Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2021 có đáp án

Đề thi thử và đáp án THPT Quốc gia môn Ngữ văn theo cấu trúc chuẩn năm 2021 dành cho các em thử sức với các câu hỏi có trong đề thi THPT Quốc gia.

Xem thêm: Top 3 đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2021 có đáp án

Đề số 1 – Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn

Đề bài

I.ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

        Có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình chỉ vì họ sợ bị thất bại. Họ không muốn thử sức mình với các kỳ thi quốc gia vì họ không tin rằng họ sẽ chiến thắng. Họ sợ phải nhận những bức thư từ chối, nên họ không nộp đơn xin việc ở nước ngoài. Họ ngại tham gia khóa học để cải thiện một kỹ năng còn yếu vì lo sợ phải đối mặt với những sự chế giễu. Nhưng nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang.

       “Có chắc không?”là câu hỏi khiến chúng ta cảm thấy bất ổn khi có ý muốn thoát ra khỏi vùng an toàn. “Chắc hẳn mà” là câu trả lời mà chúng ta luôn muốn nghe. Chúng ta muốn chắc chắn sẽ nhận được học bổng khi đăng ký, chúng ta muốn chắc chắn sẽ không bị hổ vồ khi đi thám hiểm Safari, chúng ta muốn chắc chắn rằng người mà chúng ta chọn là vợ hay chồng sẽ ở với chúng ta mãi mãi. Nhưng có gì trên thế giới này mà không có độ rủi ro nhất định? Sự rủi ro có thể đến với từng người trong chúng ta bất kỳ lúc nào. Rủi ro có thể đến với bạn ngay trong khi bạn chấp nhận làm bất cứ việc gì. Để chắc chắn rằng rủi ro không đến với mình, việc duy nhất bạn có thể làm là không làm gì cả, nằm trên giường và… mơ về những thứ mà bạn không dám làm trong thế giới thật. Nhưng bạn có dám chắc là trong cơn mơ, bạn sẽ không bị giật mình và ngã xuống đất? Nếu rủi ro có thể ập đến với bạn cả khi bạn đang mơ, vậy tại sao bạn lại không dám ra ngoài và dám biến những ước mơ của bạn trở thành hiện thực?

(Trích Hộ chiếu xanh đi quanh thế giới; Hồ Thu Hương, Nguyễn Phan Linh, Phạm Anh Đức, NXB Thế giới; 2016; trang 147 – 148)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2.Theo tác giả, vì sao có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình?

Câu 3.Anh/chị có đồng tình với quan niệm: nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang? Vì sao? 

Câu 4.Qua đoạn trích, anh/chị hiểu thế nào là vùng an toàn? Với những người đang ở trong vùng an toàn, theo anh/chị cách nào có thể giúp họ bước ra khỏi vùng an toàn đó? Nếu ít nhất 02 cách.

II.LÀM VĂN

Câu 1.

Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) thuyết phục các bạn trẻ rằng: có những lúc cần phải thoát ra khỏi vùng an toàn do mình tự tạo ra.

Câu 2.

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, Ngữ Văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam). Từ âm thanh tiếng sáo và hình ảnh bát cháo hành (Chí Phèo – Nam Cao, Ngữ Văn 11, NXB Giáo dục Việt Nam) hãy nhận xét về vai trò của các tác nhân đối với tâm hồn con người.

Lời giải chi tiết

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1:

– Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.           

Câu 2:

– Có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình vì: họ sợ thất bại

Câu 3:

– Đồng tình với quan điểm.

– Vì:

+ Cuộc sống vốn không hề bằng phẳng mà luôn chứa đựng những khó khăn thách thức, cuộc đời mỗi người là hành trình vượt qua những thử thách đó.

+ Những rủi ro, thách thức chính là những khó khăn mà chúng ta phải trải qua để tích lũy tri thức, kinh nghiệm sẵn sàng khi cơ hội đến.

+  Không đương đầu với khó khăn thử thách, luôn cố thủ trong vùng an toàn chúng ta mãi không thể thấy cơ hội và nắm bắt được cơ hội để vươn đến thành công.

Câu 4:

– “Vùng an toàn” là: môi trường thân thuộc với mỗi con người, nơi chúng ta luôn cảm thấy tự do, thoải mái, tự tin nhất để thể hiện bản thân.

– Những cách thức giúp mọi người bước ra khỏi “vùng an toàn”:

+ Can đảm đối mặt với sự sợ hãi để tìm cách vượt qua và chiến thắng những nỗi lo lắng, sợ hãi đó.

+ Tự đặt cho mình những thử thách để cố gắng vượt qua.

+ Bắt tay vào làm những dự án nhỏ, để trải nghiệm và tích lũy tri thức cho bản thân.

II. LÀM VĂN

Câu 1:           

Giới thiệu vấn đề.

Giải thích vấn đề.

– Vùng an toàn: môi trường thân thuộc với mỗi con người, nơi chúng ta luôn cảm thấy tự do, thoải mái, tự tin nhất để thể hiện bản thân.

Bàn luận vấn đề:

– Tại sao phải bước ra khỏi vùng an toàn?

+ Thế giới liên tục biến đổi, khiến cho những điều ta đã biết trở nên lỗi thời, bởi vậy nếu không bước ra khỏi vùng an toàn để trải nghiệm, nâng cao hiểu biết của bản thân ta sẽ tụt lại phía sau.

+ Vùng an toàn khiến bạn nhàm chán, cũ kĩ bước chân ra khỏi nó là cách thức làm mới bản thân, phát hiện những khả năng ẩn kín và đem đến thành công.

– Cần làm gì để bước ra khỏi vùng an toàn?

+ Bước ra khỏi vùng an toàn bạn cần sự dũng cảm, để đối mặt với những khó khăn, thách thức ở phía trước, đối mặt với môi trường mới, đồng nghiệp mới. Bởi vậy dũng cảm trải nghiệm là điều kiện quan trọng nhất để bạn vượt ra khỏi vùng an toàn của mình.

+ Vượt qua nỗi sợ hãi thất bại, tự tin với chính mình, không bỏ cuộc trước những khó khăn, thử thách.

– Bạn sẽ được gì khi bước khỏi vùng an toàn:

+ Ra khỏi vùng an toàn sẽ đem lại cho bạn kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, sáng tạo.

+ Mở rộng mối quan hệ xã hội, tăng cường kĩ năng giao tiếp.

+ Ra khỏi vùng an toàn đem đến cho bạn những trải nghiệm mới mẻ, khám phá, phát hiện ra những năng lực mới của bản thân.

+ Cơ hội để bạn đạt đến thành công.

– Chứng minh: học sinh lấy dẫn chứng phù hợp, có phân tích ngắn gọn.

Tổng kết vấn đề: thay đổi môi trường sống, bước ra khỏi vùng an toàn sẽ mang đến những trải nghiệm tuyệt vời, tạo cơ hội thành công cho mỗi con người.

Câu 2:

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Tô Hoài, tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, nhân vật Mị

– Tô Hoài là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Trong những sáng tác của mình, ông luôn thể hiện vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta. Ông cũng là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có.

– “Vợ chồng A Phủ” được sáng tác năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc – tập truyện được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955.

– Đến với tác phẩm, người đọc thật sự ấn tượng với nhân vật Mị – nhân vật chính được khắc họa đậm nét trong khung cảnh màu xuân ở Hồng Ngài.

 

2. Thân bài

* Giới thiệu về nhân vật Mị

– Chân dung, lai lịch:

+ Nhan sắc: “trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị” -> nhan sắc rực rỡ ở tuổi cập kê.

+ Tài năng: thổi sáo, thổi lá hay đến mức có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.

+ Phẩm chất tốt đẹp: hiếu thảo, tự tin vào khả năng lao động của mình và khát khao tự do.

– Số phận bi kịch: trở thành con dâu gạt nợ

+ Nguyên nhân: Do món nợ truyền kiếp của gia đình nên bị A Sử lừa bắt về làm vợ theo hủ tục của cướp vợ của người dân tộc thiểu số.

+ Khi mới về làm dâu, Mị mang trong mình ý thức phán kháng nhưng sau đó quen dần và chịu đựng nỗi đau cả về thể xác lẫn tinh thần.

* Hình tượng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân: Mùa xuân đã làm sống dậy sức sống tiềm tàng trong Mị

– Sự tác động của ngoại cảnh

+ Khung cảnh thiên nhiên nồng nàn: cỏ gianh vàng ửng, chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá như những con bướm sặc sỡ, không khí dần ấm áp,… âm thanh bên ngoài: tiếng sáo cất lên, tiếng trẻ chơi quay cười vang,…

+ Mị nhìn khung cảnh, nghe âm thanh mà bắt đầu cảm thấy thiết tha bồi hồi, Mị bắt đầu lẩm bẩm theo lời hát gọi bạn tình,…

– Sự đối lập giữa hoàn cảnh đêm xuân và cuộc sống của Mị

+ Ngày tết, Mị lén uống rượu, “uống ực từng bát”, Mị say và sống về quá khứ, say sưa trong tiếng sáo gọi bạn tình.

+ Mị sực nhớ đến tình cảnh của mình hiện tại, nhớ đến A Sử, Mị muốn chết “nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại”.

+ Mị nhận thức sự tồn tại của bản thân “thấy phơi phới trở lại”, “Mị còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”, với khát khao tự do.

– Cuộc trỗi dậy của Mị:

+ Tinh thần phản kháng mạnh mẽ: lấy miếng mỡ để thắp sáng lên căn phòng tối, Mị vấn lại tóc, lấy cái váy hoa, nổi loạn muốn “đi chơi tết” chấm dứt sự tù đày.

+ Hiện thực không trói được trái tim Mị, khi A Sử trói, lòng Mị vẫn lửng lơ theo tiếng sáo, tiếng hát của tình yêu đến những đám chơi.

+ Lúc vùng bước đi nhưng tay chân đau không cựa được, Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa, cô chợt tỉnh trở về với hiện thực.

+ Cả đêm hôm ấy, Mị lúc mê lúc tỉnh, lúc đau đớn, lúc nồng nàn tha thiết.

=> Tâm hồn chai sạn của Mị đã sống lại, Mị luôn tiềm tàng sức sống mãnh liệt, sức sống ấy luôn âm ỉ trong lòng người con gái Tây Bắc và chỉ chờ có cơ hội để bùng lên mạnh mẽ. Dù sự nổi loạn của Mị không thể giải thoát số phận cô nhưng đây là nền tảng nhóm lên thêm ngọn lửa sức sống trong cô, để sức sống không lụi tắt hẳn, chuẩn bị cho một sự phản kháng trong tương lai: cắt dây trói cho A Phủ.

Liên hệ với chi tiết “bát cháo hành” trong truyện “Chí Phèo” – Nam Cao

– Giới thiệu tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao và chi tiết bát cháo hành.

– Ý nghĩa chi tiết “bát cháo hành”:

+ Thể hiện sự quan tâm, chăm sóc ân cần của thị Nở khi Chí Phèo ốm đau, trơ trọi.

+ Là biểu hiện của tình người hiếm hoi mà Chí Phèo được nhận, là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng. Điều đó cũng cho thấy Chí vô cùng cô đơn.

+  “Bát cháo hành” đã đánh thức tính người bị vùi lấp lâu nay ở Chí. “Bát cháo hành” gây ngạc nhiên, gây xúc động mạnh khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình, khơi dậy niềm khao khát được làm hòa với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện.

Vai trò của tác nhân đối với tâm hồn con người:

– Tác nhân thường gắn bó với một sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời nhân vật hoặc tác nhân là yếu tố quen thuộc được lặp lại trong hoàn cảnh đặc biệt.

– Tác nhân sẽ tác động mạnh mẽ lên cảm xúc, tư tưởng của nhân vật khiến nhân vật thức tỉnh hoặc nhận thức được hoàn cảnh thực tại, trỗi dậy những khao khát về hạnh phúc, khao khát sống.

– Trong truyện ngắn tác giả thường sử dụng những chi tiết hoặc hình ảnh có tính chất “tác nhân” để đặt nhân vật vào những hoàn cảnh khác nhau, khắc họa và làm nối bật tâm lý, tính cách nhân vật.

3. Tổng kết

– Khái quát lại vấn đề

Đề số 2 – Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn

Đề bài

I. ĐỌC HIỂU

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

       Bóng tối của những độc ác, tức tối và hằn học vẫn phủ ngập trong không ít đôi mắt con người. Tại sao những khoảnh khắc kỳ diệu mà chúng ta từng có và đang có lại không thể kéo dài mãi mãi và phủ ngập trên đời sống thế gian này như những tia nắng mặt trời? Tại sao chúng ta lại biến ngôi nhà thế gian của chúng ta thành một nơi máu chảy, của thù hận, của đối kháng và của những giá lạnh? […]

       Thế giới ngày nay nhiều của cải, vật chất hơn bao giờ hết. Nhưng số lượng của cải, vật chất mà con người làm ra đã không tỷ lệ thuận với hạnh phúc của đời sống mà nhân loại đang sống và đang mơ tới. Thế gian không phải là một cánh từng nguyên thủy và con người không phải là những hoang thú sống trong đó. Nhân loại không phải là những hoang thú với mục đích duy nhất là biến những kẻ yếu hơn hay những quốc gia yếu hơn thành thức ăn cho mình. Nếu chỉ như vậy, thì tiên tri về một ngày tận thế đã bắt đầu hiển lộ những hiện thực đầu tiên của nó […]

       Với lý do đó, Báo VietNamNet cùng nhiều trí thức Việt Nam và trên thế giới, cùng với con người ở mọi tầng lớp xã hội – những con người đang mơ ước và lao động cho một đời sống thanh bình và yêu thương ở nhiều nước trên thế giới chọn ngày 9 tháng 9 hàng năm là “Ngày của thế gian, ngày hòa giải và yêu thương” […]

       Chúng ta hãy cùng nhau sống một ngày như vậy. Sống như vậy không phải sống cho người khác mà sống cho chính cá nhân chúng ta. Bởi khi chúng ta thù hận một ai đó thì bóng tối nặng nề lại trùm phủ chính cõi lòng chúng ta chứ không phải là kẻ mà chúng ta thù hận. Đây là một sự thật mà hầu hết mỗi chúng ta đã trải qua.

(Trích Ngày hòa giải và yêu thương, Nguyễn Quang Thiều, dẫn theo http://nhavantphcm.com.vn ngày 9/9/2012)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên.

Câu 2.Phân tích tác dụng của phép điệp trong đoạn văn sau: Tại sao những khoảnh khắc kỳ diệu mà chúng ta từng có và đang có lại không thể kéo dài mãi mãi và phủ ngập trên đời sống thế gian này như những tia nắng mặt trời? Tại sao chúng ta lại biến ngôi nhà thế gian của chúng ta thành một nơi máu chảy, của thù hận, của đối kháng và của những giá lạnh?

Câu 3. Vì sao tác giả lại cho rằng: khi chúng ta thù hận một ai đó thì bóng tối nặng nề lại trùm phủ chính cõi lòng chúng ta chứ không phải là kẻ mà chúng ta thù hận.

Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan điểm: số lượng của cải, vật chất mà con người làm ra đã không tỷ lệ thuận với hạnh phúc của đời sống mà nhân loại đang sống và đang mơ tới? Vì sao?

II. LÀM VĂN

Câu 1.

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh của hòa giải và yêu thương.

Câu 2.

Trình bày cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

(Trích Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ Văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2008, tr.89)

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

(Trích Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử, Ngữ Văn 11, Tập 2, NXB Giáo dục, 2008, tr.39)

Lời giải chi tiết

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1:

– Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

Câu 2:

– Điệp ngữ: Tại sao

– Tác dụng:

+ Tăng sức biểu cảm cho diễn đạt.

+ Điệp ngữ kết hợp với câu hỏi tu từ đã nhấn mạnh tô đậm nỗi đau đớn của tác giả trước thực trạng thế giới đầy những đau thương mất mất.

Câu 3:

– Tác giả cho rằng: “khi chúng ta thù hận một ai đó thì bóng tối nặng nề lại trùm phủ chính cõi lòng chúng ta chứ không phải là kẻ mà chúng ta thù hận” vì:

+ Lòng thù ghét với người khác xuất phát từ bản thân mỗi người khi đối tượng không đáp ứng được yêu cầu của mình, ngăn cản hay chống đối để ta không đạt được những điều ta mong muốn. Lòng thù ghét tồn tại ở ta mà đối phương không hề biết đến, nếu luôn giữ trạng thái này tinh thần sẽ trở nên u uất, khó chịu.

+ Thù ghét còn có thể dẫn đến nhiều bệnh tật khác: đau đầu do căng thẳng, rối loạn nhịp tim.

Câu 4:

– Đồng tình với quan điểm “Số lượng của cải, vật chất mà con người làm ra đã không tỷ lệ thuận với hạnh phúc của đời sống mà nhân loại đang sống và đang mơ tới” vì: Con người quay cuồng với nhịp sống bận rộn, không có thời gian dành cho gia đình, không có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn. Hạnh phúc đôi khi xuất phát từ những điều bình dị mà con người luôn sống vội vã, gấp gáp theo nhịp sống công nghiệp và không cảm nhận được.

II. LÀM VĂN

Câu 1:

Giới thiệu vấn đề.

Giải thích vấn đề.

– Hòa giải: là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa. Hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp). Hòa giải cũng được coi là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong đó các bên cố gắng làm điều hoà những ý kiến bất đồng.

– Yêu thương: là tình cảm nồng nhiệt làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người, với vật.

=> Con người đang sống trong một thế giới đầy hỗn loạn, tranh chấp và chiến tranh xảy ra liên miên thì sự hòa giải bằng tình yêu thương là điều cần thiết để đem lại cuộc sống hòa bình, hạnh phúc.

Bàn luận vấn đề

– Ý nghĩa sự hòa giải:

+ Hòa giải có ý nghĩa lớn, nó làm cho những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn, xích mích được dập tắt họăc không vượt qua giới hạn sự nghiêm trọng, giúp cho các bên tránh được xung đột.

+ Hòa giải giúp tạo ra cuộc sống thanh bình, yên ổn để hai bên cùng gây dựng, phát triển.

+ Hòa giải giúp đôi bên được sống trong yên bình, vui vẻ và khi các đối cực được hòa giải cũng là lúc ta vươn đến gần hơn sự hạnh phúc.

+ Hòa giải, tha thứ giúp giải phóng bản thân khỏi sự ám ảnh của cái bất công xảy ra với mình, và sống một cuộc sống độc lập, không bị bóng đen của kẻ gây hại phủ lên.

+ Hòa giải giúp mỗi người có được tâm lí thoái mái, hạnh phúc.

– Phương tiện để hòa giải:

+ Để hòa giải không gì tốt hơn chính là tình yêu thương, lòng vị tha và sự bao dung của mỗi người đối với nhau.

+ Với tình yêu thương, lòng vị tha con người có thể thấu hiểu, cảm thông cho nhau, nhường nhịn, nhượng bộ nhau.

+ Tình yêu thương giúp xoa dịu những nỗi đau, những tổn thương.

⟹ Tình yêu thương, bao dung và lòng vị tha là thứ thần dược tốt nhất để cá nhân hòa giải với cá nhân, quốc gia với quốc gia hòa giải với nhau từ đó tạo nên cuộc sống yên bình, hạnh phúc.

– Chứng minh: học sinh lấy dẫn chứng phù hợp, có sự phân tích ngắn gọn.

Mở rộng vấn đề, liên hệ bản thân

– Bên cạnh những người luôn sống bằng tình yêu thương, luôn nhường nhịn, hòa giải thì vẫn có những người sống trong hận thù, ích kỉ.

– Thù hằn sẽ chỉ làm ta thêm mệt mỏi phiền não, gây ức chế ảnh hưởng tới sức khỏe và công việc.

– Liên hệ bản thân: sống bằng sự hòa giải và tình yêu thương đã mang lại cho em những điều tốt đẹp gì?

Tổng kết vấn đề: Hòa giải và tình yêu thương là hai lẽ sống đẹp đẽ trong cuộc sống hiện đại. Khi sống trong sự bao dung, chia sẻ, vị tha của chúng ta sẽ thấy yêu đời và hạnh phúc hơn, từ những việc làm nhỏ đó của mỗi người mà thế giới trở nên tốt đẹp hơn.

Câu 2:

1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Quang Dũng, tác phẩm Tây Tiến và đoạn trích.

– Giới thiệu về tác giả Hàn Mặc Tử, tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ và đoạn trích.

– Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận

2. Thân bài

2.1 Khổ thơ trích trong bài Tây Tiến – Quang Dũng

* Bốn câu thơ là bức tranh sông nước miền Tây trong chiều sương.

– Khung cảnh thiên nhiên:

+ Không gian được bao trùm bởi một màn sương giăng mắc trở nên mờ ảo, như hư, như thực. Sương chiều bảng lảng đầy thi vị, chứ không còn là “sương lấp đoàn quân mỏi” khi màn đêm buông xuống

+ Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử, chỉ có màu lau trắng trải dài tít tắp, phất phơ theo chiều gió thổi, xôn xao ẩn chứa những nỗi niềm của con người… Thiên nhiên như có linh hồn, “hồn lau” hài hòa với “hồn thơ” của những người lính đa cảm. Cũng có thể hiểu “hồn lau” là một ẩn dụ đặc sắc gợi về vẻ đẹp giản dị, gần gũi, hồn hậu của những con người miền Tây- những người lao động trên sông nước mênh mông.

– Hình ảnh con người:

+ “Dáng người trên độc mộc” phải chăng đó là dáng hình mềm mại, uyển chuyển của thiếu nữ sơn cước trên chiếc thuyền độc mộc trên dòng sông Mã, tạo nên chất thơ làm tiêu tan vẻ dữ dội của “dòng nước lũ” hung hãn

+ Như để hoà hợp với con người, những bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên trên dòng nước xiết. “Hoa đong đưa” là một hình ảnh lạ, hoa lá vô tri như được thổi hồn vào, gợi ra ánh mắt lúng liếng tình tứ của những cô gái vùng núi xinh đẹp trẻ trung.

 

+ Dường như trong khổ thơ nào của bài thơ cũng thấp thoáng bóng dáng của người đẹp như vậy:

–  Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

– Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

– Mai Châu mùa em thơm nếp xôi (đoạn 1)

–  Kìa em xiêm áo tự bao giờ

– Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm (đoạn 3)

=> Hình ảnh người đẹp thấp thoáng trong các khổ thơ đã điểm cho kí ức Tây Tiến chút lãng mạn, mơ mộng, khiến cho câu chữ trở nên mềm mại hơn và lòng người cũng nhẹ nhàng hơn…

+ Những từ có thấy, có nhớ là những lời tự hỏi lòng mình đầy bâng khuâng, lưu luyến cách xa với Tây Tiến cả về không gian và thời gian.

2.2 Khổ thơ trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử

* Khổ thơ là bức tranh cảnh sông nước, mây trời xứ Huế trong đêm trăng huyền ảo.

– Hai câu thơ đầu: Tả thực cảnh sông nước, mây trời xứ Huế.

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

– Câu 1:

+ Hai chữ “gió” đóng khung gió, hai chữ “mây” đóng khung mây; hai chữ “gió” và “mây” lại được đặt vào nhịp ngắt 4/3, kết hợp với dấu phẩy

=> Nhấn mạnh sự chia cách, chia biệt về hai hướng, hai ngả, không thể trùng phùng, tương hợp.

=> Phi lí, do với logic tự nhiên nhưng lại hợp lí so với logic tâm trạng của nhà thơ.

– Câu 2:

Dòng nước buồn thiu:  Thực tế: điệu chảy lập lờ, ngập ngừng của dòng sông Hương. Vào thơ của Hàn Mặc Tử nó được nhân hóa, không chỉ là “buồn thiu” của dòng nước mà còn phản chiếu nỗi lòng, cảm xúc thi nhân.

Hoa bắp lay:  Thực tế hoa ngô có màu giản dị, mờ nhạt, gợi sự ảm đạm. Sự lay động của nó chỉ là sự chuyển dịch nhẹ nhàng thiếu sức sống gợi man mác buồn, nhịp điệu sống lặng lẽ.

=> Cõi nhân gian ăm ắp sự sống, biêng biếc sắc màu và ấm nóng tình người trong khổ thơ đầu đã nhường chỗ cho khung cảnh vô sắc, vô hương, ảm đạm và chia lìa.

– 2 câu thơ cuối:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

– Trăng xuất hiện rất diễm lệ:

+ Dòng sông trăng.

+ Thuyền trăng.

=> Trăng là hiện thân của cái đẹp, hiện thân của thế giới trần thế, thế giới mà tác giả khao khát được chiếm lĩnh và tận hưởng.

– Câu hỏi tu từ: “Có chở trăng về kịp tối nay” thể hiện sự lo lắng về thời gian. “Tối nay” là khoảng thời gian rất gần, thời gian hiện tại. Từ “kịp” thể hiện lo lắng không biết quỹ thời gian của mình có còn kịp để tận hưởng cuộc đời trần thế không.

=> Như vậy tác giả càng yêu đời bao nhiêu, càng mong muốn chiếm lĩnh cuộc đời bao nhiêu lại càng lo lắng bấy nhiêu. Lo lắng cũng chính là dự cảm về mất mát, về lỡ làng trong hoàn cảnh riêng của thi sĩ.

2.3 Điểm tương đồng và khác biệt trong hai khổ thơ trên

– Tương đồng: Cả hai khổ thơ đều tái hiện bức tranh cảnh sông nước rất đỗi trữ tình, nên thơ.

– Khác biệt:

+ Khổ thơ trong bài thơ Tây Tiến miêu tả khung cảnh sông nước của Tây Bắc dưới con mắt và nỗi nhớ thương của một người lính. Con người hiện lên trên bức tranh với tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến.

+ Khổ thơ trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh sông nước xứ Huế được gợi lên từ tâm trạng của một người đang đầy nỗi băn khoăn, lo lắng trước hoàn cảnh riêng của mình. Đoạn thơ hàm chứ sự yêu đời nhưng khắc khoải, cay đắng.

– Giải thích sự khác biệt trên:

+ Do hoàn cảnh sáng tác của từng bài thơ.

+ Quang Dũng viết bài thơ trong thời kì chiến tranh, khi tác giả phải rời xa đơn vị cũ và nhớ về nơi mình cùng những đồng đội đóng quân.

+ Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ khi ông đang trong giai đoạn phải đối diện với bệnh tật.

– Do phong cách từng nhà thơ chi phối:

+ Quang Dũng với hồn thơ lãng mạn của một người lính.

+ Hàn Mặc Tử  với hồn thơ “điên”.

3. Tổng kết

– Khái quát lại vấn đề

Đề số 3 – Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn

Đề bài

I. ĐỌC HIỂU

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới:

MỘT LY SỮA

Có một cậu bé nghèo bán hàng rong ở các khu nhà để kiếm tiền đi học. Hôm đó, cậu lục túi chỉ còn mấy đồng tiền ít ỏi mà bụng đang rất đói. Cậu quyết định xin một bữa ăn tại một căn nhà gần đó. Cậu hốt hoảng khi thấy một cô bé dễ thương ra mở cửa. Thay vì xin ăn, cậu ta đành xin một ly nước nóng.

Cô bé nghĩ rằng cậu trông đang đói nên đem ra một ly sữa lớn.

Cậu uống từ từ, rồi hỏi: “Tôi nợ bạn bao nhiêu?”

Cô bé đáp: “Bạn không nợ tôi bao nhiêu cả. Mẹ dạy rằng chúng tôi không bao giờ nhận tiền khi làm một điều tốt.”

Cậu ta nói: “Vậy thì tôi cảm ơn bạn nhiều lắm!”

Khi Howard Kelly rời căn nhà đó, cậu ta không những cảm thấy trong người khỏe khoắn, mà còn thấy niềm tin vào con người, vào cuộc sống rất mạnh mẽ.

Sau bao năm, cô gái đó bị ốm nghiêm trọng. Các bác sĩ trong vùng đều bất lực và chuyển cô lên bệnh viện trung tâm thành phố để các chuyên gia chữa trị căn bệnh hiểm nghèo này. Tiến sĩ Howard Kelly được mời làm chuyên gia. Khi nghe tên nơi ở của bệnh nhân, một tia sáng lạ lóe lên trong mắt anh. Anh đứng bật dậy và đi đến phòng cô gái.Anh nhận ra cô gái ngay lập tức.Anh quay trở lại phòng chuyên gia và quyết tâm phải gắng hết sức để cứu được cô gái.Anh đã quan tâm đặc biệt.Sau thời gian đấu tranh lâu dài, căn bệnh của cô gái đã qua khỏi. Anh cầm tờ hóa đơn thanh toán viện phí, viết gì đó bên lề và cho chuyển lên phòng cô gái.

Cô gái lo sợ không dám mở tờ hóa đơn viện phí ra, bởi vì cô chắc chắn rằng đến suốt đời thì cô cũng khó mà thanh toán hết số tiền này. Cuối cùng cô can đảm nhìn, và chú ý đến dòng chữ bên cạnh tờ hóa đơn: “Đã thanh toán đủ bằng một ly sữa.”

Ký tên: Tiến sĩ Howard Kelly.

Mắt đẫm lệ, cô gái xúc động thốt lên: “Lạy Chúa, tình yêu thương bao la của Người đã lan rộng trong trái tim và bàn tay con người.”

(http://songdep.xitrum.net)

(1) Tiến sĩ Howard Kelly: nhà vật lý lỗi lạc, đã sáng lập khoa Ung thư, trường Đại học John Hopkins năm 1895.

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2. Theo tác giả, vì sao cậu bé Howard Kelly khi rời khỏi căn nhà “không những cảm thấy trong người khỏe khoắn, mà còn thấy niềm tin vào con người, vào cuộc sống rất mạnh mẽ.”?

Câu 3. Anh/Chị hiểu thế nào về lời nói của cô bé: “…Mẹ dạy rằng chúng tôi không bao giờ nhận tiền khi làm một điều tốt.”?

Câu 4. Nêu bài học mà anh/chị nhận được từ ý nghĩa của câu chuyện trên.

II. LÀM VĂN

Câu 1.

Từ câu chuyện Một ly sữa ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ củ mình về câu nói của Brian Tracy: Hãy luôn cho mà không ghi nhớ và luôn nhận mà không lãng quên.

Câu 2.

Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng tượng như có có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…

Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khụy xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.

Mị đứng lặng trong bóng tối.

Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc. Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

– A Phủ cho tôi đi.

A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:

– Ở đây thì chết mất.

(Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.13-14)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn trích trên.Từ đó, liên hệ tới đoạn kết truyện Chí Phèo (Nam Cao), nhận xét về kết thúc cuộc đời nhân vật Mị và Chí Phèo.

Lời giải chi tiết

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1:

– Phương thức biểu đạt chính: Tự sự

Câu 2:

– Cậu bé khi rời khỏi căn nhà “không những cảm thấy trong người khỏe khắn, mà còn thấy niềm tin vào con người, vào cuộc sống mạnh mẽ” vì: cậu bé đã nhận được tình yêu thương, sự quan tâm rất đỗi chân thành, tự nhiên từ một cô gái nhỏ mà cậu gặp khi định xin đồ ăn.

Câu 3:

– Câu nói có nghĩa là: Giúp đỡ, tốt bụng với một ai đó không phải vì để được trả ơn mà phải xuất phát từ tình yêu thương chân thành.

Câu 4:

– Bài học: khi cho đi bằng tình yêu thương chân thành, ta sẽ nhận lại được sự chân thành, tình yêu thương gấp bội

II. LÀM VĂN

Câu 1:

Giới thiệu vấn đề

Giải thích vấn đề

“Hãy luôn cho mà không ghi nhớ và luôn nhận mà không lãng quên”

– Cho đi mà không ghi nhớ: khi giúp đỡ mọi người phải luôn xuất phát từ tình yêu thương, từ trái tim trân thành, không toan tính thiệt hơn.

– Nhận lại mà không lãng quên: khi nhận được sự giúp đỡ của người khác phải ghi nhớ công ơn và báo đáp khi có cơ hội.

⟹ Câu nói đã khẳng định ý nghĩa của sự cho đi và nhận lại trong cuộc sống.

Bàn luận vấn đề

– Ý nghĩa:

+ Biết giúp đỡ người khác lúc khó khăn mà không đòi hỏi sự trả ơn là hành động nhân văn, đúng đắn.

+ Khi biết cho đi yêu thương ta sẽ nhận lại yêu thương từ những người xung quanh.

+ Cuộc sống, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn, mối quan hệ giữa con người với con người trở nên gần gũi hơn khi ta biết cho đi, nhận lại, giúp đỡ và yêu thương nhau chân thành.

– Dẫn chứng

Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân

– Phê phán sự vô cảm.

– Cho đi và nhận lại không đồng nghĩ với thương hại và đòi hỏi được đền ơn.

– Liên hệ bản thân:

+ Thấy được tầm quan trọng của yêu thương, giúp đỡ mọi người.

+ Có những hành động thiết thực giúp đỡ cha mẹ, bạn bè,…

Câu 2:

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Tô Hoài

– Giới thiệu truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

– Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận

2. Thân bài

2.1 Cảm nhận về đoạn kết truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

a) Tóm tắt truyện theo nhân vật M ị- số phận khổ đau

– Mị là một cô gái có nhan sắc, hiếu thảo và ý thức được vẻ đẹp của mình.

– Do món nợ truyền kiếp của gia đình mà cô trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra.

b) Tình huống hành động – giải thích nguyên nhân dẫn đến hành động

– Hai dòng nước mắt chảy xuống hõm má đã xám đen lại của A Phủ đánh thức tâm hồn Mị:

+ Trong cõi quên, Mị dần trở về với cõi nhớ, kí ức đau khổ sống lại, “Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được”

=> Mị thấy xót xa cho mình, rồi từ thương mình mà thương cho người trong sự đồng cảnh…

+ Trong cõi vô thức, Mị dần dần sống lại ý thức. Mị nhớ đến người đàn bà ngày trước ở nhà này cũng bị bắt trói đến chết. Rồi Mị phán đoán “cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Mị so sánh, mình là thân đàn bà, đã bị bắt về trình ma nên phải chờ đến ngày rũ xương ở đây là đương nhiên, nhưng A Phủ thì “việc gì mà phải chết thế”…

+ Mị đã tự trải nghiệm qua một tình huống tưởng tượng. A Phủ trốn thoát, bố con Pá Tra sẽ buộc tội Mị, bảo là Mị cởi trói, rồi Mị sẽ chịu trói và chịu chết thay trên cái cọc kia. Nhưng nghĩ đến kết cục ấy, Mị cũng không thấy sợ…

c) Hành động bước ngoặt – vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật

– Lòng thương người đã lấn át cả nỗi thương thân, dẫn Mị đến một quyết định táo bạo. Trong bóng tối, Mị rón rén bước lại, rút con dao cắt lúa để cắt nút dây mây…

– Nhưng khi “gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng”.

– Mị vụt chạy ra, băng đi trong bóng tối, “nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt”: “A Phủ cho tôi đi”, chỉ giải thích ngắn gọn “Ở đây thì chết mất”.  “Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi” để đi từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui…

d) Vẻ đẹp tâm hồn nhân vật A Phủ – sự can trường, mạnh mẽ, tự tin

– Sau mấy đêm bị trói đứng, không được ăn uống, khi những vòng dây mây trói chặt trên người được gỡ hết “A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy”. Anh “đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc”, để vùng thoát khỏi chốn địa ngục trần gian, để đi tìm sự sống.

– Câu nói gọn chắc của A Phủ “Đi với tôi” khi Mị xin đi theo.

– Sau đây, khi đến Phiềng Sa, A Phủ đã trở thành tiểu đội trưởng du kích, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của dân tộc để giải phóng hoàn toàn cuộc đời mình và giải phóng bản làng quê hương

2.2 Liên hệ với đoạn kết truyện ngắn Chí Phèo

a) Giới thiệu tác giả Nam Cao, truyện ngắn Chí Phèo

b) Tóm tắt truyện theo nhân vật Chí Phèo – số phận khổ đau

c) Tình huống hành động – giải thích nguyên nhân dẫn đến hành động

– Nguyên nhân sâu xa: sự thức tỉnh

– Nguyên nhân trực tiếp: Do bị Thị Nở từ chối khát vọng hạnh phúc và hoàn lương, Chí Phèo rơi vào tuyệt vọng, nỗi đau đớn biến thành phẫn uất, định uống thật say để đến đâm chết cô cháu Thị Nở nhưng do say quá mà quên đi ý định ban đầu, quen chân đến nhà Bá Kiến, đặc biệt là do đã nhận thức được kẻ thù đích thực của mình

d) Hành động bước ngoặt – Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật

* Nhận diện, kết tội và trừng trị kẻ thù

* Tự kết liễu mạng sống của chính mình

2.3 Nhận xét về điểm gặp gỡ và khác biệt của hai tác phẩm

* Nét riêng (tính khác biệt):

+ Kết thúc Vợ chồng A Phủ là sự giải thoát của Mị và A Phủ, đón chào một tương lai tươi sáng, hạnh phúc

+ Kết thúc Chí Phèo là cái chết không lối thoát

=> Lí giải: Kết thúc truyện Chí Phèo phản ánh hiện thực luẩn quẩn, bế tắc của người nông dân lao động, được thể hiện qua kết cấu đầu cuối tương ứng hàm ý tương lai sẽ chỉ là sự lặp lại của hiện tại; kết thúc truyện Vợ chồng A Phủ phản ánh xu hướng vận động tất yếu của số phận con người, ánh sáng của Đảng dẫn đường sẽ đem đến tương lai tươi sáng hơn cho số phận con người.

* Nét chung (tính thống nhất):

Các nhân vật Chí Phèo và Mị đều ở tình thế tận cùng của khổ đau, trong những tình huống đặc biệt đã thúc đẩy hành động bước ngoặt mang tính tự phát, dữ dội đầy kịch tính. Nhưng đằng sau hành động bước ngoặt bất ngờ ấy lại là sự tất yếu, là sự vỡ bờ khi tức nước, khi người nông dân bị dồn đẩy đến đường cùng không lối thoát.

3. Kết luận

– Khái quát lại vấn đề

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.