Hệ thống bài soạn “Kiểm tra tổng hợp cuối năm Lớp 12” ngắn gọn, chi tiết nhất 2021

Hệ thống bài soạn “Kiểm tra tổng hợp cuối năm Lớp 12” ngắn gọn, chi tiết nhất và bám sát nội dung chương trình sách giáo khoa nhất giúp các em học sinh hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học để vận dụng vào thực tế cũng như ôn tập thi tuyển tốt nhất.

Bài soạn “Kiểm tra tổng hợp cuối năm Lớp 12” số 1

Phần trắc nghiệm

   Chọn đáp án đúng

Câu 1: C. Xây dựng một tình huống đặc biệt: vui mà tội nghiệp, mừng mà vừa tủi vừa lo.

Câu 2: B. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói năm 1945 mà còn khẳng bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ.

Câu 3: B. Khắc họa tính cách nhân vật: tạo màu sắc và phong vị dân tộc.

Câu 4: D. Tạo dựng một bức tranh hoành tráng về thiên nhiên và con người.

Câu 5: D. Cuộc sống đau thương nhưng kiên cường bất khuất của các dân tộc Tây Nguyên nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.

Câu 6: D. Không thể đơn giản, sơ lược trong việc nhìn nhận cuộc sống và con người.

Câu 7: C. Truyện Số phận con người thể hiện khát vọng vươn lên làm chủ số phận của con người.

Câu 8: D. Sự phong phú, sinh động về từ ngữ, âm thanh.

Câu 10: D. Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen

Câu 11: B. Luận cứ không chính xác

Câu 12: B. So sánh

Phần tự luận

Đề 1 (trang 203 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Câu 1: Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ

   * Về tác giả Tô Hoài:

   Tô Hoài (1920 – 2014), tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), nhưng sinh ra và lớn lên ở quê ngoại – làng Nghĩa Đô, thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công.

   Tác phẩm chính: Dế mèn phiêu lưu kí (truyện, 1941), O chuột (tập truyện, 1942), Quê người (tiểu thuyết, 1942), Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Miền Tây (tiểu thuyết, 1967), Cát bụi chân ai (hồi kí, 1992), Chiều chiều (tự truyện, 1999), Ba người khác (tiểu thuyết 2006)…

   Tô Hoài là nhà văn có hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta. Ông cũng là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có – nhiều khi rất bình dân và thô tục, nhưng nhờ cách sử dụng đắc địa và tài ba nên có sức lôi cuốn, lay động người đọc.

   * Về tác phẩm Vợ chồng A Phủ

   – Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm là kết quả của chuyến đi thực tế của Tô Hoài trong những ngày cùng ăn, ở, làm việc với người dân vùng cao Tây Bắc.

   – Đề tài:

      + Viết về thiên nhiên và con người Tây Bắc.

      + Nét riêng của Tô Hoài khi khai thác đề tài này là viết về thiên nhiên thấm đượm chất thơ, chất họa, đặc biệt là lối sống, lối suy nghĩ của con người dân tộc thiểu số Tây Bắc.

   – Tác phẩm viết về hai giai đoạn cuộc đời của Mị và A Phủ:

      + Giai đoạn nói về của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài làm nô lệ cho nhà thống lí Pá Tra.

      + Giai đoạn Mị và A Phủ nên vợ nên chồng ở Phiềng Sa, họ làm chủ cuộc đời nhờ sự giác ngộ lí tưởng cách mạng.

Câu 2

   Giá trị nghệ thuật của việc xây dựng tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân:

   * Nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã tràn ngập đến xóm ngụ cư như một cơn lũ, người chết như ngả rạ, người sống đi lại dật dờ như những bóng ma. Thế mà Tràng, một thanh niên nghèo, xấu xí, thô kệch, ngộc nghệch lại là dân ngụ cư bị người ta khinh rẻ bỗng dưng nhặt được vợ như nhặt cái rơm, cái rác bên đường. Tràng đến với thị vì khát khao hạnh phúc được giấu trong những lời bông đùa. Còn thị đến với Tràng chỉ vỉ miếng ăn.

   → Đây là tình huống éo le, bi hài: Tràng lấy được vợ lúc này là việc đáng mừng hay đáng lo nên cười hay nên khóc.

   * Qua tình huống truyện, Kim lân đã làm nổi bật tâm lí, số phận những người nông dân nghèo trong nạn đói. Đằng sau đó là ý đồ nghệ thuật của nhà văn:

   – Tình huống truyện làm nổi bật thế giới tâm lí các nhân vật.

   – Tình huống truyện làm nổi bật số phận bi thảm của người nông dân nghèo trong nạn đói năm 1945 (số phận Tràng, số phận thị, số phận bà cụ Tứ).

   – Thông qua tình huống truyện, tác giả còn mở ra một dự cảm tốt lành về sự thay đổi số phận của những con người khốn khổ ấy.

   – Thể hiện cái nhìn hiện thực và nhân đạo của nhà văn Kim Lân.

Đề 2 (trang 203 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Câu 1

   * Ơ – nit Hê – minh – uê (1899 – 1961) là nhà văn Mĩ đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới nói chung. Người thanh niên ấy bước vào đời với nghề làm báo và làm phóng viên mặt trận cho tới kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai.

   Tác phẩm chính: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), Chuông nguyện hồn ai (1940), Trong thời đại chúng ta (1925),…

   Dù viết về thể nghiệm của những nhân vật từng tham gia Chiến tranh thế giới nhất và cuộc chiến tranh thế giới chống phát xít hay viết về những trận đấu bò, săn thú dữ, đấu quyền Anh, dù viết về Châu Phi hay Châu Mĩ, ông đều nhằm ý đồ “viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”.

   * Tác phẩm Ông già và biển cả:

   Ông già và biển cả (1952) ra mắt bạn đọc trước khi Hê – minh – uê được tặng giải thưởng Nô – ben về văn học năm 1954, là một kết tinh trong lối kể chuyện của Hê -Minh – Uê.

   Tác phẩm thể hiện niềm tin bất diệt và ý chí nghị lực của con người, “Con người có thể bị đánh bại chứ không bị hủy diệt”.

   Ông già và biển cả tiêu biểu cho lối viết theo nguyên lí “tảng băng trôi” của Hê – minh – uê”.

Câu 2

   Gợi ý:

   * Khái quát chung: thời gian, lời nói và cơ hội là những thứ quý giá nhất cần được con người cân nhắc, thận trọng sử dụng hợp lý và hiệu quả trong cuộc đời.

   – Thời gian với đời người là có hạn

      + Thời gian trôi đi sẽ không bao giờ lấy lại được, tuổi trẻ, sức lực sẽ tàn phai theo thời gian.

      + Mỗi người chúng ta cần phải biết quý thời gian, tận dụng thời gian để sống, để học tập và lao động.

   – Lời nói là điều có thể dễ dàng nói ra nhưng rất khó để thu lại, do đó mỗi người chúng ta cần phải suy nghĩ trước khi nói “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”.

   – Cơ hội là điều hiếm gặp trong đời người: bởi vậy khi gặp cơ hội chúng ta phải nắm lấy kịp thời, cơ hội qua đi chúng ta rất khó gặp lại.

   * Bài học rút ra từ câu nói: Phải học tập, tu dưỡng, rèn luyện, rèn luyện tốt mới có thể tận dụng cơ hội, sử dụng hiệu quả thời gian và lời nói, ứng xử, chuẩn bị tốt, sẵn sàng khi có cơ hội để làm những việc có ích.

 

Bài soạn “Kiểm tra tổng hợp cuối năm Lớp 12” số 2

PHẦN TRẮC NGHIỆM

Lời giải chi tiết:

1. Nội dung nào sau đây không phải là biểu hiện của tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt?

C – Xây dựng một tình huống đặc biệt: vui mà tội nghiệp, mừng mà vừa tủi vừa lo

2. Câu nào sau đây nêu đúng và đầy đủ chủ đề truyện ngắn Vợ nhặt?

B – Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói năm 1945 mà còn khẳng định bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ.

3. Thành công chủ yếu về nghệ thuật của truyện Vợ chồng A Phủ thể hiện ở những phương diện nào?

A – Khắc họa tính cách nhân vật; tạo màu sắc và phong vị dân tộc

4. Đặc điểm nào dưới dây không thể hiện màu sắc sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành?

C – Thể hiện tinh thần lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ

5. Nhận định nào sau đây đúng và đầy đủ?

Hình tượng rừng xà nu trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Trung Thành có ý nghĩa tượng trưng cho:

D – Cuộc sống đau thương nhưng kiên cường bất khuất của các dân tộc Tây Nguyên nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung

6. Trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu có chi tiết: Sau cuộc nói chuyện với “người đàn bà”, có “một cái gì vừa mới vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Theo anh (chị), nhân vật Đẩu đã hiểu ra điều gì?

D – Không thể đơn giản, sơ lược trong việc nhìn nhận cuộc sống và con người

7. Câu nào sau đây nêu chính xác và đầy đủ chủ đề truyện Số phận con người của nhà văn Nga Sô – lô – khốp?

D – Truyện Số phận con người thể hiện bản lĩnh kiên cường và nhân hậu của con người Xô viết.

8. Dòng nào sau đây không nêu đặc điểm thể hiện sự trong sáng của Tiếng Việt?

D – Sự phong phú, sinh động về từ ngữ, âm thanh

9. Đoạn văn sau có những đặc sắc gì về diễn đạt?

C – Dùng từ chính xác, độc đáo; sử dụng các phép tu từ lặp cú pháp, liệt kê

10. Đoạn văn sau đây sử dụng phép tu từ nào?

A – Lặp cú pháp, liệt kê

11. Đọc đoạn trích sau và cho biết vì sao lập luận đưa ra lại bị phe đối lập bác lại

B – Luận cứ không chính xác

12. Đoạn văn sau chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?

B – So sánh

PHẦN TỰ LUẬN

Lời giải chi tiết:

Đề 1 (trang 203 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

1. Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ.

Trả lời:

Tác giả Tô Hoài:

* Cuộc đời:

– Tô Hoài (1920 – 2014), tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội, nhưng sinh ra và lớn lên ở quê ngoại – làng Nghĩa Đô, thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội) trong một gia đính thợ thủ công.

– Thời trẻ, ông đã phải lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề, như làm gia sư dạy kèm trẻ, bán hàng, làm kế toán hiệu buôn,… và nhiều khi thất nghiệp

– Năm 1943, ông gia nhập Hội văn hóa cứu quốc.

– Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông làm báo và hoạt động văn nghệ ở  Việt Bắc.

* Sự nghiệp văn chương:

– Tô Hoài bước vào con đường văn học bằng một số bải thơ có tính chất lãng mạn và một cuốn truyện vừa, viết theo dạng võ hiệp, nhưng rồi ông nhanh chóng chuyển sang văn xuôi hiện thực và được chú ý ngay từ những sáng tác đầu tay, trong đó có Dế Mèn phiêu lưu kí. 

– Sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có gần 200 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, tự truyện, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.

– Phong cách nghệ thuật:

+ Sáng tác của ông thiên về diễn tả những sự thật của đời thường. 

+ Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta.

+Ông là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có – nhiều khi rất bình dân và thông tục, nhưng nhờ cách sử dụng đắc địa và tài ba nên có sức lôi cuốn, lay động người đọc.

– Năm 1996, ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

– Tác phẩm chính: Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện, 1941), O chuột (tập truyện, 1942), Quê hương (tiểu thuyết, 1942), Nhà nghèo (tập truyện, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Miền Tây (tiểu thuyết, 1967), Cát bụi chân ai (hồi kí, 1992), Chiều chiều (tự truyện, 1999), Ba người khác (thiểu thuyết, 2006).

Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”:

– Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập Truyện Tây Bắc, được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955, sau hơn nửa thế kỉ, đến nay vẫn giữ gần như nguyên vẹn giá trị và sức thu hút đối với nhiều thế hệ người đọc.

2. Phân tích giá trị nghệ thuật của việc xây dựng tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.

Trả lời:

a. Mở bài

– Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm:

+ Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn. Cuộc sống và con người làng quê Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ là đề tài chính trong sáng tác của Kim Lân, cũng là đề tài ông có sự gắn bó hiểu biết sâu sắc.

+ Vợ nhặt được coi là kiệt tác trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân, cũng là một truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại.

– Giới thiệu vấn đề nghị luận: Một trong những yếu tố quan trọng nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn Vợ nhặt chính là việc Kim Lân đã xây dựng thành công một tình huống truyện độc đáo.

b. Thân bài 

– Tình huống là hoàn cảnh có vấn đề, hàm chứa những mâu thuẫn, đòi hỏi con người phải có thái độ hay hành động thích ứng, qua đó mà bộc lộ tâm hồn, tính cách, trí tuệ,… của mình. 

– Những yếu tố tạo nên tình huống trong truyện ngắn Vợ nhặt:

+ Tình huống xuất hiện ngay từ nhan đề tác phẩm. Vợ nhặt là nhan đề tạo ra những ấn tượng sâu sắc, kích thích sự tò mò, chú ý của người đọc, hé mở tình huống đặc sắc của tác phẩm. Nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt với sự hàm chứa những mâu thuẫn, éo le góp phần phản ánh tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của những người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu săc của tác phẩm.

+ Tình huống được tạo dựng trên cơ sở những mâu thuẫn, trớ trêu được đảy tới tận cùng giới hạn.

Sự trớ trêu đầu tiên xuất hiện ở nhân vật Tràng – chủ thể của hành động “nhặt vợ”. Tràng là người mà ngay trong hoàn cảnh bình thường cũng rất khó có khả năng lấy được vợ: hắn là dân ngụ cư với địa vị lép vế trong làng xã, lại nghèo khổ, xấu xí, thô kệch và hơi dở tính. Vậy mà Tràng lại lấy được vợ, thậm chí chóng vánh, dễ dàng đến mức chính hắn cũng không tin nổi.

Sự trớ trêu thứ hai chính là hoàn cảnh “nhặt vợ” của Tràng. Hôn nhân là biểu tượng của cuộc sống gia đình, của sự sinh con đẻ cái, của sự sống. Vậy mà việc “nhặt vợ” của Tràng lại diễn ra vào thời điểm khuảng khiếp nhất của nạn đói Ất Dậu, khi không khí chết chóc đang bao trùm khắp nơi.

Tình huống trớ trêu ấy đã gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người: dân xóm ngụ cư thì thầm phỏng đoán; bà cụ Tứ không tin nổi vào mắt mình và ngay cả Tràng cũng ngờ ngợ, bàng hoàng như đang trong một giấc mơ…

– Giá trị của tình huống:

+ Tình huống kì lạ, độc đáo của tác phẩm phản ánh chân thực bức tranh hiện thực của làng quê Việt Nam trong nạn đói năm 1945 với  những âm thanh, hình ảnh, mùi vị,… gợi cảnh chết chóc thê thảm.

+ Không dừng lại ở việc phản ánh bề mặt của hiện thực với những hình ảnh hay âm thanh, Kim Lân còn phản ánh bề sâu của hiện thực khi sự đói khát khniế giá trị của con người trở nên rẻ rúng, những điều đẹp đẽ, thiêng liêng của cuộc sống trở nên bi hài, chua chát đến tội nghiệp.

Sự đói khát đã khiến cho hình hài, bộ dạng con người trở nên tiều tụy, thê thảm. Trẻ con xóm ngụ cư ủ rũ như những ông già; người lớn mặt mày u tối, hốc hác; người “vợ nhặt” mặc bộ quần áo rách tả tơi như tổ đỉa, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt…

Sự đói khát đã hủy hoại cả nhân cách con người. Điều này thể hiện chua xót nhất trong nhân vật người “vợ nhặt” khi miếng ăn ngày đói đã trở thành sự khởi đầu và đích đến của một mối quan hệ thiêng liêng, trở thành yếu tố chi phối khốc liệt đối với nhân cách con người.

Sự đói khát khiến cuộc sống trở nên đau đớn, kì quái, con người không được sống cho ra con người. Vợ nhặt là câu chuyện về một cuộc hôn nhan của những con người khốn khổ đến với nhau bắt đầu là vì miếng ăn, còn sau là hi vọng có thể chạy trốn cái đói. Tất cả những sự việc liên quan đến cuộc hôn nhân này đều bị hạ giá thê thảm: cô dâu cắp chiếc nón “rách tàng”, mặc bộ quần áo “tả tơi như tổ đỉa” về nhà chồng; hai hào dầu đã là xa xỉ, hoang phí cho đám cưới…

+ Không chỉ xót thương cho thân phận con người con người qua bức tranh hiện thực ngày đói, nhà văn còn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc trong việc khẳng định, ngợi ca, trân trọng và thể hiện niềm tự tin vào bản chất tốt đẹp của những con người biết vượt lên trên cái đói, cái thảm đạm để sống, để yêu thương, để vui và hi vọng.Sự đói khát không làm con người mất đi lòng nhân ái, những khát vọng hạnh phúc cũng như những hi vọng vào một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.

 c. Kết bài

Tạo dựng một tình huống đặc sắc với sự tập trung cao độ những yếu tố tương phản, những éo le, trớ trêu khi con người bị đẩy đến vực thẳm của đói khát, Kim Lân đã bộc lộ nỗi xót thương cho số phận con người, sự căm phẫn với bọn thực dân Pháp, phát xít Nhật đẩy nhân dân ta vào nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử; đặc biệt là thể hiện niềm tin và sự trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của con người.

Đề 2 (trang 203 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

1. Giới thiệu khái quát về tác giả Ơ. Hê – minh -uê và tác phẩm Ông già và biển cả.

Trả lời:

* Tác giả Ơ.Hê – minh – uê:

– Ơ – nít Hê – minh – uê (1899-1961) là nhà văn Mỹ đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới nói chung.

– Người thanh niên ấy bước vào đời với nghề viết báo và làm phóng viên mặt trận cho tới kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai.

– Ông nổi tiếng với những tiểu thuyết như: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), Chuông nguyện hồn ai (1940),…

– Truyện ngắn của ông được đánh giá là những tác phẩm mang phong vị độc đáo.

– Dù viết về thể nghiệm của những nhân vật từng tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất và cuộc chiến tranh thế giới chống phát xít hay viết về những trận đấu bò, săn thú dữ, đấu quyền Anh, dù viết về châu Phi hay châu Mĩ, ông đều nhằm ý đồ “viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”.

* Tác phẩm “Ông già vè biển cả”:

– Ông già và biển cả (1952) ra mắt bạn đọc trước khi Hê – minh – uê được tặng Giải thưởng Nô – ben về Văn học năm 1954, là một kết tinh tiêu biểu của những nét mới mẻ trong lối kể chuyện của Hê – minh -uê. 

– Truyện kể lại ba ngày hai đêm ra khơi đánh cá của ông lão Xan-ti-a-gô. Trong khung cảnh mênh mông trời biển, chỉ có một mình ông lão, khi chuyện trò với mây nước, chim cá, khi đuổi theo con cá lớn, khi đương đầu với đàn cá mập đang xông vào xâu xé dường như được thu hẹp tới mức cực hạn, nhưng câu chuyện cực kì đơn giản ấy lại gợi mở nhiều tầng ý nghĩa cho người đọc: một cuộc tìm kiếm con cá lớn nhất, đẹp nhất đời; hành trình nhọc nhằn và dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô tình; thể nghiệm về thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi ước mơ snags tạo, rồi trình bày nó trước mắt người đời; mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên… Bởi vậy, đúng như hình ảnh về tác phẩm nghệ thuật mà Hê – minh – uê đã từng so sánh và phấn đấu để sáng tạo, tác phẩm này giống như một tảng băng trôi.

– Ông già và biển cả xuất hiện trên phần nổi của ngôn từ không nhiều, lối viết giản dị song phần chìm của nó rất lớn, bởi đã gợi lên nhiều tầng ý nghĩa mà người đọc sẽ rút ra được tùy theo thể nghiệm và cảm hứng trước hình tượng – đó là biểu hiện của nguyên lí sáng tác do nhà văn đề ra: tác phẩm nghệ thuật như một “tảng băng trôi”.

2. “Có ba điều trong cuộc đời mỗi con người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội.”

Nêu suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên.

Trả lời:

Thời gian đã qua đi không thể trở lại                    

Dòng sông đã ra đi làm sao về chốn cũ                

Náo nức khơi xa không thể vắng những cánh buồm

Áng mây trên đầu không thể ngừng trôi               

(Phó Đức Phương – Không thể và có thể)

 Con người chỉ học đuợc cách nuối tiếc một khi những gì có giá trị đã ra đi không bao giờ trở lại… Nếu được phép chọn ba điều mà chúng ta muốn giữ lại trong cuộc đời này nhất, đó có lẽ chính là: thời gian, lời nói và cơ hội – những thứ tựa hồ như “áng mây trên đầu không thế ngừng trôi”.

Mất đi một ngôi nhà, cũng tức là bạn có khả năng xây dựng lại một ngôi nhà thứ hai. Đó cũng chính là lí do vì sao trên thế giới có hàng vạn ngôi nhà được đập đi và xây lại hằng năm… Mất đi một công việc, không có nghĩa bạn không thể kiếm được một công việc khác, thậm chí là tốt hơn công việc mà bạn đã từng làm.

Con người chúng ta sinh ra và tồn tại trong vũ trụ này có lẽ đã được ưu ái hơn rất nhiều loài khác khi Chúa trời ban cho chúng ta hi vọng và nghị lực níu giữ, cứu vãn mọi thứ của cải vật chất và thậm chí cả tình cảm (mất đi tình yêu đầu tiên, không có nghĩa là chúng ta không thể yêu lần thứ hai hay những lần tiếp theo sau đó). Nhưng có những thứ không nằm trong tầm kiểm soát chúng ta và chúng ta không thể níu giữ hay thay đổi được. Thời gian là một trong số đó.

Có câu “Thời gian là vàng, bạc”. Tôi thì không cho là như vậy. Vàng, bạc dù sao cũng chỉ là vật chất, con người chúng ta có thể làm ra chúng, tìm chúng… nhưng với thời gian, con người hầu như bất lực. Chúng ta không tạo ra thời gian và khi thời gian đã trôi đi thì không có cách gì khiến nó trở lại. Thời gian có lẽ còn quý hơn vàng bạc châu báu rất nhiều lần. Các vua chúa thời xưa bỏ ra rất nhiều công sức và tiền bạc để tìm thuốc trường sinh bất lão, cũng có nghĩa là muốn kéo dài thời gian sống của họ. Nói thời gian là tài sản vẫn chưa nói được hết sự quý giá của nó. Con người luôn muốn khống chế thời gian, nắm giữ thời gian, thậm chí còn có những mơ ước táo bạo về chiếc máy có thể quay ngược thời gian và thay đổi những việc đã làm quá khứ. Nhưng có lẽ đó mãi mãi chi là mơ ước vô vọng của con người. Mỗi phút trôi qua là ta mất đi một phút trong cuộc đời mình. Đó có thể là phút để tận hưởng một tách cà phê thơm lừng vào những buổi sớm, ngắm bình minh rạng đông trên những toà nhà cao tầng. Đó có thể là một phút tôi thoả sức đùa vui bên bạn bè, đầm ấm bên gia đình và người thân. Nhưng có thể là phút tôi vật lộn với bài vở học hành và quyết tâm ngày mai sẽ vào một trường đại học nào đó. Dù là những phút giây hạnh phúc hay đau khổ, thất vọng, tôi đều không muốn bỏ lỡ, vì tôi biết: thời gian qua đi, người ta sẽ mất đi rất nhiều điều. Chúng ta mất đi tuổi trẻ và bầu nhiệt huyết. Chúng ta mất đi cái ngây thơ hồn nhiên hay cái nông nổi dễ thương tuổi hồng, cuộc đời mỗi con người, có bao nhiêu lần chúng ta nuối tiếc vì nhũng gì đã làm, những lỗi lầm mình muốn sửa chữa… nhưng thời gian không cho hội để thực hiện.

Những người thành công trong cuộc sống là những người biết tận dụng tối đa thời gian. Mỗi ngày mỗi người chúng ta đều có một quỹ thời gian hai mươi tư tiếng đồng hồ để làm những việc chúng ta muốn chỉ có điều chúng ta xử lý khoảng thời gian đó như thế nào. Với hai mươi tư tiếng một ngày như nhau, nhưng hoạt động của bạn là tích cực và có hiệu quả sẽ khiến bạn thành công hơn rất nhiều so với những người có cùng lượng thời gian mà không biết sử dụng nó. Rèn luyện cách sống “ vội vàng”, sống để tận hưởng và tận hiến cho cuộc đời này sẽ giúp bạn không thấy nuối tiếc mỗi phút giây trôi qua trong cuộc đời…

Cùng với thời gian, có những thứ trôi qua mà không bao giờ có thể lấy lại được. Đó chính là lời nói. Tôi rất thích câu chuyện ngụ ngôn này: “Một bầy ếch đi dạo trong rừng và có hai con bị rơi xuống một cái hố sâu. Tất cả các con ếch khác đều bu lại quanh miệng hố cứu chúng lên. Nhưng khi thấy cái hố quá sâu, bọn ếch trên miệng hố liền nói với hai con ếch rằng chúng chỉ còn có nước chết mà thôi. Hai con ếch bỏ ngoài tai những lời bình luận đó và cố hết sức nhảy lên khỏi hố. Những con ếch kia lại nói với chúng đừng nên phí sức, đừng nên làm chuyện vô ích. Sau cùng, một con ếch phía dưới nghe theo những gì bầy nói, nó bỏ cuộc và chết trong sự tuyệt vọng.

Con ếch còn lại tiếp tục cố gắng nhảy. Một lần nữa cả bầy xúm lại và tiến lên, khuyên nó hãy thôi không cố gắng nữa. Cuối cùng, nó nhảy được lên bờ . Cả bầy vây quanh nó và hỏi: “Anh không nghe chúng tôi nói gì hay sao?”. Thì ra, con ếch này bị nặng tai. Nó tưởng cả bầy ếch đã động viên nó trong khoảng thời gian vừa qua…”.

Có một sức mạnh sống chết nơi miệng lưỡi chúng ta. Một lời động viên khích lệ cho một người đang bế tắc cũng có thể giúp anh ta vượt qua khó khăn vực anh ta dậy. Nhưng những lời nói thiếu thiện chí của chúng ta cũng có thể giết chết niềm hi vọng cuối cùng của một người đang trong cơn tuyệt vọng. Vấn để là ở chỗ nhiều khi chúng ta không ý thức hết được ý nghĩa, tác dụng của mỗi lời chúng ta nói. Giống như việc bạn thả một hòn sỏi vào nước, tạo những gợn sóng nhỏ xoay tròn, hoà vào cơn sóng lớn, tràn ra biển cả. Bạn hoàn toàn không quan tâm đến những con sóng bạn tạo ra, nhưng chỉ bằng một sỏi thôi, bạn đã khuấy động cả biển cả bao la. Buông một lời nói vô tình, không cân nhắc, trong phút chốc bạn quên ngay. Nhưng đối với những người xung quanh, nó sẽ để lại vô vàn ngọn sóng. Tất nhiên, những cơn sóng mà bạn tạo sẽ chẳng bao giờ quay trở lại với bạn, cũng như những lời nói vô tâm sẽ chẳng bao giờ lấy lại được, một khi bạn đã nói ra… Đôi khi tôi nghĩ, nếu có thể quay lại được thời gian thì dĩ nhiên chúng ta có thể sửa chữa những câu nói chúng ta đã lỡ lời nhưng thời gian chẳng thế quay lại được, và cũng đừng mong một ngày những lời nói của chúng ta sẽ được sửa chữa hay thay đổi… “Lời nói chẳng mất tiền mua” nhưng chúng để lại trong lòng người nghe những dấu ấn chẳng bao giờ phai nhạt.

Một lời nói dối sẽ để lại ấn tượng về một kẻ dối trá lừa lọc, và để lại những hoài nghi trong lòng người nghe… Một lời mắng mỏ, quở trách vô tâm khiến rơi nưóc mắt… Một lời nói xấu sau lưng, để lại những thất vọng tràn trề, tình bạn lặng im biến mất… Chúng ta có bao giờ xoá đi được những hoài nghi những giọt nước mắt, những thất vọng? Vì vậy mà chúng ta chẳng bao giờ sửa được những lời nói của mình. Một lời nói tốt, bạn đã xáo động một cuộc đời hạnh phúc hay làm rơi nưóc mắt của ai đó…

Một lời nói vui vẻ và thiện chí dù chỉ trong giây lát bạn tưởng như chúng bay đi… nhưng mang hy vọng, niềm vui và tình yêu đến cho mọi người… Nói những lời yêu thương chân thành, một lời động viên an ủi sẽ để lại trong tim người nghe niềm vui và hy vọng.

Cùng với thời gian và lời nói, cơ hội cũng là một tài sản quý báu nhưng là một thứ mỗi con người trong chúng ta một khi đã mất đi thì không bao giờ có thể lấy lại được.

Trong thần thoại Hi Lạp, Cai-rốt là vị thần cơ hội. Thần có chòm tóc dài trước trán, phía sau thì hói. Nếu bạn muốn nắm lấy cơ hội thì khi ông ta đang tiến gần, bạn phải ngay lập tức nắm lấy chỏm tóc trước trán ấy. Khi Cai-rốt đã đi qua rồi, bạn không còn nắm được cơ hội nữa vì phía sau không còn tóc mà nắm. Như vậy, khi cơ hội đến với chúng ta, nếu bạn không nắm bắt nó ngay, thì sẽ bỏ lỡ, và vị thần cơ hội ấy không dành chỏm tóc thứ hai đằng sau cho bạn.

Trong cuộc sống, chúng ta luôn than thở rằng mình kém may mắn, hay cơ hội không đến với mình. Thậm chí chúng ta còn lấy “cơ hội” ra để biện minh thất bại của mình. Nhưng thực ra, cơ hội của mỗi người trong chúng ta như nhau, chỉ có điều, bạn có nhận ra là nó đang đến, và có kịp nắm bắt nó không mà thôi.

Có hai nhà đầu tư chứng khoán cùng nhìn thấy cổ phiếu của một công ty đang sụt giảm. Nhà đầu tư A thấy vậy liền nói: “Công ty này chắc chắn không phải là nơi để ta đầu tư!”. Ngược lại, nhà đầu tư B lại nghĩ đây là cơ hội để đầu tư. Ông ta đã đầu tư vào công ty này bất chấp giá cổ phiếu của nó đang sụt giảm. Hai ngày sau, giá cổ phiếu bỗng nhiên tăng đột ngột. Nhà đầu tư B, do nắm bắt cơ hội nên đã mau chóng trở nên giàu có. Như vậy, cơ hội dành cho con người là như nhau. Khi cơ hội đến, bạn chi cần hơi sao nhãng, lưỡng lự thì chẳng khác gì bạn đang khoanh tay dâng cơ hội cho người khác. Mà có những cơ hội nếu để lỡ một lần bạn sẽ phải hối tiếc cả đời…

Cơ hội không phụ thuộc vào số phận như may mắn. Cơ hội tuỳ thuộc vào bản thân chúng ta. Chúng ta học mười hai năm đằng đẵng, cơ hội của chúng ta là kì thi đại học đầy cam go để chứng tỏ bản thân mình. Bạn càng chăm chỉ, càng nỗ lực thì khả năng nắm bắt cơ hội, khả năng đỗ của bạn càng cao. Như trường hợp của nhà đầu tư chứng khoán, nếu anh ta không có tầm nhìn, sự hiểu biết nhất định, chắc chắn anh ta sẽ không nhận ra đó là cơ hội để “tóm” lấy thành công. Vì vậy, cơ hội nằm trong tay chúng ta chứ không phái là ai khác. Đó có thể là những cơ hội giản dị, như cơ hội để nói những lời yêu thương đối với gia đình, bạn bè mình… Có thể ai trong chúng ta cũng có cơ hội, nhưng không phải ai trong chúng ta cũng nhận ra và đón chào nó. Chúng ta thường bỏ lỡ cơ hội đem đến tình yêu cho mọi người, do bản thân của chúng ta không biết. Khi những người đó đã xa rời ta mới hối tiếc vì mình bỏ lỡ cơ hội được nói những lời yêu thương.

Trước khi vào trong phòng mổ, mong ước lớn nhất của ngoại là được nghe tôi hát một lần. Ngoại muốn nghe cháu gái yêu của ngoại hát bài hát mà hồi bé ngoại đã dạy cho tôi. Nhưng tôi đã không làm điều đó. Tôi cười và nói ngoại: “Ngoại à! Con lớn rồi mà, con không hát trước đông người đâu! Khi nào ngoại khỏi bệnh, con sẽ hát cho ngoại nghe, lúc nào chỉ có con với ngoại thôi”… Nhưng sau đó, tôi không còn cơ hội hát cho ngoại nghe một lần nào nữa. Tôi đã bỏ lỡ cơ hội để hát… và cũng bỏ lỡ cơ hội để nói với ngoại tôi yêu ngoại đến nhường nào…

Chúng ta, những con người trẻ tuổi, trẻ lòng, chúng ta còn nhiều thời gian và cơ hội. Nhưng có phải vì thế mà bạn dừng chân lại và tạm chấp nhận con đường bằng phẳng, hay là đi quá nhanh để lãng phí những giá trị của cuộc sống này? Bạn và tôi đều còn rất trẻ, trẻ và tràn đầy sức sống. Hơn hết, chúng ta thật may mắn khi nhìn thấy được những thứ mà trong tương lai chúng ta có thể bò lỡ, nhìn thấy sự mất mát trước khi bị mất mát thật sự. Chúng ta sẽ có ý thức hơn để không để tuột mất những cơ hội, để tạo ra những gì chúng ta muốn, để cuộc sống này ý nghĩa hơn.

Vậy thì tại sao ngay từ bây giờ bạn không nâng niu những gì mà bạn có. Sao bạn không thực hiện thuyết Tương đối của Anh-xtanh, sao bạn không “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” và không “tóm” thật mạnh lấy túm tóc thần Cơ hội khi ngài bước qua? Hãy làm những điều đó để hạnh phúc mỉm cười với bạn… Hãy biến những điều không thể trở thành có thể:

Người đã ra đi có thể trở lại                                  

Vết thương ngày nào có thể liền da                       

Nước mắt sẽ thôi rơi, đôi môi lại chín đỏ                 

Bồi hồi ngày gặp nhau xua tan đi bao nỗi mong nhớ

Vòng tay yêu thương có thể rộng mở                      

Bóng mây muộn sầu có thế dần tan                       

Và điểu này thật rộn ràng êm ái                           

Có thể ngày mai chúng ta sẽ thành đôi.                

(Phó Đức Phương – Không thể và có thể)

Trần Mỹ Hạnh

(Lớp 12 Văn, Trường THPT chuyên Nguyễn Huệ – Hà Nội)

 

Bài soạn “Kiểm tra tổng hợp cuối năm Lớp 12” số 3

I – HƯỚNG DẪN CHUNG

1. Những nội dung cần chú ý

Ôn lại những nội dung đã được hướng dẫn ôn tập ở cuối học kì I. Chú trọng ôn tập các nội dung sau đây ở học kì II:

a) Về Văn học

Giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm, đoạn trích đã học ở học kì II:

– Phần văn học Việt Nam: Vợ Chồng A Phủ (Tô Hoài); Vợ nhặt (Kim Lân), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành); Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi); Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu); Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) và một số văn bản nhật dụng.

– Phần văn học nước ngoài: Thuốc (Lỗ Tấn), Số phận con người (M. Sô-lô-khốp), Ông già và biển cả (Ơ.Hê-minh-uê).

– Lí luận văn học: Giá trị văn học và tiếp nhận văn học.

b) Về Tiếng Việt

– Nhân vật giao tiếp

– Thực hành về hàm ý

– Phong cách ngôn ngữ hành chính.

c) Về làm văn

– Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

– Rèn luyện kĩ năng mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận

– Diễn đạt trong văn nghị luận

– Phát biểu tự do

– Văn bản tổng kết.

II – GỢI Ý ĐỀ BÀI

(Thời gian làm bài 90 phút, không kể thời gian giao đề.)

Phần trắc nghiệm (3 điểm)

1. Nội dung nào sau đây không phải là biểu hiện của tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt?

A – Trân trọng niềm khát khao tổ ấm gia đình

B – Ca ngợi tình thương yêu giữa những người nghèo khổ

C – Xây dựng một tình huống đặc biệt: vui mà tội nghiệp, mừng mà vừa tủi, vừa lo

D – Xót thương trước tình cảnh thê thảm của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám

2. Câu nào sau đây nêu đúng và đầy đủ chủ đề truyện ngắn Vợ nhặt?

A – Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kể về người vợ “nhặt được” của Tràng.

B – Truyện ngắn Vợ nhặt cửa Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói năm 1945 mà còn khẳng định bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ.

C – Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân thể hiện niềm khát khao tổ ấm gia đình và tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau của những người nông dân trước Cách mạng.

D – Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân nói về tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói năm 1945.

3. Thành công chủ yếu về nghệ thuật của truyện Vợ chồng A Phủ thể hiện ở những phương diện nào?

A – Khắc họa tính cách nhân vật; tạo màu sắc và phong vị dân tộc.

B – Khắc hoạ tính cách nhân vật; xây dựng tình huống truyện

C – Khắc họa tính cách nhân vật; miêu tả tâm lí nhân vật

D – Tạo màu sắc và phong vị dân tộc; xây dựng tình huống truyện

4. Đặc điểm nào dưới đây không thể hiện màu sắc sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành?

A – Đề cập tới vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước – cuộc kháng chiến chống Mĩ giành độc lập cho dân tộc

B – Xây dựng các nhân vật anh hùng quyết chiến đấu, hi sinh vì độc lập tự do của đất nước

C – Thể hiện tinh thần lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ

D – Tạo dựng một bức tranh hoành tráng về thiên nhiên và con người

5. Nhận định nào sau đây đúng và đầy đủ?

Hình tượng rừng xà nu trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Trung Thành có ý nghĩa tượng trưng cho:

A – Sức sống tuyệt vời của thiên nhiên Việt Nam

B – Cuộc đấu tranh bất khuất của dân làng Xô Man và các dân tộc Tây Nguyên

C – Sự bất lực của bom đạn đế quốc Mĩ

D – Cuộc sống đau thương nhưng kiên cường, bất khuất của các dân tộc Tây Nguyên nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung

6. Trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu có chi tiết: Sau cuộc nói chuyện với “người đàn bà”, có “một cái gì vừa mới vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Theo anh (chị), nhân vật Đẩu đã hiểu ra điều gì?

A – Cuộc sống còn quá nhiều khó khăn của người dân chài vùng biển

B – Sự nhẫn nhục, cam chịu của người phụ nữ lao động vùng biển

C – Tình thương yêu vô bờ của người mẹ đối với những đứa con của mình

D – Không thể đơn giản, sơ lược trong việc nhìn nhận cuộc sống và con người

7. Câu nào sau đây nêu chính xác và đầy đủ chủ đề truyện Số phận con người của nhà văn Nga M.Sô-lô-khốp?

A – Truyện Số phận con người thể hiện sự tàn bạo của chiến tranh phát xít.

B – Truyện Số phận con người thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với những số phận chịu nhiều mất mát trong chiến tranh.

C – Truyện Số phận con người thể hiện khát vọng vươn lên làm chủ số phận của con người.

D – Truyện Số phận con người thể hiện bản lĩnh kiên cường và nhân hậu của con người Xô viết.

8. Dòng nào sau đây không nêu đặc điểm thể hiện sự trong sáng của tiếng Việt?

A – Tính chuẩn mực, có quy tắc

B – Sự không lai căng, pha tạp

C – Tính lịch sự, văn hoá trong lời nói

D – Sự phong phú, sinh động về từ ngữ, âm thanh

9. Đoạn văn sau có những đặc sắc gì về diễn đạt?

Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.

(Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Sđd)

A – Dùng từ chính xác, độc đáo; viết văn giàu hình ảnh

B – Viết văn giàu hình ảnh; sử dụng các phép tu từ lặp cú pháp, liệt kê

C – Dùng từ chính xác, độc đáo; sử dụng các phép tu từ lặp cú pháp, liệt kê

D – Viết văn giàu hình ảnh; sử dụng các phép tu từ chêm xen, liệt kê

10. Đoạn văn sau đây sử dụng phép tu từ nào?

Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn.

(Nguyễn Trung Thành, Rừng xà nu)

A – Lặp cú pháp, liệt kê

B – Lặp cú pháp, chêm xen

C – Liệt kê, chêm xen

D – Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen

11. Đọc đoạn trích sau và cho biết vì sao lập luận đưa ra lại bị phe đối lập bác lại?

[…] Năm 1990 trong cuộc thi hùng biện châu Á về luận đề “Loài người chung sống hoà bình là lí tưởng có thể thực hiện”, phía phản bác là đội Đại học Đài Loan, số 2 nói: “Dựa vào số liệu thống kê, từ năm 1945 đến nay, mỗi ngày có 12 cuộc chiến xảy ra, bao gồm các cuộc chiến tranh quốc tế hay nội chiến lớn nhỏ. Xin hỏi mọi người, đó là trạng thái hòa bình chăng?”.

Về việc này, đội bảo vệ là Đại học Nam Kinh, số 3 phản bác:”… Đội bạn nói rằng từ 1945 đến nay, mỗi ngày nổ ra 12 cuộc chiến tranh. Các số này nêu ra không chính xác. Sự thực là những năm 60 tổng cộng đã nổ ra khoảng 30 cuộc chiến, còn đến những năm 80 thì cả thảy nổ ra chưa đến 10 cuộc. Điều này chẳng nói lên một xu thế hoà hoãn hay sao?”.

(Theo Triệu Truyền Đống, Phương pháp biện luận, Nguyễn Quốc Siêu biên dịch, NXB Giáo dục, 1999)

A – Luận cứ không đầy đủ

B – Luận cứ không chính xác

C – Luận cứ không tiêu biểu

D – Luận cứ mâu thuẫn

12. Đoạn văn sau chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?

Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy. Có người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên, và hiểu Lục Vân Tiên khá thiên lệch về nội dung và về văn, còn rất ít biết thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp lúc chúng đến bờ cõi nước ta cách đây một trăm năm!

(Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc)

A – Chứng minh

B – So sánh

C – Giải thích

D – Phân tích

Phần tự luận (7 điểm – Chọn một trong hai đề):

Đề 1

1. Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ. (2 điểm)

2. Phân tích giá trị nghệ thuật của việc xây dựng tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. (7 điểm)

Đề 2

1. Giới thiệu khái quát về tác giả Ơ.Hê-minh-uê và tác phẩm Ông già và biển cả. (2 điểm)

2. “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”.

Nêu suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên. (5 điểm)

Trả lời:

PHẦN TRẮC NGHIỆM

Câu 1 2 3 4 5 6
Đáp án: C B B D D D
Câu 7 8 9 10 11 12
Đáp án: C D C D B B

II – PHẦN TỰ LUẬN

Đề 1

♦ Câu 1:

a) Tác giả:

– Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại.

– Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá khác nhau trên đất nước ta.

– Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc.

b) Tác phẩm:

– Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”.

– Đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ nhất của tác phẩm.

♦ Câu 2:

Giá trị nghệ thuật của việc xây dựng tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân:

– Tình huống truyện: Nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã tràn ngập đến xóm ngụ cư như một cơn lũ, người chết như ngả rạ, người sống đi lại dật dờ như những bóng ma. Thế mà Tràng, một thanh niên nghèo, xấu xí, thô kệch, ngộc nghệch lại là dân ngụ cư bị người ta khinh rẻ bỗng dưng nhặt được vợ như nhặt cái rơm, cái rác bên đường.

⇒ Đây là tình huống éo le, bi hài: Tràng lấy được vợ lúc này là việc đáng mừng hay đáng lo nên cười hay nên khóc.

– Qua tình huống truyện, Kim lân đã làm nổi bật tâm lí, số phận những người nông dân nghèo trong nạn đói. Đằng sau đó là ý đồ nghệ thuật của nhà văn:

+ Làm nổi bật tâm lí nhân vật

+ Làm nổi bật số phận bi thảm của người nông dân nghèo trong nạn đói năm 1945 (số phận Tràng, số phận thị, số phận bà cụ Tứ).

+ Thông qua tình huống truyện, tác giả còn mở ra một dự cảm tốt lành về sự thay đổi số phận của những con người khốn khổ ấy.

+ Thể hiện cái nhìn hiện thực và nhân đạo của nhà văn Kim Lân.

Đề 2

♦ Câu 1:

a) Tác giả:

– Ơ. Hê – minh – uê là nhà văn Mĩ đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới nói chung.

– Tác phẩm chính: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), Chuông nguyện hồn ai (1940), Trong thời đại chúng ta (1925),…

b) Tác phẩm:

– Ông già và biển cả (1952) ra mắt bạn đọc trước khi Hê – minh – uê được tặng giải thưởng Nô – ben về văn học năm 1954, là một kết tinh trong lối kể chuyện của Hê -Minh – Uê.

– Tác phẩm thể hiện niềm tin bất diệt và ý chí nghị lực của con người, “Con người có thể bị đánh bại chứ không bị hủy diệt”.

– Ông già và biển cả tiêu biểu cho lối viết theo nguyên lí “tảng băng trôi” của Hê – minh – uê”.

♦ Câu 2

– Giải thích và chứng minh tính đúng đắn của ý kiến: “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”.

+ Thời gian trôi qua không bao giờ trở lại, tuổi trẻ, sức lực sẽ tàn phai theo thời gian.

+ Lời nói là điều có thể nói ra dễ dàng nhưng rất khó thu lại, lời đã nói ra như bát nước hắt đi.

+ Cơ hội là điều hiếm hoi trong cuộc sống, để có được cơ hội phải hội tụ nhiều yếu tố. Cơ hội đã trôi qua thì khó lặp lại lần tiếp theo.

– Bài học rút ra:

+ Phải biết quý trọng, không nên lãng phí thời gian, phải biết tận dụng thời gian để làm những việc có ích.

+ Cần cẩn trọng, suy nghĩ chín chắn trước câu nói.

+ Khi thời cơ đến, phải biết nắm lấy, không nên bỏ lỡ.

 

Bài soạn “Kiểm tra tổng hợp cuối năm Lớp 12” số 4

I. Hướng dẫn chung

II. Gợi ý đề bài

Gợi ý giải đáp phần trắc nghiệm (Trắc nghiệm, trang 199, sgk ngữ văn 12, tập 2)

1

2

3

4

5

6

C

B

A

C

D

D

7

8

9

10

11

12

D

D

C

D

A

B

Phần tự luận

Đề 1

Câu 1 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tác giả Tô Hoài:

– Tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê ở Thanh Oai, Hà Đông, nhưng sinh ra và lớn lên ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức (nay là Cầu Giấy, Hà Nội)

– Thời trẻ ông lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề, đôi khi thất nghiệp

– Ông tham gia vào kháng chiến, sau đó viết văn, sáng tác nghệ thuật

– Sự nghiệp sáng tác:

    + Ban đầu ông viết thơ có tính lãng mạn, viết truyện võ hiệp nhưng ông chuyển sang viết văn xuôi hiện thực, được chú ý và biết tới với tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí

    + Ông thành công với nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng

– Phong cách sáng tác:

    + Diễn tả sự thật đời thường

    + Có hiểu biết phong phú, sâu sắc về tập quán nhiều vùng khác nhau trên đất nước

    + Là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải

– Tác phẩm chính nổi tiếng: Dế Mèn phiêu lưu kí, Quê hương, O chuột, Truyện Tây Bắc, Cát bụi chân ai… Đặc biệt truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được tặng giải Nhất – Hội nhà văn Việt Nam 1945 – 1955 đến nay vẫn giữ nguyên giá trị sức hút với nhiều người đọc.

Câu 2 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 2): Phân tích giá trị nghệ thuật trong việc tạo tình huống truyện Vợ nhặt

Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm

Vợ nhặt được coi là kiệt tác trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân, đây là truyện ngắn nói về cuộc sống của con người ở làng quê Việt Nam, đó cũng là đề tài chính trong các sáng tác của Kim Lân

– yếu tố làm nên giá trị tư tưởng, nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn Vợ nhặt chính là việc Kim Lân xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo.

Thân bài

Tình huống truyện có vấn đề, hàm chứa mâu thuẫn, đòi hỏi con người càn có thái độ hay hành động thích ứng, qua đó bộc lộ tâm hồn, tính cách, trí tuệ của mình

– Yếu tố tạo nên tình huống đặc sắc:

    + Nhan đề truyện hấp dẫn, gợi tò mò chú ý cho người đọc

    + Tình huống truyện xây dựng trên những mâu thuẫn éo le, góp phần phản ánh tình cảnh khốn khổ, cùng cực của người dân trong những năm 1945

    + Tràng người trong hoàn ảnh bình thường khó có khả năng lấy được vợ: là dân ngụ cư lép vế trong làng xã, lại nghèo khổ, xấu xí, thô kệch, hơi dở tính. Vậy mà Tràng lấy được vợ, chóng vánh tới mức không thể tin được

    + Hoàn cảnh trớ trêu, Tràng nhặt được vợ ngay lúc nạn đói hoành hành

– Giá trị của tình huống:

    + Tình huống kì lạ, độc đáo, phản ánh hiện thực xã hội trong những năm 1945

    + Đói khát khiến giá trị con người trở nên rẻ rúng, những điều thiêng liêng, đẹp đẽ trở nên bi hài tới tội nghiệp

    + Sự đói khát khiến cho hình hài,bộ dạng con người tiều tụy, thê lương ( cô vợ Tràng nhặt được mặt mũi hốc hác, chỉ còn hai con mắt…)

    + Xót thương cho thân phận con người qua bức tranh hiện thực ngày đói, nhà văn thể hiện tư tưởng nhân đạo trong việc ngợi ca niềm tin, tình yêu thương, che chở giữa người với người.

    + Những khát vọng bình dị về cuộc sống hạnh phúc, an lành

– Giá trị tố cáo:

Căm hận trước tội ác của bọn thực dân, phát xít khi chúng xâm lược nước ta

Kết bài: Tạo dựng tình huống đặc sắc với sự tập trung cao độ những yếu tố tương phản, éo le, khi con người bị đẩy tới đường cùng của nghèo đói.

– Qua đó ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người, thể hiện niềm tin, khát vọng vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Đề 2

Câu 1 (Trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Giới thiệu tác giả Hê- minh- uê:

Nhà văn Mỹ để lại ấn tượng sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây, góp phần đổi mới truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới

– Ông từng làm báo, làm phóng viên trên mặt trận cho tới khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai

– Những tác phẩm nổi tiếng: Mặt trời vẫn mọc, Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai

– Truyện ngắn của ông được đánh giá là tác phẩm mang phong vị độc đáo

– Tác phẩm Ông già và biển cả:

    + Ra mắt bạn đọc trước khi Hê-minh-uê được tặng giải No-ben văn học.

– Truyện kể về hành trình hai ngày, ba đêm ra khơi đánh cá của ông lão Xan- ti-a- go. Trong khung cảnh mênh mông biển trời, ông lão quyết tâm theo đuổi con cá kiếm.

Hành trình chinh phục con cá kiếm là hành trình nhọc nhằn,dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô tình, thể nghiệm thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi ước mơ sáng tạo, thể hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.

– Tác phẩm ông già và biển cả xuất hiện trên phần nổi của ngôn từ không nhiều song với lối viết giản dị, đã tạo nên nhiều tầng ý nghĩa người đọc rút ra tùy theo thể nghiệm, hiểu biết.

Tác phẩm sáng tác theo nguyên lí tảng băng trôi.

– Truyện ngắn Ông già và biển cả xuất hiện trên phần nổi của ngôn từ không nhiểu, lối viết giản dị xong phần chìm của nó rất lớn.

Câu 2 (trang 203 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Dàn ý: “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”

Mở bài: Trích dẫn ý kiến phần đề bài, gợi cho chúng ta suy nghĩ về những điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Cho ta những định hướng sống trong thời đại có quá nhiều thay đổi

Thân bài

* Giải thích các yếu tố có trong quan điểm

– Thời gian có hạn với con người, người ta còn ví thời gian với những thứ quý giá trên đời “thời gian là vàng bạc”

– Lời nói là biểu hiện của tư tưởng, lối sống, đạo đức của con người, vì thế con người luôn phải thận trọng với lời nói của mình

– Khi nói ra phải thực hiện được để giữ chữ tín

– Cơ hội chính là sự may mắn, điều kiện thuận lợi tới để ta có thể thay đổi cuộc sống.Khi cơ hội đến nhưng không biết nắm bắt cơ hội thì rất khó có sự thay đổi đột phá, vì vậy cần tranh thủ tận dụng cơ hội khi chúng tới

* Cần biết sử dụng, tận dụng các yếu tố về thời gian, cơ hội, lời nói

    + Khai thác hiệu quả quỹ thời gian và lời nói để đạt được những mục tiêu về học tập, làm việc, thành quả trong cuộc sống

– Để có thể sử dụng hiệu quả thời gian, lời nói, cơ hội con người cần có hiểu biết, trí tuệ, phải học tập và rèn luyện một cách khoa học

– Khi sống có kế hoạch, mục đích thì ta mới biết sắp xếp và sử dụng quỹ thời gian hợp lý.

– Phê phán những người nói lời khoác lác, khoe mẽ, nói những điều sai sự thật, gây chia rẽ, bất hòa

– Thời gian, lời nói và cơ hội là những điều quý giá nhất trong cuộc sống của mỗi người. Nếu biết sử dụng những điều này sẽ mang lại cho ta nhiều thành công trong cuộc sống.

– Cần phải biết học tập, rèn luyện để có thể sử dụng hiệu quả lời nói, thời gian và biết vận dụng cơ hội để có thể vững tin vào cuộc sống

– Sử dụng các câu ca dao, thành ngữ, nói về giá trị của thời gian, lời nói và cơ hội để minh chứng cho tầm quan trọng của những yếu tố trên

    + Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    + Ăn nhai, nói nghĩ.

* Bài học rút ra từ ý kiến trên:

    + Không nên lãng phí thời gian,

    + Cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo, chín chắn trước những điều sắp nói

    + Thời cơ đến phải biết tận dụng và nắm bắt thời cơ.

Kết bài: Khẳng định tầm quan trọng của thời gian, lời nói và cơ hội đối với sự thành công trong cuộc sống

 

Bài soạn “Kiểm tra tổng hợp cuối năm Lớp 12” số 5

Đề 1:

Câu 1: Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ (2 điểm)C

Câu 2: Phân tích giá trị nghệ thuật của việc xấy dựng tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (5 điểm)

Trả lời 

Câu 1: 

  • Tác giả:
    • Tô Hoài (1920 – 2014) tên khai sinh là Nguyễn Sen. Ông sinh ra trong một gia đình thợ thủ công nghèo ở huyện Thanh Oai, Hà Đông. Thời trẻ, Tô Hoài đã phải lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề để kiếm sống. Chính những năm tháng lam lũ, vất vả này đã trau dồi cho Tô Hoài một vốn sống vô cùng phong phú và ông cũng thấu hiểu hơn nỗi khổ của nhân dân lao động mà đưa nó vào những trang viết của mình một cách chân thực nhất.
    • Tô Hoài là một người Hà Nội thanh lịch, hóm hỉnh, lịch lãm tài hoa, một cây bút có sức viết bền bỉ, dẻo dai và khả năng sáng tạo dồi dào. Gần 70 năm cầm bút ông cho ra đời gần 200 đầu sách.
    • Đặc biệt, Tô Hoài có sở trường khi viết về những câu chuyện miền cao, những câu chuyện miền núi Tây Bắc với một vốn kiến thức đã dạng. Văn của ông hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động trên cơ sở vốn từ vựng giàu có.
  • Tác phẩm
    • Ra đời năm 1952, là một trong ba truyện ngắn xuất sắc của Tô Hoài gồm “Cứu đất cứu người”, “Mường Giơn” và “Vợ chồng A Phủ” in trong tập “Truyện Tây Bắc”, được tặng giải nhất – giải thưởng Hội văn nghệ VIệt Nam (1954 – 1955). Đây cũng là tập truyện thể hiện phong cách và khẳng định vị trí của Tô Hoài trong nền văn học nước nhà.
    • Vợ chồng A Phủ là kết quả của những trải nghiệm trong chuyến đi thực tế 8 tháng ròng của nhà văn khi ông cùng chung sống, sẻ chia với con người Tây Bắc.

Đề 2: 

Câu 1: Giới thiệu khái quát về tác giả Ơ. Hê-minh-uê và tác phẩm Ông già và biển cả  (2 điểm)

Câu 2: “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội” 

Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên (5 điểm)

Trả lời

Câu 1: 

  • Tác giả
    • Hê minh uê (1899- 1961), là một người trí thức được sinh ra tại Hoa Kì. Ông đã làm rất nhiều nghề khi bước chân ra khỏi trường đại học ông đã làm nghề phóng viên.
    • Ông là một người rất tài năng, số lượng đề tài về văn thơ của ông rất lớn: truyện thuyết, tiểu thuyết, hồi kí …
    • Ông là một nhà văn mĩ vĩ đại nhất ở thế kỉ XX, và nhiều giải thưởng cao quý khác như giải Noben ở Mĩ…
    • Truyện ngắn của Hê-minh-uê được đánh giá là những tác phẩm mang phong vị độc đáo hiếm thấy. Mục đích của nhà văn là “viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”.
    • Ông sáng tác theo nguyên lí “tảng băng trôi” chỉ có một phẩn của tảng băng nổi trên mặt nước, cũng là phần ý nghĩa được thể hiện tren bề mặt lớp ngôn từ; còn 7 phần của tảng băng chìm xuống dưới nước, cũng là phần ý nghĩa mà người đọc có thể cảm nhận được từ vốn sống, hiểu biết, trải nghiệm của mình.
  • Tác phẩm
    • Được xuất bản đầu tiên trên tạp chí Đời sống.
    • Tác phẩm gây được tiếng vang lớn và hai năm sau Hê-minh-uê được trao giải Nô-ben.
    • Tác phẩm tiêu biểu cho lối viết “tảng băng trôi”: dung lượng câu chữ ít nhưng “khoảng trống” được tác giả tạo ra nhiều, chúng có vai trò lớn trong việc tăng các lớp nghĩa cho văn bản (tác giả nói rằng tác phẩm lẽ ra dài cả 1000 trang nhưng ông đã rút xuống chỉ còn bấy nhiêu)
    • Đoạn trích nằm ở cuối truyện.
    • Đoạn trích kể về việc chinh phục con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô. Qua đó, người đọc cảm nhận được nhiều tầng nghĩa, đặc biệt là vẻ đẹp của con người trong việc theo đuổi ước mơ giản dị nhưng rất to lớn của đời mình và ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con cá kiếm.

Câu 2 

Gợi ý: 

Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận và trích dẫn nhận địnhCó ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội” 

Thân bài: 

  • Giải thích câu nói:
    • Thời gian: là thứ mà ai cũng có, là cuộc đời của ta từ khi ta sinh ra đến lúc ta nhắm mắt xuôi tay. Quỹ thời gian của con người là có hạn vì thời gian là tuyến tính, luôn chảy trôi mà không chờ đợi một ai cả
    • Lời nói: mang dấu ấn cá nhân. Thông qua lời nói ta có thể hiểu tính cách, quan niệm, tư tưởng của một con người. Vì thế, phải cẩn trọng với những lời mà ta sắp nói ra. Vì cũng giống như thời gian, lời nói cũng là tuyến tính, một khi đã nói ra thì không thay đổi hay lấy lại được
    • Cơ hội: sự thuận lợi trong một thời điểm nhất định để con người có thể bộc lộ và phát huy hết năng lực của bản thân mình. Vì chỉ tồn tại trong một thời điểm nhất định nên nếu để qua đi, chưa chắc chúng ta sẽ có lại được sự thuận lợi ấy lần nữa

=> Cả câu nói khẳng định giá trị của thời gian, lời nói và cơ hội trong cuộc đời của mỗi chúng ta. Và chúng ta cần phải cẩn trọng, trân trọng và sử dụng những thứ vô giá ấy một cách hợp lí.

  • Bàn luận vấn đề
    • Thời gian của con người là có hạn, lời nói làm nên giá trị của chúng ta còn cơ hội là điều kiện để ta có thể phát huy hết khả năng của mình. Một người thông minh là một người biết sử dụng thời gian hợp lí, biết nói đúng thời điểm, nói đúng vấn đề; biết chớp lấy cơ hội khi nó đến với mình

=> Lấy dẫn chứng trong cuộc sống, lịch sử, văn học

    • Muốn sử dụng thời gian hợp lí, lời nói hiệu quả và không bỏ qua cơ hội của mình, chúng ta cần nhận rõ giá trị của bản thân, những điểm mạnh và điểm yếu để khắc phục, tạo ra những thói quen tốt
    • Phê phán những con người không biết quý trọng thời gian, ba hoa khoác lác và không biết tận dụng những cơ hội trong cuộc sống
  • Bài học cho bản thân

Kết bài: Khẳng định lại giá trị của câu nói và vai trò của thời gian, lời nói và cơ hội trong cuộc sống của mỗi chúng ta

 

Nguồn: Tổng Hợp