Văn mẫu kể lại truyện Vợ Nhặt của Kim Lân ở ngữ văn lớp 12

Chúng ta cùng xem bài văn mẫu kể lại truyện Vợ Nhặt của Kim Lân ở ngữ văn lớp 12 được blog tuyển chọn và chia sẻ trong bộ tài liệu học tốt ngữ văn lớp 12.

Đề bài : Kể lại truyện Vợ Nhặt của Kim Lân

Bài soạn Vợ Nhặt của Kim Lân trong ngữ văn lớp 12 chi tiết

Nội dung bài kể lại truyện Vợ Nhặt của Kim Lân

vo-nhat-cua-kim-lan

Anh cu Tràng ở xóm ngụ cư. Nhà nghèo, bố đã mất, mẹ đã già. Thân hình to lớn, vập vạp, bộ mặt thô kệch, hai con mắt nhỏ tí… Chưa có vợ, anh ta làm nghề kéo xe bò thuê.

Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư này từ lúc nào. Người chết như ngả rạ. Những đoàn người bồng bế dắt díu nhau chạy đói xanh xám như những bóng ma. Thây người nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn mùi gây của xác người. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết.

Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm ngụ cư thấy Tràng dẫn vế một người đàn bà. Người trong xóm thấy lạ, nhìn theo, bàn tán. Có người thở dài, có người thì thầm hỏi nhau: “Ai đấy nhỉ? Hay là người dưới quê bà cụ Tứ mới lên? Hay là vợ anh cu Tràng?”… Có người lo xa, cất tiếng: “Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về…”. Tràng đi trước, phớn phở, tủm tỉm cười, cặp mắt sáng lên lấp lánh. Thị cắp cái thúng đi sau, có vẻ rón rén, e thẹn. Bọn trẻ con gào lên: “Anh Tràng ơi! Chông vợ hài”. Tràng bật cười, còn thị thì có vẻ khó chịu lắm!

Hai người đi về cuối xóm, lặng lẽ rẽ xuống một con đường nhỏ, sâu thăm thẳm, luồn giữa hai bờ tre cao vút. Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày… Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng. Thị bỗng hỏi: “Sắp đến chưa. Nhà có ai không?..”. Tràng chợt giơ cái chai con vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe: “Dầu tối thắp đây này”. Thị nói: “Sang nhỉ. Hoang nó vừa vừa chứ”. Tràng nói đùa một câu “Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ; chẳng nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay…”, liền bị thị mắng yêu là “khỉ gió”, và phát đánh đét vào lưng hắn, khoặm mặt lại. Tràng thích chí ngửa cổ cười khanh khách.

Thị lẳng lặng theo Tràng bước vào cái nhà vắng teo, rúm ró trên mảnh vườn lổn nhổn những búi cỏ dại. Tràng xăm xăm thu dọn niêu bát, xống áo vứt bừa bãi trên giường, mặt đất. Thị cười nhạt nhẽo. Tràng đon đả mời ngồi. Cả hai cùng ngượng nghịu. Thị ngồi mớm ở mép giường, mặt bần thần, hai tay ôm khư khư cái thúng.

Tràng tủm tỉm cười, nhìn thị, nghĩ bụng, chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai bận ấy thế mà thành vợ thành chồng.

Tràng nhớ lại, hôm ấy vừa kéo xe thóc vào dốc tỉnh, anh hò một câu cho đỡ mệt: “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này – Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì”, thì có mấy cô gái cười như nắc nẻ, đẩy vai một cô ả ra với hắn. Thị cong cớn: “Này, nhà tôi ơi, nói thật hay khoác đấy?”. Thị ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng. Thị liếc mắt cười tít. Tràng thích lắm. Lần thứ hai, Tràng vừa trả hàng xong đang ngồi uống nước ở ngoài cổng chợ tỉnh, thì thị ở đâu sầm sầm chạy đến, sưng sỉa nói: “Điêu! Người điêu! Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống thế mà mất mặt”. Thị rách rưới quá, áo quần như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi… Một lúc sau, Tràng nhớ ra rồi. Toét miệng cười, Tràng đon đả mời: “Này hẵng ngồi xuống ăn miếng giầu đã”. Nghe thị nói có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu, Tràng vỗ vỗ vào túi khoe: “Rích bố cu”. Cặp mắt sáng lên, thị đon đả: “Ăn thật nhá!”. Thị ngồi sà xuống, cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền… Ăn xong, thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở: “Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố”. Nghe Tràng nói: “Làm đếch gì có vợ”… thế là thị theo Tràng ngay. Tràng hơi chợn, nhưng rồi hắn tặc lưỡi một cái “Chậc, kệ! “. Tràng dẫn thị vào chợ tỉnh, bỏ tiền ra mua cho thị một cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt; hai người ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về…

Tràng đang bâng khuâng nhớ lại, thì bà cụ Tứ đã về. Bà húng hắng ho. Bà loạng choạng đi vào. Tràng lật đật chạy ra đón. Nghe Tràng nói đợi u nóng cả ruột, bà nhìn vào trong nhà, ngạc nhiên thấy một người đàn bà đang đứng ngay đầu giường thằng con mình. Thị cất tiếng chào. Bà lập cập bước vào nhà khi nghe được thị cất tiếng chào lần nữa: “U đã về ạ!”.Bà băn khoăn ngồi xuống. Thị ngỡ bà đã già lão, điếc lác… Nghe Tràng nói, bà cúi đầu nín lặng. Người mẹ già nghèo khổ hiểu ra biết bao cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương… Bà nhìn thị và nghĩ: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”. Bà nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”: “ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…”. Nghe mẹ nói, Tràng thở phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Sau đó, bà cụ Tứ nói với con dâu về gia cảnh mình, khuyên hai con sống hòa thuận. Tràng đánh diêm đốt đèn lên. Giữa sự im lặng của đôi vợ chồng mới, có tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ. Tràng giục thị đi ngủ, liền bị thị giơ tay củng vào trán hắn: “Chỉ được cái thế là nhanh.Dơ! ” Tràng cười khi khì, vươn cổ thổi tắt phụt ngọn đèn.

Sáng hôm sau, bà mẹ chồng và nàng dâu dậy sớm, quét dọn thu xếp nhà cửa, từ trong nhà ra ngoài sân, ngoài ngõ trông thật quang quẻ, sạch sẽ. Tràng dậy muộn, anh cảm thấy yêu hơn ngôi nhà mình, anh nghĩ về bổn phận phải lo lắng cho vợ con. Tràng thấy thị khác hẳn, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực. Bà cụ Tứ rạng rở hẳn lên.

Bữa cơm đón nàng dâu mới chỉ có muối ăn với cháo. Cháo cám đắng chát nhưng người mẹ già bảo là chè khoán ngon đáo để. Bà cụ Tứ nói toàn chuyện vui, chuyện sau này.

Bỗng tiếng trống đốc sưu dội lên dồn dập. Đàn quạ bay vù lên thành những đám mây đen. Bà cụ Tứ khóc. Thị nói về chuyện ở mạn Thái Nguyên, Bắc Giang, người ta phá kho thóc của Nhật chia cho người đói. Tràng hỏi vội: “Việt Minh phải không? rồi anh bần thần nhớ lại cảnh những người đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp, đằng trước có lá cờ đỏ to lắm.

Nguồn : Sưu Tầm

Chia sẻ: