn bài thơ
  • Thân bài:
    • Luận điểm 1: Cảnh đẹp đêm trăng ở chiến khu Việt Bắc
      • Luận cứ: Hai câu thơ đầu
      • Hình ảnh: đepk
      • Thi vị: Trăng, hoa, cổ thụ, tiếng suối.
    • Luận điểm 2: Hình tượng nhân vật trữ tình: thi sĩ – chiến sĩ
      • Luận cứ: 2 câu cuối
      • Tâm trạng: chưa ngủ
      • Tình cảm: yêu thiên nhiên, lo nước
    • Luận điểm 3: Vẻ đẹp hài hòa giữa chất cổ điển và hiện đại
      • Luận cứ:
        • Cổ điển: thể thơ tứ tuyệt, bút pháp miêu tả, hình ảnh thiên nhiên
        • Hiện đại: Nhân vật trữ tình không phải là ẩn sĩ lãnh đời mà là chiến sĩ (Cảm hứng chủ đạo là tình cảm đất nước).
    • Luận điểm 4: Đánh giá nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ
  • Kết bài:
    • Khẳng định bài thơ
    • Cảm nghĩ của bản thaan về Bác.

Ghi nhớ:

  • Đối tượng của bài nghị luận về thơ rất đa dạng (một bài thơ, một đoạn thơ, hình tượng thơ…). Với kiểu bài này, cần tìm hiểu từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu, cấu tứ,…của bài thơ, đoạn thơ đó.
  • Bài viết thường có các nội dung sau:
    • Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ
    • Bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ
    • Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ.

[Luyện tập] Hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài Tràng Giang của Huy Cận:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dờn dợn vời non nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Trả lời:

Thơ mới xuất hiện như một dàn đồng ca đa sầu, đa cảm nhưng “ảo não” nhất là hồn thơ Huy Cận. Bình về thơ của con người này, Xuân Diệu viết: “Trong thơ Việt Nam nghe bay dậy một tiếng địch buồn. Không phải sáo thièn thai, không phải điệu ái tình, không phải lời li tao kể chuyện một cái “tôi”, mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải tiếng đìu hiu của khóm trúc, bồng lau; có phải niềm than vãn của bờ sông, bãi cát; có phải mặt trăng một mình đang cảm thương cùng các vì sao?… Thơ Huy Cận đó ư? Ai nhắc làm chi những nỗi thô thiết của ngàn đời, ai động đến cái lớp sầu dưới đáy hồn nhân thế, những lời muôn năm than thầm trong lòng vạn vật, ai thuật lại mà não nuột lắm sao?”

Chẳng cần tới tập Lứa thiêng, chí riêng bài thơ Tràng Giang cũng đủ làm nên hồn thơ “ảo não” – Huy Cận. Và đây là khổ thơ sâu lắng, thê thiết nhất trong trường buồn Tràng Giang:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Lớp lớp những tầng mây hợp thành núi mây

Nếu như trong ba khổ thơ đầu, tâm trạng buồn – “nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra nên như kéo dài triền miên” (Huy Cận) của thi nhân dàn trải theo cái mênh mông, vô định của sông nước, thì tới khổ thơ cuối, tâm trạng ấy đã được mở lên chiều cao, lan tỏa trong không gian hoàng hôn của buổi chiều tàn:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cảnh nhỏ bóng chiều sa

“Thiên nhiên, tạo vật buồn nhưng đôi lúc bộc lộ vẻ đẹp kì vĩ, lạ lùng”, đó là lời tự bình của tác giả về hai câu thơ này. Thật vậy, không gì vui và rạo rực bằng lúc bình minh, nhưng cũng không gì buồn tan tác bằng buổi ngày tàn, khi “bóng chiều sa”. Nhưng chính lúc ấy, trong thơ Huy Cận, nơi “Tràng Giang” lại rạng lên vẻ đẹp tráng lệ với “lớp lớp” những tầng mây hợp thành “núi mây” khổng lồ được những vạt nắng chiếu rọi thành “núi bạc”. Đó là cảnh thực, song cung là một hình ảnh nghệ thuật đẹp tuyệt diệu. Viết được hình tượng “núi bạc”, thi nhân phải có một sự cảm nhận vẻ đẹp rất tinh tế, và đó phải là một hồn thơ yêu quê hương, đất nước đằm thắm. Hình ảnh “núi bạc” ấy sinh động hơn, hùng vĩ hơn qua động từ “đùn”: “Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng nở ra trên trời cao, ánh chiều trước khi vụt tắt rạng lên vẻ đẹp” (Huy Cận). Nhà thơ tâm sự: Ông học được chữ “đùn” trong bài dịch thơ của Đỗ Phủ:

Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm

Mặt đất mây đùn cửa ải xa

Ta thấy trong suốt hành trình Tràng Giang, hình ảnh thi nhân cô đơn trong từng cảnh vật đổi thay nhưng cùng chung dáng vẻ: trôi nổi, mông lung, lạc loài, vô định: một cành củi khô bập bềnh trôi trên sóng (Củi một cành khô lạc mấy dòng), một đám bèo xanh trôi nổi trên sông (Bèo dạt về đâu hàng nối hàng)… Và tới khổ thơ cuối hình ảnh thi nhân, nỗi buồn của thi nhân lại thấp thoáng ẩn hiện trong một hình ảnh cô đơn, lạc loài nữa, một hình ảnh rất tội nghiệp. Đó là một cánh chim nhỏ nhoi, cánh chim đang chở nặng bóng chiều, nghiêng cánh cố bay về nơi chân trời xa vắng.

Trong thơ ca cổ điển cùng như hiện đại, chỉ riêng việc khắc họa hình ảnh một cánh chim lẻ loi đã gợi lên một cái gì cô đơn, tội nghiộp, gợi lên cái buồn vắng, trống trải trong tâm hồn, huống chi trong thơ Huy Cận, đó lại là một cánh chim “nghiêng cánh nhỏ” và đang chở nặng “bóng chiều sa” cứ xa mờ dần đối lập với hình ảnh “núi bạc” hùng vĩ trong trời nước bao la. Sự tương phản ấy khiến cảnh “Tràng Giang” đã mênh mông, xa vắng lại càng mênh mông hơn, xa vắng hơn và “Tràng Giang” đã buồn lại càng buồn hơn. Hãy nghe thêm lời tự bình của tác giả:

“Cánh chim bay liệng tuy gợi lên một chút ấm cúng cho cảnh vật nhưng mông lung quá và nỗi buồn đến đây càng thêm da diết trong nhớ thương. Nó không đóng khung trong cảnh sông nước ở trước mặt mà mở ra đến chân trời của miền quê xa”.

Hình ảnh cánh chim bay liệng trong buổi hoàng hôn là hình ảnh ước lệ, tượng trưng trong thơ ca cổ điển. Không gian ấy, cánh chim ấy đã từng là nơi bao thi nhân xưa thả những tâm tình tha thiết, thấm thìa vào đó. Và có lẽ nó sẽ còn là nơi để thi nhân muôn đời gửi gắm những nỗi niềm sâu kín. Trong dòng suy nghĩ ấy, một lần nữa, cánh chim lẻ loi, cô đơn, lạc đàn “nghiêng cánh nhỏ” trong Tràng Giang lại gợi cho ta nhớ tới tâm tưởng, nỗi buồn bơ vơ, trống trải của một người lữ thứ xa quê đang cô đơn thả những mảnh hồn theo “cánh chim mỏi” cố bay về nơi chân trời xa vắng để tìm một điểm dừng chân:

“Ngàn mai gió cuốn chim hay mỏi”

(Bà Huyện Thanh Quan)

Đó là sự đồng điệu, giao cảm giữa cái hiện đại và cái cổ điển trong thơ Huy Cận. Cánh chim ấy, “bóng chiều sa” ấy ngoài Huy Cận thật khó tìm trong làng Thơ mới. Và đúng như Hoài Thanh nhận xét:

“Trong nền văn học mới, Huy Cận đã làm một việc táo bạo: tìm về cảnh xưa, nơi bao người đã sa lầy – tôi muôn nói sa vào khuôn sáo. Người nói cùng ta nỗi buồn nơi quán chật, đèo cao, nỗi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của người lữ thứ…”.

Hai câu thơ đầu của khổ thơ cuôì rất hay. Nếu như câu thơ “lớp lớp mây cao đùn núi bạc” gợi lên cái cao, cái bồng bềnh của cảnh mây trời thì câu thơ tiếp theo lại trĩu xuông theo hình ảnh “bóng chiều sa”. Chữ “sa” rất hay. Có lẽ bóng chiều ấy đang chở nặng những tâm tình buồn nhớ của thi nhân nên mới có chữ “sa” ấy, chứ không phải là “xa”, bởi nếu đó là “bóng chiều xa” thì nỗi buồn của thi nhân chỉ giản đơn là một nỗi buồn man mác trước cảnh vật lúc giao thời, chứ đâu còn là “nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra nên như kéo dài triền miên” của thi nhân. Tâm trạng cô đơn cùng nỗi “sầu nhân thế” như ngưng đọng và không thể giải tỏa trong không gian của “bóng chiều sa” ấy, và nó còn thể hiện sâu đậm trong hình ảnh thi nhân một mình đứng lẻ loi giữa vũ trụ bao la, lặng lẽ cảm nhận cái vĩnh hằng, cái vô cùng, vô tận của không gian đối lập với kiếp người hữu hạn:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Trong suốt hành trình “Tràng Giang”, ta luôn gặp những từ láy: “điệp điệp”, “song song”, “đìu hiu”, “lớp lớp”… tựa như một bản nhạc buồn với những âm điệu thê thiết, và nốt nhạc kết thúc là “dợn dợn”, nó gợi lên muôn nhịp sóng: sóng nước, sóng lòng. “Dợn dợn” diễn tả sự rợn ngợp của nhà thơ trước cảnh trời nước mênh mông trong khoảnh khắc hoàng hôn gắn liền với tình quê, cố hương:

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước

Một mảnh tình riêng: ta với ta

(Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)

hay:  

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

(Hoàng Hạc Lâu – Tản Đà dịch)

Gợi lên từ tứ thơ ấy của Thôi Hiệu, hai câu thơ Đường:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Cũng là tấm “tình quê” của Huy Cận. Nhưng đây là một tình quê tha thiết hơn, sâu nặng hơn và cũng mãnh liệt hơn, bởi tấm “tình quê” ấy được toát lên trong một câu thơ vừa cổ điển, vừa hiện đại: cổ điển ở cảnh xưa: khói sóng, ở kết cấu thơ Đường; hiện đại ở cách nói trái ngược với ý Thôi Hiệu – một sự cách tân mới mẻ, độc đáo của một hồn thơ đầy “lãng mạn”. Xưa kia, đứng trên lầu Hoàng Hạc, Thôi Hiệu nhìn thấy khói sóng phủ mờ trên sông mà tình quê thổn thức. Nhưng nay Huy Cận không cần cái mờ ảo của khói sóng tác động vào thị giác, tri giác, cũng không cần cái se lạnh thấm vào da thịt – không cần những thứ vốn đã gợi buồn (khói sóng) tác động, nhưng “tình quê” Huy Cận vẫn trào dâng:

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Rõ ràng tâm tình của Huy Cận sâu lắng hơn, mãnh liệt hơn, nó luôn thường trực trong tâm hồn và luôn sẵn sàng tỏa ra, thấm vào vạn vật. Huy Cận có lần tâm sự: cái “nhớ” ở đây không đơn thuần chỉ là nhớ quê hương Hà Tĩnh – nơi chôn nhau cắt rốn, mà “nhớ nhà” nên hiểu theo nghĩa rộng là nhớ quê hương, đất nước Việt Nam. ông còn kể: Khi phát xít Đức xâm lược nước Pháp, chiếm đóng Paris, nhà thơ Aragon cảm thấy lạc loài ngay chính trên quê hương của mình. Tới nay, trước cảnh nhân dân cơ cực, lầm than, sống cuộc đời nô lệ dưới ách thông trị của thực dân Pháp, thi sĩ Huy Cận lại có tâm sự lạc loài ấy. Chính vì thế, Huy Cận đã nói: “Lúc đó tôi buồn hơn Thôi Hiệu đời nhà Đường”. Ân tình thi sĩ Huy Cận dành cho quê hương, đất nước thật là sâu nặng.

Khổ thơ đã khép lại về tứ thơ, nhưng cái tình quê buồn tha thiết, sâu lắng thì như kéo dài, vang vọng mãi theo cái âm điệu “dập dềnh như sóng nước Tràng Giang” của hai câu thơ cuối.

Đây là khổ thơ rất hay: hay ở sự kết hợp nhuần nhuyễn thơ ca truyền thống – những nét cổ điển của thơ Đường với những nét hiện đại; hay ở cảm xúc vũ trụ thể hiện ở cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng nhưng thấm đượm nỗi buồn tâm trạng của thi nhân – “nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước” (Huy Cận). Nỗi buồn khơi nguồn từ tâm ra ngoại cảnh, rồi từ ngoại cảnh trở về tim – lặng lẽ thế nhưng sâu nặng và mãnh liệt vô cùng:

Một chiếc linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu

Bâng khuâng trời rộng nhở sông dài. Cảm hứng của lời đề tựa ấy dàn trải trong ba khổ thơ đầu, để rồi hội tụ và kết tinh trong khổ thơ cuối – khổ thơ có thể xem như một bài thơ tứ tuyệt hay, bộc lộ chân thực nhất, sâu đậm nhất tình yêu quê hương của tác giả. Và ở hoàn cảnh đất nước bị quân giặc giày xéo, càng yêu quê hương thắm thiết bao nhiêu, thi nhân lại càng “ảo não”, càng “buồn” bấy nhiêu.

Ai đó đã nói: Thơ đích thực nâng đỡ lòng người, khơi gợi những gì đẹp đẽ nhất tiềm ẩn nơi đáy sâu tâm hồn để vươn tới cái cao cả. Tràng Giang, đặc biệt là khổ thơ cuối đã thực sự khơi dậy trong tâm hồn bạn đọc một tình yêu thiêng liêng, cao quí – tình yêu đất nước.

Nguồn: Tổng hợp