Hệ thống toàn bộ bài soạn về “Một số thể loại văn học: Thơ, truyện” mới nhất 2021

Hệ thống toàn bộ bài soạn về “Một số thể loại văn học: Thơ, truyện”  dưới đây sẽ giúp các em hiểu và nắm khái quát đặc điểm một số thể loại văn học :thơ, truyện, từ đó các em có thể vận dụng kiến thức vào thơ, truyện  vào việc đọc văn.

Bài soạn “Một số thể loại văn học: Thơ, truyện” số 1

I. Quan niệm chung về loại, thể văn học

Cơ sở chung để phân chia loại thể văn học là dựa vào phương thức ( cách thức phản ánh hiện thực, tình cảm của tác phẩm ).

1. Loại

Là phương thức tồn tại chung, là loại hình, chủng loại. Tác phẩm văn học được chia làm 3 loại: tự sự, trữ tình, trào phúng

2. Thể

–       Là hiện thực hóa của loại, nhỏ hơn loại.

–       Căn cứ để phân chia đa dạng: Có khi dựa vào độ ngắn dài; đề tài; cấu trúc; tính chất mâu thuẫn; cảm hứng chủ đạo…

–       Có một thể loại tồn tại độc lập: Văn nghị luận (chính trị xã hội, văn hóa)

II. Thể loại thơ

1. Khái lược về thơ

a. Đặc trưng của thơ

–       Là một thể loại văn học có phạm vi phổ biến rộng và sâu.

–       Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phong phú,

–       Thơ ca là tấm gương phản chiếu tâm hồn, là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời.

–       Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sốn khách quan.

–       Cốt lõi cơ bản của thơ là trữ tình

–       Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm xúc, giàu nhịp điệu, hình ảnh sinh động, được tổ chức đặc biệt theo thể thơ.

b. Phân loại thơ

–       Phân loại theo nội dung biểu hiện có:

+         Thơ trữ tình

+         Thơ tự sự

+         Thơ trào phúng

–       Phân loại theo cách thức tổ chức có:

+         Thơ cách luật.

+         Thơ tự do.

+         Thơ văn xuôi.

2. Yêu cầu về đọc thơ

–       Cần biết rõ tên bài thơ, tập thơ, tác giả, hoàn cảnh sáng tác…

–       Đọc kĩ văn bản, cảm nhận ý thơ qua từng dòng, từng câu, từng từ, từng hình ảnh, nhịp điệu… 

–       Lí giải, đánh giá về nội dung và nghệ thuật 

III. Truyện

1. Khái lược về truyện

a. Đặc trưng của truyện

–       Là thể loại văn học phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó qua con người, hành vi, sự kiện được miêu tả và kể lại bởi một người nào đó.

–       Thường có cốt truyện.

–       Nhân vật.

–       Nhân vật được miêu tả chi tiết, sống động gắn với hoàn cảnh.

–       Phạm vi miêu tả không bị hạn chế bởi thời gian và không gian.

–       Ngôn ngữ linh hoạt gần với đời sống.

b. Phân loại truyện

–       Văn học dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích,..

–       Văn học trung đại: có truyện viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.

–       Văn học hiện đại: có truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài.

2. Yêu cầu đọc truyện

–       Tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác…

–       Phân tích diễn biến cốt truyện.

–       Phân tích nhân vật: ngoại hình, tính cách, ngôn ngữ…

–       Xác định vấn đề của truyện đặt ra, ý nghĩa tư tưởng, giá trị của truyện trên các phương diện: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ.

 

Bài soạn “Một số thể loại văn học: Thơ, truyện” số 2

Câu 1 trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Loại và thể trong văn học được xác định như thế nào?

Trả lời:

Loại và thể trong văn học

– Loại là phương thức tồn tại chung, thể hiện thực hóa của loại

– Tác phẩm văn học: trữ tình, tự sự, kịch

+ Trữ tình: thơ ca, khúc ngâm…

+ Tự sự: truyện, kí…

+ Kịch: chính kịch, bi kịch, hài kịch…

– Ngoài ra còn có nghị luận.

Câu 2 trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Hãy nêu đặc trưng của thơ, các kiểu loại thơ và yêu cầu về đọc thơ.

Trả lời:

Đặc trưng của thơ:

– Đặc điểm về loại thơ: thơ có vần, điệu, ngôn ngữ hàm súc, gợi cảm, thể hiện tình cảm, tâm hồn con người

– Thơ được phân loại theo nội dung biểu hiện: thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng

– Thơ phân loại theo cách tổ chức có luật thơ, thơ tự do, thơ văn xuôi

– Những yêu cầu chính khi đọc – hiểu một bài thơ gồm:

+ Khi đọc cần biết rõ xuất xứ của bài thơ: tác giả, năm xuất bản, thông tin hỗ trợ khác

+ Đọc kĩ để hiểu đúng và cảm nhận mạch cảm xúc thơ

+ Tìm đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ

+ Phát hiện ra những câu, từ ngữ, hình ảnh tạo cảm xúc nhất.

Câu 3 trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Tóm lược đặc trưng của truyện, các kiểu loại truyện và yêu cầu về đọc truyện.

Trả lời:

Đặc trưng của truyện:

– Truyện phản ánh hiện thực trong tính khách quan của nó

– Truyện có cốt truyện, nhân vật, tình huống, mâu thuẫn diễn ra trong hoàn cảnh không gian và thời gian

– Ngôn ngữ truyện có kể chuyện, lời nhân vật…

– Thể loại: sáng tác dân gian (ngụ ngôn, truyện cười, truyền thuyết, cổ tích..), truyện trung đại, truyện hiện đại (truyện ngắn, tiểu thuyết và truyện thơ…)

* Yêu cầu khi đọc – hiểu truyện:

– Đọc truyện cần biết hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác để hiểu tư tưởng, chủ đề của tác phẩm

– Hiểu cốt truyện, diễn biến của tình tiết chính

– Nắm được tính cách của nhân vật từ đó hiểu tư tưởng, đặc điểm nghệ thuật của truyện.

 

Bài soạn “Một số thể loại văn học: Thơ, truyện” số 3

Bài 1trang136

Loại và thể trong văn học được xác định như thế nào?

Trả lời:

Hình thức tổ chức tác phẩm văn học được xác định trong loại (loại hình, chủng loại) và thể (thể tài, thể loại, kiểu, dạng). Loại là phương thức tồn tại chung; thể chỉ là sự hiện thực hoá của loại.

Phần lớn các ý kiến đều đồng ý rằng các tác phẩm văn học được chia làm ba loại lớn: Trữ tình (lấy cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của con người làm đối tượng thể hiện chủ yếu), tự sự (dùng lời kể, lời miêu tả để xây dưng cốt truyện, khắc hoạ tính cách nhân vật, dựng lên những bức tranh về đời sống) và kịch (thông qua lời thoại và hành động của các nhân vật mà tái hiện những xung đột xã hội). Mỗi loại lại có thể gồm các thể riêng:

– Loại trữ tình có các thể: thơ ca, khúc ngâm,…

– Loại tự sự có các thể: truyện, kí, tuỳ bút,…

– Loại kịch có các thể: chính kịch, bi kịch, hài kịch,…

Bên cạnh đó còn có một thể loại khác cũng thường gặp, đó là nghị luận.

Bài 2 trang 136

Trả lời:

* Đặc trưng của thơ

Thơ thường có vần, điệu; ngôn ngữ hàm súc, gợi cảm; thể hiện tình cảm, tâm hồn con người.

* Các kiểu loại thơ

– Phân loại thơ theo nội dung biểu hiện có: Thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng.

– Phân loại thơ theo cách thức tổ chức bài thơ có: Thơ cách luật (viết theo luật đã định trước), thơ tự do (không theo luật), thơ văn xuôi (câu thơ gần như câu văn xuôi nhưng vẫn có nhịp điệu).

* Những yêu cầu về đọc thơ

– Cần biết rõ tên tác phẩm, tên tập thơ, tên tác giả, năm xuất bản, tìm hiểu những thông tin liên quan đến hoàn cảnh sáng tác bài thơ.

– Đọc kĩ bài thơ, cảm nhận ý thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu. Ý thơ ở đây là cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng, những sự việc, sự vật,… Đồng cảm với nhà thơ, dùng liên tưởng, tưởng tượng, phân tích khả năng biểu hiện của từng từ ngữ, chi tiết, vần điệu,… mới cảm nhận được ý thơ, thấu hiểu hình tượng thơ, cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình.

– Từ những câu thơ dẹp, lời thơ lạ, ý thơ hay, từ hình tượng thơ, cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình, hãy lùi xa ra và nhìn lại để lí giải, đánh giá toàn bài thơ cả về nội dung và nghệ thuật. Cần chỉ ra được những nét độc đáo, sáng tạo trong hình thức biểu hiện; những đóng góp về nội dung tư tưởng.

Bìa 3 trang 136

Tóm lược đặc trưng của truyện, các kiểu loại truyện và yêu cầu về đọc truyện.

Trả lời:

* Cùng với sự phát triển lịch sử của văn học, truyện cũng có những kiểu loại khác nhau.

– Văn học dân gian có nhiều kiểu truyện: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn.

– Văn học trung đại có loại truyện viết bằng chữ Hán và loại truyện viết bằng chữ Nôm (chia theo hình thức văn tự).

– Trong văn học hiện đại, theo quy mô văn bản và dung lượng hiện thực, người ta phân ra truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài (tiểu thuyết).

+ Truyện ngắn thường ít nhân vật, sự kiện, nó hướng tới một vài mảnh nhỏ của cuộc sống, có thể kể về cả cuộc đời hoặc một đoạn đời,… Nhưng trong phạm vi hẹp vẫn có thể đặt ra những vấn đề lớn lao, thể hiện những tư tưởng nhân sinh sâu sắc. (Truyện ngắn là thể tự sự cỡ nhỏ, có cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian, lời kể. Truyện ngắn được phép hư cấu tưởng tượng, khác với bản tin hay phóng sự điều tra. Truyện ngắn thường là một “lát cắt” của cuộc đời, một “mảnh nhỏ” của tâm hồn nhân vật).

+ Không có sự phân biệt rạch ròi giữa truyện vừa và truyện dài (tiểu thuyết). Tiểu thuyết là một thể loại tự sự cỡ lớn. Có nhiều loại tiểu thuyết: Tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết sử thi ghi lại sự tích anh hùng – nhưng nhiều nhất là tiểu thuyết về những số phận cá nhân trong cuộc đời thường: Một cuộc sống không thi vị hoá với mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn, từ cao cả đến thấp hèn ti tiện. Nhân vật thường “nếm trải” bao nhiêu dằn vặt khổ đau của cuộc đời. Với khả năng phán ánh đời sống một cách toàn vẹn, sinh động, đồng thời đi sâu khám phá số phận cá nhân, sử dụng linh hoạt hư cấu, điển hình hoá, tổng hợp thủ pháp của các thể loại văn học, nghệ thuật khác, mang tính đa dạng về màu sắc thấm mĩ, tiểu thuyết được coi là “hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ” (Cô-gi-nốp).

* Yêu cầu khi đọc – hiểu truyện:

– Đọc truyện cần biết hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác để lấy cơ sở cảm nhận đúng nội dung truyện.

 

Bài soạn “Một số thể loại văn học: Thơ, truyện” số 4

Bài 1trang 136

Nghệ thuật tả cảnh, tả tình và sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến.

Trả lời:

* Nghệ thuật tả cảnh, tả tình

– Về nghệ thuật tả cảnh, trước hết là việc chọn điểm nhìn: từ “ao thu” tới “tầng mây” rồi trở lại “ao thu” – như vậy trung tâm của sự miêu tả là ao thu. Tác giả đặc tả cận cảnh những gì quan sát được trên mặt ao mà gợi được cái thần thái của mùa thu nơi làng quê: se lạnh, trong trẻo và đặc biệt yên tĩnh. Lại có sự mở rộng của không gian với chiều cao đến vô tận của trời thu và dùng cái “động” để gợi cái tĩnh mịch, yên ả của làng quê.

– Về nghệ thuật tả tình, đáng chú ý là bút pháp tả cảnh ngụ tình: qua cảnh thu, người ta thấy sự quan sát tinh tế, tình yêu kín đáo mà thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên, với quê hương đất nước, tâm trạng ưu thời mẫn thế.

* Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

Câu cá mùa thu là một minh chứng sinh động về sức biểu đạt của ngôn từ tiếng Việt. Ngôn ngữ thơ trong Câu cá mùa thu giản dị, trong sáng đến mức kì lạ, có khả năng biểu đạt một cách xuất sắc những biểu hiện rất tinh tế của cảnh vật cũng như những uẩn khúc thầm kín rất khó giãi bày của tâm trạng.

 Câu cá mùa thu thành công nhiều mặt về nghệ thuật trong đó độc đáo nhất là cách gieo vần. Vần “eo” là một vần khó luyến láy, khó vận, thế nhưng nó lại được Nguyễn Khuyến sử dụng một cách rất thần tình. Vần “eo” hợp ở tất cả các câu bắt buộc (câu 1, 2, 4, 6 và câu 8). Nó góp phần diễn tả rất rõ cái cảm giác sắc, nhọn, cảm giác về một không gian thu nhỏ hẹp dần và khép kín lại, tạo nên sự hài hoà rất mực với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhân vật trữ tình.

Cùng với cách gieo vần độc đáo, bài thơ còn rất thành công trong nghệ thuật lấy động để tả tĩnh. Để gợi ấn tượng sâu đậm về cái yên ắng, cái tĩnh lặng của tâm trạng, tác giả xen vào một điệu “vèo” của lá và bâng khuâng đưa vào một âm thanh như có như không của tiếng cá “đớp động dưới chân bèo“.

Cái hay của việc sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ còn được thể hiện ở việc sử dụng các tính từ: trong veo, biếc, xanh ngắt, lơ lửng và các cụm động từ: gợn tí, khẽ đưa để làm nổi bật cảnh thu thanh sơ, dịu nhẹ mà thấm đậm hồn thu xứ Việt.

Bài 2 trang 136

Nhận xét về cốt truyện, nhân vật, lời kể trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

Trả lời:

–  Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam. Tác phẩm vừa có giá trị hiện thực cao vừa thấm đượm một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Qua truyện ngắn này, Thạch Lam cũng thể hiện một tài năng viết truyện ngắn bậc thầy.

– Cũng như nhiều truyện ngắn khác của Thạch Lam, Hai đứa trẻ là một truyện không có cốt truyện. Nó giống như một bài thơ. Toàn bộ câu chuyện chỉ kể về tâm trạng thao thức của Liên và An, mong mỏi chờ đợi một chuyến tàu đêm đi ngang qua.

– Trong truyện ngắn này, Thạch Lam chú trọng đi sâu vào nội tâm nhân vật với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ, mong manh. Những trang viết miêu tả tâm trạng nhân vật rất sâu sắc và tinh tế.

– Thạch Lam cũng sử dụng rất thành công thủ pháp nghệ thuật đối lập, tương phản (giữa một bên là ánh sáng tù mù, nhạt nhoà của ngọn đèn dầu nơi hàng nước của chị Tí và bên kia là ánh sáng cực mạnh như xuyên thủng màn đêm của đoàn tàu…), qua đó nhấn mạnh, làm nổi bật khung cảnh nghèo nàn, vắng lặng của phố huyện nhỏ.

Truyện còn đặc sắc ở lối kể chuyện thủ thỉ, tâm tình thấm đượm chất thơ của Thạch Lam. Ẩn hiện kín đáo, lặng lẽ sau những hình ảnh và ngôn từ là một tâm hồn đôn hậu, tinh tế, hết sức nhạy cảm với mọi biến thái của lòng người và tạo vật.

Kiến thức lí thuyết cơ bản

I. Quan niệm chung về loại, thể văn học

– Loại là phương thức tồn tại chung, là loại hình, chủng loại. Tác phẩm văn học được chia làm 3 loại: tự sự, trữ tình, trào phúng

– Thể là hiện thực hóa của loại, nhỏ hơn loại, căn cứ vào độ ngắn dài; đề tài; cấu trúc; tính chất mâu thuẫn; cảm hứng chủ đạo… để phân chia đa dạng. Có một thể loại tồn tại độc lập: Văn nghị luận (chính trị xã hội, văn hóa).

II. Thơ

– Thơ là loại văn học bộc lộ tình cảm, thể hiện tâm hồn con người, đặc biệt là đời sống nội tâm của chính tác giả.

– Đặc trưng của thơ:

+ Nội dung trữ tình: Là tiếng nói của tình cảm con người, của những rung động trái tim trước cuộc đời bộc lộ qua cái tôi trữ tình

+ Ngôn ngữ: vừa cô đọng, vừa hàm súc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu…

– Phân loại thơ:

+ Theo nội dung biểu hiện:

Các loại thơ Đặc điểm Tác giả, tác phẩm tiêu biểu
Thơ trữ tình Đi sâu vào tâm tư, tình cảm, những chiêm nghiệm của con người về cuộc đời Hồ Xuân Hương (Tự Tình), Hàn Mặc Tử (Đây thôn Vĩ Dạ)
Thơ tự sự Cảm nghĩ vận động theo mạch kể chuyện. Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên), Tản Đà (Hầu trời),…
Thơ trào phúng Phủ nhận những điều xấu bằng lối viết đùa cợt, mỉa mai, khôi hài. Tú Xương (Vịnh khoa thi Hương)

+ Theo cách tổ chức:

Các loại thơ Đặc điểm Tác giả, tác phẩm tiêu biểu
Thơ cách luật Viết theo luật đã định trước Nguyễn Khuyến (Câu cá mùa thu…)
Thơ tự do Không theo luật Xuân Diệu (Vội vàng…)
Thơ văn xuôi Câu thơ gần như văn xuôi những vẫn có vần điệu  

– Những yêu cầu về đọc thơ:

+ Tìm hiểu xuất xứ, những vấn đề bên ngoài có liên quan đến bài thơ: tên bài thơ, tập thơ, tác giả, hoàn cảnh sáng tác…

+ Đọc kĩ văn bản, cảm nhận ý thơ qua từng dòng, từng câu, từng từ, từng hình ảnh, nhịp điệu…

+ Lí giải, đánh giá về nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ

>>> Tham khảo, tìm hiểu thêm về các quy tắc, luật áp dụng trong các thể thơ chính qua nội dung soạn bài Luật thơ (sẽ học chi tiết trong chương trình lớp 12)

III. Truyện

– Truyện là loại văn kể chuyện, trình bày sự việc, sự vật một cách cụ thể, chi tiết, tập trung miêu tả thế giới bên ngoài.

– Đặc trưng của truyện:

+ Truyện phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó qua con người, hành vi, sự kiện được miêu tả và kể lại bởi một người nào đó.

+ Cốt truyện được hư cấu, được tổ chức một cách nghệ thuật

+ Nhân vật được miêu tả chi tiết, sống động gắn với hoàn cảnh

+ Phạm vi phản ánh không bị hạn chế về không gian và thời gian

+ Ngôn ngữ linh hoạt, gần với ngôn ngữ đời sống.

– Phân loại truyện:

Bộ phận văn học

Thể loại
Văn học dân gian Thần thoại (Thần trụ trời), truyền thuyết (Con rồng cháu tiên), truyện cổ tích (Thạch Sanh), truyện ngụ ngôn (Con chó và cái bóng), truyện cười (Tam đại con gà)
Văn học trung đại Truyện viết bằng chữ Hán (Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ), truyện thơ Nôm (Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Văn học hiện đại Truyện ngắn (Tinh thần thể dục), truyện vừa, tiểu thuyết (truyện dài) (Cha con nghĩa nặng)

– Những yêu cầu về đọc truyện:

+ Tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác…

+ Phân tích diễn biến cốt truyện.

+ Phân tích nhân vật: ngoại hình, tính cách, ngôn ngữ…

+ Xác định vấn đề của truyện đặt ra, ý nghĩa tư tưởng, giá trị của truyện trên các phương diện: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ.

 

Bài soạn “Một số thể loại văn học: Thơ, truyện” số 5

Câu 1 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Loại và thể là hai hình thức tổ chức tác phẩm văn học. Loại là phương thức tồn tại chung; còn thể là hiện thực hóa của loại.

– Có thể phân chia tác phẩm văn học thành các thể loại:

+ trữ tình: ca dao, thơ (tự do, trào phúng),…

+ tự sự: truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa, truyện dài, bút kí, phóng sự,…

+ kịch: ca kịch, kịch cổ điển, kịch hiện đại, hài kịch, bi kịch.

Câu 2 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Đặc trưng của thơ có thể nêu lên bốn đặc trưng cơ bản: chất trữ tình; nói lên cảm xúc, tình cảm con người; vì là tiếng nói nội tâm con người nên hướng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và thế giới khách quan; đặc biệt thơ sử dụng các ngôn ngữ rất cô đọng, thường có vần, hàm súc, giàu hình ảnh và đôi khi có nhạc.

– Các kiểu loại thơ thì gồm có 2 kiểu loại chính:

+ theo nội dung: thơ trữ tình (tình cảm), thơ tự sự (kể lể), thơ trào phúng (gây cười)

+ theo cách thức tổ chức bài thơ: thơ cách luật, thơ tự do (không theo khuôn mẫu nhất định), thơ văn xuôi (hình thức như văn xuôi)

– Yêu cầu về đọc thơ: Khi đọc thơ chúng ta cần quan tâm đến xuất xứ của bài thơ đó, nó được sáng tác trong hoàn cảnh nào, trong tâm trạng nào của người làm thơ. Khi đọc thơ, người đọc phải cảm nhận được cảm xúc mà bài thơ ấy truyền đạt, nhịp điệu của nó. Từ câu thơ, lời thơ mà cái tôi nhân vật được thể hiện, được đánh giá qua nội dung và nghệ thuật.

Câu 3 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Đặc trưng của truyện có thể tóm lược qua 5 điểm chính. Truyện là thể loại tiêu biểu của tự sự, kể lại đời sống trong tính khách quan của nó. Truyện thường có cốt truyện, có tình tiết, có sự kiện và biến cố để tạo kịch tính cho truyện, số phận hay hoàn cảnh nhận vật hay môi trương, không thời gian thường có trong truyện. Đồng thời, ngôn ngữ trong truyện có nhiều hình thức, ngôn ngữ người kể, nhân vật, lời đối thoại, độc thoại đều rất đa dạng và khá gần với đời sống.

– Có 3 kiểu loại truyện chính bao gồm dân gian, trung đại, và hiện đại:

+ văn học dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười…

+ văn học trung đại: truyện chữ Hán, truyện thơ Nôm

+ văn học hiện đại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, truyện dài

– Khi đọc truyện chúng ta phải chú ý đến các yêu cầu đọc truyện: tìm hiểu kĩ bối cảnh, hoàn cảnh sáng tác; nắm rõ cốt truyện để biết truyền tải nội dung chính xác; phân tích truyện, nhân vật, tình huống và ý nghĩa đúng và biết khái quát toàn bộ tư tưởng truyện.

Bài 1 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Thơ Nguyễn Khuyến nói lên tâm hồn ông một cách chân thực và đáng nói. Trong Câu cá mùa thu , Nguyễn Khuyến đã truyền đạt bao tình cảm, cảm xúc của mình qua nghệ thuật tả cảnh tả tình và ngôn ngữ lời thơ. Đó chính là nét đặc biệt của thơ ông. Ông đặc tả một bức tranh thu nhẹ nhàng, tĩnh lặng một màu sắc cổ điển với mùa thu quen thuộc lấy chất liệu thiên nhiên. Cảnh thu trong Câu cá mùa thu là mùa thu đặc trưng, mùa thu riêng biệt của vùng đồng bằng Bắc Bộ với ao cá trong veo tĩnh lặng, ngõ trúc… Các đường nét được miêu tả trong bức tranh thu ấy thật mảnh mai, tinh tế mà có hồn riêng. Các sắc vàng của lá thu bay vèo, của nước trong veo, chiếc thuyền câu bé tẻo teo,… đều được hòa phối màu sắc đến độ tinh tế khi kết hợp với bút pháp lấy động tả tĩnh cổ điển. Hơn nữa, việc sử dụng các ngôn ngữ giản dị trong sáng, ngôn ngữ tự nhiên mộc mạc đã phần nào giúp diễn tả được những biểu hiện tinh tế của cảnh lẫn người, con người chất chứa tâm trạng yêu nước, yêu thiên nhiên.

Bài 2 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, đây được coi như một câu chuyện không có cốt truyện, bởi nó chỉ gần như là các nét miêu tả cảnh vật con người xung quanh, miêu tả không gian thời gian một cách chậm rãi và sâu lắng, nhưng qua cái hiện thực ấy để thấm sâu vào tâm hồn vào suy nghĩ người đọc. Các nhân vật cũng dường như không có bố cục rõ ràng lắm, mạch truyện đi sâu vào miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật với các lời kể nhẹ nhàng vừa tâm tình vừa thủ thỉ, như chính lời tâm sự của tác giả tới người đọc, tới nhân vật.

Nguồn: Tổng Hợp